Hybrid Theory

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hybrid Theory
Album phòng thu của Linkin Park
Phát hành 24 tháng 10 năm 2000
9 tháng 4 năm 2002 (Ấn bản Đặc biệt)
Thu âm Tháng 3 - Tháng 6 năm 2000 tại phòng thu âm NRG ở Bắc Hollywood, California
Thời lượng 37:51
Hãng đĩa Warner Bros.
Sản xuất Don Gilmore
Đánh giá chuyên môn
Thứ tự album của Linkin Park
Hybrid Theory EP
(1999)
Hybrid Theory
(2000)
LP Underground 1.0 EP
(2001)
Đĩa đơn từ Hybrid Theory
  1. "One Step Closer"
    Phát hành: 13 tháng 2 năm 2001
  2. "Crawling"
    Phát hành: 1 tháng 5 năm 2001
  3. "Papercut"
    Phát hành: 18 tháng 6 năm 2001
  4. "In the End"
    Phát hành: 20 tháng 11 năm 2001

Hybrid Theoryalbum đầu tay của ban nhạc nu metal từ Mỹ, Linkin Park. Phát hành vào ngày 24 tháng 10 năm 2000 bởi hãng thu âm Warner Bros., Hybrid Theory nhận được nhiều sự hoan nghênh và ủng hộ, chứng tỏ được là một thành công trên toàn thế giới, vươn lên hạng 2 ở bảng xếp hạng Billboard 200 của Mỹ và xếp hạng trong 11 nước khác. Album này cũng đã giúp Linkin Park trở thành một trong những band dẫn đầu thể loại nu metal.

Hybrid Theory sản xuất với 4 đĩa đơn loại hit "One Step Closer", bài hát đoạt giải Grammy "Crawling", "Papercut" và "In The End". Album được chứng nhận hạng kim cương này đã được bán 24 triệu bản[1] trên toàn cầu đến năm 2006, khiến nó trở thành album đầu tay có doanh số bán cao nhất thế kỷ 21[cần dẫn nguồn] và là album bán chạy nhất của band.Tại giải Grammy lần thứ 44, nó được đề cử cho album Rock hay nhất.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1996, Xero được thành lập bởi Mike Shinoda, Brad Delson, người đã gọi DJ Joe Hahn, tay trống Rob Bourdon, ghita bass Dave "Phoenix" Farrell. Và sau đó, ca sĩ Mark Wakefield[2] bỏ việc vì nhóm đã thất bại trong việc giành được thành công và trở thành quản lý của Taproot. Về sau Farrell cũng rời nhóm để đi lưu diễn với Tasty Snax[3]

Trong khoảng thời gian này, Xero đi tìm hiểu thông tin nhờ phó chủ tịch của Zomba, Jeff Blue để tìm một ca sĩ mới. Blue tìm ra một kết quả chắc chắn là người Arizona bản xứ, Chester Bennington, xuất xứ từ band Grey Daze, người đã làm anh ta ấn tượng với phong cách hát đặc biệt và mạnh mẽ[4]. Cảm nghĩ về Bennington, Delson cho biết "Anh ta đúng là mảnh cuối cùng cho bài toán ghép hình [...] Chúng tôi chưa thấy bất kỳ ai có tài năng gần với anh ta cả."

Không lâu sau, ban nhạc đổi tên thành Hybrid Theory và phát hành một EP đặt theo tên mình. Dù sao, sau khi giải quyết một vấn đề bản quyền với nhà sản xuất nhạc điện tử Hybrid, họ cùng quyết định cái tên Linkin Park, được đề nghị bởi Bennington, người đã nhắc đến một công viên ở Santa Monica lúc đầu là Christine Emerson Reed Park, sau đó được đổi tên thành "Lincoln Park"[5][6]. Linkin Park đã sản xuất một bản demo gồm 9 bài và được gửi tới nhiều công ty thu âm năm 1999[7]. Lúc đầu, họ gặp phải sự từ chối từ hầu hết các công ty thu âm, và thậm chí bị nằm trong danh sách đen của một số công ty. Trong lúc đó, hãng thu âm Warner Bros. bày tỏ sự thích thú với band. Jeff Blue cũng tham gia hãng đĩa sau khi từ chức ở Zomba[4]. Nước đi này cho thấy một hợp đồng thu âm chắc chắn cho band[8].

Thu âm và Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi đối đầu với vài trở ngại ban đầu để tìm một nhà sản xuất sẵn sàng điều hành band mới đăng ký, họ tìm được Don Gilmore[4]. Hầu hết bài hát đều được làm lại từ bản thu âm demo 9 bài (xem Bài được làm lại bên dưới). Các đoạn rap trong hầu hết các bài đã trải qua sự thay đổi đáng kể, trong khi hầu hết các đoạn điệp khúc vẫn giữ nguyên[9]. Bốn tuần để thu âm lại các bài hát. Vài bài hát được thu âm lại đã gợi nhớ phần nào những bài trong Băng mẫu Xero. Một khía cạnh đáng lưu ý trong hầu hết các bài là nốt D giáng của Brad Delson[10]. Vì sự vắng mặt của tay ghita bass, Dave Farrell, band đã thuê Scott KoziolIan Hornbeck vào thế. Delson cũng chơi ghita bass trong hầu hết các bài. Dust Brothers cung cấp vài nhịp (beat) bổ sung cho bài "With You". Sau khi việc thu âm hoàn thành, Andy Wallace phối các bài với nhau.

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên bài hát Sáng tác Thời lượng
1. "Papercut"   Linkin Park 3:05
2. "One Step Closer"   Linkin Park 2:36
3. "With You"   Linkin Park, M. Simpson, J. King 3:23
4. "Points of Authority"   Linkin Park 3:20
5. "Crawling"   Linkin Park 3:29
6. "Runaway"   Linkin Park, Wakefield 3:04
7. "By Myself"   Linkin Park 3:10
8. "In the End"   Linkin Park 3:36
9. "A Place for My Head"   Linkin Park, Wakefield, Pharrell 3:09
10. "Forgotten"   Linkin Park, Wakefield, Pharrell 3:14
11. "Cure for the Itch"   Linkin Park 2:34
12. "Pushing Me Away"   Linkin Park 3:11
Tổng thời lượng:
37:52

Đĩa phụ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. "Papercut" (Trực tiếp ở Docklands Arena, London) - 3:13
  2. "Points of Authority" (Trực tiếp ở Docklands Arena, London) - 3:30
  3. "A Place for My Head" (Trực tiếp ở Docklands Arena, London) - 3:11
  4. "My December" - 4:20
  5. "High Voltage" (Remix) - 3:45

Bài được làm lại[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết các bài trong Hybrid Theory được làm lại từ bài cũ hơn hay demo mà ban nhạc thu khoảng giữa năm 1997 đến 1999. Một số bài được viết lại hoàn toàn và chỉ giữ lại một ít yếu tố ban đầu.

  • "One Step Closer" (ban đầu là "Plaster");
  • "With You" (ban đầu là "Now I See");
  • "Points of Authority" (ban đầu là "Points & Authority");
  • "Crawling" (từ bản demo khi họ còn là Hybrid Theory);
  • "Runaway" (điệp khúc rút ra từ "Stick N' Move" khi họ là Xero);
  • "By Myself" (lúc đầu tên là "SuperXero", cũng là tên đầu tiên của nhóm);
  • "In the End" (ban đầu là "The Untitled");
  • "A Place for My Head" (ban đầu là "Esaul");
  • "Forgotten" (ban đầu là "Rhinestone" khi họ là "Xero").

Thành phần tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả bài hát được viết bởi thành viên của Linkin Park, với một vài sự kết hợp bên dưới. Mark Wakefield và David Farrell đóng góp cho phiên bản trước của vài bài hát trước khi họ rời khỏi nhóm.

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng Vị trí cao nhất Chứng nhận Doanh số
Billboard 200[11] #2 Kim cương
UK Top 40 (Anh)[12] #4 3x Bạch kim
Swedish Top 60 (Thụy Điển)[13] #4
Úc 5x Bạch kim 350.000+
Italian Album Chart (Ý)[13] #2
New Zealand RIANZ[14] #1 75.000+
Áo[15] #2
Phần Lan[16] #4
Ba Lan[17] Bạch kim 50.000
Thụy Sĩ[18] #5
Mexican Top 100 Albums Bạch kim[19] 150.000+

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bài hát Vị trí cao nhất
100 Bài Hot Mỹ
[20]
Rock Hiện đại Mỹ
[20]
Rock
Thịnh hành
Mỹ

[20]
Top 40
Anh

[12]
Thuỵ Điển
[13]
New Zealand
[14]
Áo
[15]
Pháp
[21]
Hà Lan
[22]
2001 "One Step Closer" 75 5 4 24 46 38 57
2001 "Crawling" 79 5 3 16 27 37 8 45
2001 "Runaway"* 40 37
2001 "Papercut" 32 14 43 39
2002 "In the End" 2 1 3 8 3 10 6 40 5
  • Một cái gạch ngắn (–) biểu thị nước không xếp hạng đĩa đơn đó.
  • * - "Runaway" không được phát hành làm đĩa đơn, nhưng có xếp hạng ở Mỹ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1] LiveEarth - LINKIN PARK Ở LIVE EARTH, TOKYO
  2. ^ “Linkin Park was Xero at first”. AskMen.com. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2007. 
  3. ^ “Linkin Park biography”. Rockdetector.com. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2007. 
  4. ^ a ă â “Everybody loves a success story.”. The LP Association. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2007. 
  5. ^ Tyrangiel, Josh. “Linkin Park Steps Out, p.2”. Time.com. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2007. 
  6. ^ “Map of Christine Emerson Reed Park”. Santa Monica College.edu. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2007. 
  7. ^ “Complete Linkin Park discography”. The LP Association. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2007. 
  8. ^ Sculley, Alan. “Rappin' and rockin' in Linkin Park”. Madison.com. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2007. 
  9. ^ “Linkin Park demos”. The LP Association. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2007. 
  10. ^ “Linkin Park Association forums”. The LP Association. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2007. 
  11. ^ “Linkin Park album chart history”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2007. 
  12. ^ a ă “UK album chart archives”. everyhit.com. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2007. 
  13. ^ a ă â “Swedish album chart archives”. hitparad.se. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2007. 
  14. ^ a ă “New Zealand album chart archives”. charts.org.nz. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2007. 
  15. ^ a ă “Austrian album chart archives”. austriancharts.at. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2007. 
  16. ^ “Finnish album chart archives”. finnishcharts.com. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2007. 
  17. ^ “Polish album chart archives”. ZPAV.pl. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2007. 
  18. ^ “Swiss album chart archives”. hitparade.ch. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2007. 
  19. ^ “Mexican Albums Chart”. hitparade.ch. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2007. 
  20. ^ a ă â “Linkin Park single chart history”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2007. 
  21. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên france
  22. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên netherlands

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]