Bergpark Wilhelmshöhe

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Công viên núi Wilhelmshöhe
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
Bergpark Wilhelmshöhe, đầu thế kỷ 19
Quốc gia Flag of Germany.svg Đức
Tọa độ Tọa độ: 51°18′B 9°24′Đ / 51,3°B 9,4°Đ / 51.300; 9.400
Kiểu Văn hóa
Hạng mục (iii)(iv)
Tham khảo 1379
Vùng UNESCO Châu Âu
Lịch sử công nhận
Công nhận 2013 (kì thứ 37th)

Công viên núi Wilhelmshöhe là một công viên cảnh quan độc đáo. Nó năm ở Kassel, Hessen, miền Trung nước Đức. Nhà Sử học nghệ thuật Georg Dehio (1850-1932) đã mô tả công viên như "có thể nó là sự kết hợp vĩ đại nhất của kiến trúc cảnh quan Baroque so với bất cứ nơi nào "("vielleicht das Grandioseste, was irgendwo der Barock in Verbindung von Architektur und Landschaft gewagt hat. ").[1]

Công viên có diện tích 2,4 km vuông (590 mẫu Anh), khiến nó là công viên sườn núi lớn nhất châu Âu, và lớn thứ hai trên thế giới. Xây dựng "công viên núi", bắt đầu vào năm 1696 theo lệnh lãnh chúa Landgraves của Hesse-Kassel và mất khoảng 150 năm để hoàn thành công trình này.

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Đài phun nước, phía xa là Kassel

Wilhelmshöhe nằm ​​về phía tây của trung tâm thành phố Kassel, tại chân dãy núi Habichtswald. Nó còn được gọi là trạm Kassel-Wilhelmshöhe bởi nằm trên tuyến đường sắt cao tốc Hanover-Würzburg.

Công viên bao gồm một diện tích khoảng 2,4 km vuông (0.93 sq mi), kéo dài lên núi Karlsberg với tượng đài Hercules (Kassel) ở độ cao 526,2 m (1.726 ft). Ban đầu, công trình được thiết kế xây dựng theo phong cách Baroque của các khu vườn ÝPháp, với tính năng các đài phun nước chảy xuống sườn dốc, hướng về phía cung điện Schloss Wilhelmshöhe, sau đó được sắp xếp lại thành một khu vườn theo kiến trúc cảnh quan Anh.

Bergpark Wilhelmshöhe được quản lý bởi Chính quyền bang Hesse và liên kết với Mạng lưới Vườn di sản châu Âu từ năm 2009. Ngày 23 tháng 6 năm 2013, nó đã được công bố như một di sản thế giới của UNESCO, trong phiên họp tại Phnom Penh.[2]


Đức Di sản thế giới tại Đức Đức
Di sản văn hóa
Nhà thờ chính tòa Aachen | Tu viện Lorsch | Lâu đài Augustusburg và Falkenlust | Thị trấn Bamberg | Các tòa nhà của trường phái Bauhaus Weimar Dessau | Đảo bảo tàng (Berlin) | Weimar cổ điển | Nhà thờ lớn Köln | Vườn hoa Dessau-Wörlitz | Goslar với Các mỏ ở Rammelsberg | Thành phố Hansetic Lübeck | Các đài tưởng niệm Luther tại EislebenWittenberg | Tu viện Maulbronn | Công viên Muskau (chung với Ba Lan) | Đảo Reichenau | Phố cổ của Quedlinburg | Nhà thờ Wies | Regensburg | Khu phố La Mã, Nhà thờ St. Peter và Nhà thờ Đức Bà Trier | Cung điện mới (Potsdam) | Nhà thờ chính tòa Hildesheim Nhà thờ thánh Michael, Hildesheim | Nhà thờ lớn Speyer | Trung tâm lịch sử của Stralsund Wismar | Tòa đô chính Bremen Tượng Roland Bremen | Đường biên giới La Mã (với Vương quốc Liên hiệp Anh) | Đồng bằng trung lưu sông Rhein phía trên | Xưởng đúc đồ sắt Völklingen | Thành Wartburg | Dinh thự Würzburg | Mỏ và nhà máy luyện than cốc Zollverein tại Essen | Các dinh thự theo kiến trúc của chủ nghĩa tân thời Berlin | Thung lũng Elbe ở Dresden (bị gạch tên năm 2009) | Nhà máy Fagus Alfeld | Nhà ở Pile thời tiền sử xung quanh dãy núi Alps (với nhiều nước khác) | Nhà hát opera ở Bayreuth | Công viên Bergpark Wilhelmshöhe
Di sản thiên nhiên
Di chỉ hóa thạch Messel Pit | Biển Wadden (với Hà Lan) | Các khu rừng nguyên sinh trên dãy Carpath Các khu rừng sồi cổ ở Đức (với SlovakiaUkraina)

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Schuhmann, Rainer (8 tháng 4 năm 2004). “Die unendliche Baugeschichte des Kasseler Herkules”. HR-Online (bằng tiếng Đức). Hessischer Rundfunk. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2009. 
  2. ^ “Di sản thứ 19 được công nhận trong năm 2013”. Tổ chức Di sản thế giới của UNESCO. 23 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013.