Bleed It Out

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Bleed It Out"
Đĩa đơn của Linkin Park
từ album Minutes to Midnight
Phát hành 20 tháng 8 năm 2007
Thu âm 2007
Thể loại Alternative metal
Rap rock
Thời lượng 2:44
Hãng đĩa Hãng thu âm Warner Bros.
Sáng tác Mike Shinoda, Chester Bennington, Linkin Park
Sản xuất Rick Rubin, Mike Shinoda
Chứng nhận Vàng (RIAA)
Thứ tự đĩa đơn của Linkin Park
"What I've Done"
(2007)
"Bleed It Out"
(2007)
"Shadow of the Day"
(2007)
Nhạc mẫu
trợ giúpthông tin

"Bleed It Out" là đĩa đơn thứ 2[1] từ album phòng thứ 3 của ban nhạc Linkin Park: Minutes to Midnight, phát hành vào ngày 20 tháng 8 năm 2007.[2]

Vào ngày 31 tháng 7 năm 2007 video nhạc xuất hiện trên MTV-ĐứcMTV Châu Á và công chiếu tại Canada qua Đếm ngược của Muchmusic cùng trang web xem video MuchAxs. Bài hát đứng hạng 44 trên danh sách 100 bài hát hay nhất năm 2007 của Rolling Stone.[3] Bài hát này cũng đứng hạng 83 trên danh sách 100 Hit Đứng đầu năm 2007 của MTV Châu Á.[4]

Thông tin[sửa | sửa mã nguồn]

"Bleed It Out" là bài đầu tiên trong 2 bài của album có phần đọc rap của Mike Shinoda, với bài kia là "Hands Held High". Đây cũng là bài thứ 2 trong 3 bài của album có những lời lẽ tục tĩu (profanity), cùng với bài "Given Up" và "Hands Held High".

Lời bài hát là một trong những thứ khó ăn nhập với album nhất. Quyển sổ tay của album khẳng định rằng Mike Shinoda đã viết lại lời cho bài này hằng trăm lần cho đến khi ban nhạc đã vừa ý (bằng chứng là câu đầu tiên của bài: "Here we go for the hundredth time"). Đây là bài ngắn nhất từ album Minutes to Midnight, ngoài đoạn nhạc mở đầu, "Wake". Do đó trong những buổi diễn trực tiếp, có cả Projekt Revolution, Linkin Park đã kéo dài bài hát hơn khoảng 3 lần, trong lúc đó tập trung vào Rob Bourdon, tay trống của ban nhạc.

Bài được biểu diễn trực tiếp lần đầu tại Sảnh Webster ở Thành phố New York vào ngày 11 tháng 5 năm 2007.[5] Linkin Park cũng biểu diễn bài hát tại lễ trao Giải Video Nhạc MTV năm 2007, với một đoạn nhạc hip-hop mở đầu của Timbaland, cũng như nhiều hiệu ứng laser.

Bài hát được sử dụng trong giải X Games 13, nó được đặt tên sai thành "Let It Bleed", một bài hát của The Used. Vào ngày 20 tháng 8 năm 2007, bài hát được dùng trong quá trình dựng đoạn phim thể thao cho kênh ESPN, có tên Ultimate Highlight (Tâm điểm Sau cùng), trong chuyên mục SportsCenter.

Video nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Video nhạc của bài được đạo diễn bởi Joe Hahn và công chiếu vào ngày 31 tháng 7 năm 2007 trên kênh MTV Đức. Video nhạc được công chiếu ở Hoa Kỳ vào ngày 6 tháng 8 năm 2007 suốt một ngày trong "Unleashed" của MTV2. Nó cũng công chiếu cùng ngay hôm đó trên TRL. Nó đứng hạng 27 trên Đếm ngược (Countdown) của Muchmusic vào ngày 3 tháng 8. Mặc dù bài trên CD thực ra thì có tiếng bước chân theo sau đó là tiếng mở cửa và ban nhạc biểu diễn trước một ít khán giả, video thì lại khác vì đây chỉ là một cảnh quay liên tục ban nhạc đang biểu diễn trên một sân khấu nhỏ trước một trận ẩu đả hỗn loạn trong quán bar.[6] Vài cảnh trong video được ghi hình trên nền xanh (greeenscreen) trong khi ban nhạc đang biểu diễn. Video bắt đầu lúc trận ẩu đả kết thúc, và vào đoạn cuối của video hoá ra là một người nôn ra giày của người khác, vì thế đã gây ra trận đánh nhau.

Video được gọi là video Rock số 1 của Muchmusic năm 2007 trong chương trình truyền hình đặc biệt hàng năm Holiday Wrap.

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn dạng Số

  1. "Bleed It Out" - 2:44
  2. "What I've Done" (Bản phối lại) – 3:47
  3. "Given Up" (Đoạn Hát lại thứ 3) – 3:08

CD 1

  1. "Bleed It Out"
  2. "Given Up" (Đoạn Hát lại thứ 3)

CD 2 (Đĩa đơn Maxi / AU)

  1. "Bleed It Out" - 2:46
  2. "What I've Done" (Bản phối lại) - 3:50
  3. "Given Up" (Đoạn Hát lại thứ 3) - 3:08

Dạng đĩa hình 7"

  • A: "Bleed It Out"
  • B: "What I've Done" (Bản phối lại)

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát đã được xếp hạng trước khi được phát hành. Bài hát vượt ngưỡng 52 trên Hot 100 Mỹ Billboard và 54 trên Pop 100 Billboard. Mặc dù đây là bài đầu tiên của ban nhạc không đứng thứ nhất trên Bài Rock Hiện đại kể từ khi "Papercut" năm 2001 kẹt ở mức 32, nhưng nó cũng giữ được vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng trong 10 tuần liên tiếp, nhưng bài "The Pretender" của Foo Fighters đã khiến cho Bleed It Out không thể lên được No.1. Bài hát cũng đứng hạng 3 trên bảng xếp hạng Bài Rock Thịnh Hành. Ở Anh, Bleed It Out đứng hạng 29. Single này cũng đứng trong top 30 tại Úc, Canada, Ba LanIsrael. Mặc dù về tổng thể bài này kém thành công hơn đĩa đơn đầu tiên từ Minutes to Midnight, "What I've Done", nhưng Bleed It Out đã vượt qua vị trí cao nhất của "What I've Done" tại New Zealand, khi đứng hạng 7 so với hạng 9.

Bảng xếp hạng Vị trí
cao nhất
Billboard Hot 100 [7] 52
Billboard Bài Hot dạng Số[8] 29
Billboard Pop 100[9] 54
Billboard Bài Rock Hiện đại[10] 2
Billboard Bài Rock Thịnh hành[11] 3
Bảng xếp hạng Đĩa đơn ARIA[7] 24
100 Bài Hot Canada[7] 22
Bảng xếp hạng Đĩa đơn Đức 40
Bảng xếp hạng Đĩa đơn RIANZ Tân Tây Lan[7] 7
Bảng xếp hạng Đĩa đơn Ba Lan[12] 22
Bảng xếp hạng Đĩa đơn Thuỵ Điển[7] 14
Bảng xếp hạng Đĩa đơn Anh[7] 29
Bảng Xếp hạng Thế giới[7] 29
Top 20 Baltic[13] 1
50 Đĩa đơn Đứng đầu Bồ Đào Nha[14] 5

Bản clean[sửa | sửa mã nguồn]

Trong album clean, 2 lần chửi thề đã được bỏ. Trên kênh MTVVH1, lần chửi thề đầu tiên được bỏ kỹ hơn và từ "noose" được bỏ, dù trên album điều này không được bỏ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]