Cờ rủ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cờ rủ Việt Nam tại lễ quốc táng Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Họa đồ lệ treo cờ Nhật khi Nhật hoàng băng hà, dùng dải vải đen và đỉnh cột dùng quả cầu màu đen.
Cờ Hải quân Úc tung bay treo nửa cán, chừa một khoảng trên đỉnh.

Cờ rủ là lệ treo cờ, nhất là quốc kỳ ở vị trí nửa chiều cao của cột cờ thay vì kéo cờ lên đến đỉnh cột. Tục lệ này là nghi lễ áp dụng ở nhiều nước khi có quốc tang, tỏ lòng tôn kính và khi gặp đại nạn.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tục lệ treo cờ rủ bắt đầu vào thế kỷ 17[1] với khoảng trống trên đỉnh cột tượng trưng lá cờ tang hay cờ của tử thần "vô hình" treo phía trên. Lệ đó cho rằng tử thần có toàn quyền, không chừa ai nên chiếm địa vị trên hết.[2] Lệ này còn áp dụng ở Anh khi cờ rủ được treo chừa cho chiều cao của một lá cờ phía trên, bất kể chiều dài của cột cờ. Tuy nhiên ở nhiều quốc gia khác thì vị trí cờ rủ tùy thuộc vào cột hoặc cán cờ dài hay ngắn và cờ được thượng lên ở vị trí lửng, giữa đỉnh và gốc cột.

Khi thượng cờ rủ thì cờ được kéo lên tận đỉnh trước rồi mới hạ xuống ở vị trí thấp. Khi hạ cờ thì lại kéo lên tận đỉnh rồi mới hạ xuống hẳn.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Lệ treo cờ rủ ở Việt Nam có thay đổi theo thời gian. Trước năm 2012 có phần khác cách treo cờ rủ quốc tế, khi đó quy định cờ rủ khi có quốc tang vẫn treo trên đỉnh cột nhưng buộc thêm một dải băng màu đen trên cùng. Ngoài ra dải vải đen còn được dùng buộc cờ vào cột khiến cờ không bay được.[3]

Từ năm 2013 quy định cách treo như sau: "cờ rủ, có dải băng tang (có kích thước bằng 1/10 chiều rộng lá cờ, chiều dài theo chiều dài của lá cờ và chỉ treo cờ đến 2/3 chiều cao của cột cờ, dùng băng vải đen buộc không để cờ bay"[4]. Như vậy vẫn dùng dải vải đen buộc cờ nhưng vị trí cờ thì hạ xuống còn 2/3 cột thay vì trên đỉnh như trước kia. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn khá nhiều cơ quan công quyền tại Việt Nam vẫn còn lúng túng, không theo đúng những quy định này.

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Lệ dùng dải vải đen đính trên đỉnh cột cờ được dùng ở Nhật Bản từ năm 1912 khi Nhật hoàng băng hà.[5]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]