CPU đa nhân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

CPU đa nhân, CPU đa lõi (tiếng Anh: multi-core) là bộ vi xử lý trung tâm (Central Processing Unit) có nhiều đơn vị vi xử lý được tích hợp trên cùng một CPU vật lý duy nhất. Một cách khác, chúng giống như sự ghép nối nhiều CPU thông thường trước đây trở thành một CPU duy nhất.

CPU đa nhân nhân được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 2001 bởi hãng IBM với loại CPU Power4 dành riêng cho các máy chủ. Bắt đầu từ đó các hãng sản xuất CPU khác bắt đầu chú ý đến thể loại CPU đa nhân và định hướng phát triển sản phẩm của mình theo theo thể loại này. Hai nhà sản xuất CPU cho PC lớn là AMDIntel cũng có các phản ứng khác nhau: AMD đã bắt đầu có định hướng ngay cho CPU đa nhân, Intel còn dè dặt trong giai đoạn đầu, nhưng cũng bắt đầu vào cuộc.[1] Kể từ đó có một sự cạnh tranh giữa hai hãng để chiếm lĩnh thị phần CPU máy tính trên phương diện đa nhân, hiệu năng xử lý và giá bán, sự cạnh tranh này vẫn còn tồn tại cho đến thời điểm hiện nay và chưa có dấu hiệu kết thúc.

Nhu cầu về xử lý đa nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Phân loại máy tính và chức năng[sửa | sửa mã nguồn]

Không như nhiều người hiểu rằng máy tính chỉ đơn giản là những chiếc máy giống như họ đã biết và từng làm việc hàng ngày (hoặc một số rất ít người hiểu chúng như những chiếc máy tính cầm tay dùng cho các phép tính cộng trừ đơn giản dành cho học sinh), chúng đã được làm nhiều loại để phục vụ cho các nhu cầu của những người sử dụng khác nhau hoặc cho nhiều người sử dụng. Phần phân loại dưới đây sơ lược giúp bạn hiểu thêm về nghĩa rộng hơn của máy tính quen dùng:

  • Phần lớn các máy tính trên thế giới hiện nay thuộc thể loại máy tính cá nhân, một cách hiểu đơn giản là chúng dành cho một người sử dụng (cá nhân) và làm việc với chúng trong duy nhất một thời điểm. Máy tính cá nhân có thể thực hiện nhiều chương trình khác nhau ở các thời điểm khác nhau, chúng có thể được sử dụng rộng rãi bởi những người sử dụng ở văn phòng như một công cụ trợ giúp cho công việc, hoặc được sử dụng ngoài nơi làm việc (ở nhà) với mục đích chủ yếu cho giải trí, truy cập thông tin thông qua mạng Internet toàn cầu hoặc các nhu cầu riêng khác.
  • Phần ít hơn là các máy tính được thiết kế cho các kỹ sư, kỹ thuật viên, các nhà khoa học hoặc những người sử dụng văn phòng với các ứng dụng không thông thường để thực hiện các phần mềm đòi hỏi đến năng lực lớn hơn và sự ổn định, các máy này thường được gọi là máy trạm (workstation)[2].
  • Phần còn lại có số lượng ít nhất, được thiết kế riêng biệt chỉ để thực hiện một vài nhiệm vụ mà có thể không cần đến sự điều khiển của con người một cách liên tục theo thời gian: ví dụ các máy chủ để phục vụ các mục đích khác nhau trong một mạng nhỏ hoặc các mạng Internet rộng lớn.
Khác với các loại các máy tính được liệt kê ở trên là các loại máy tính chuyên dụng đặc biệt, chúng thường thiết kế riêng cho một mục đích, chỉ sử dụng một vài phần mềm chuyên dụng: ví dụ các máy tính công nghiệp hoặc các máy tính ở một dạng nhỏ hơn sử dụng hệ điều hành nhúng cho các mục đích khác.

Trừ các máy tính trong những giai đoạn phát triển đầu tiên (thường chỉ thiết kế cho một vài chức năng) hoặc một số máy tính lớn phục vụ riêng biệt cho các mục đích khoa học ngày nay, các máy tính còn lại trong thời gian gần đây (được phân loại như trên) thường có thể dùng để thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau. Người sử dụng có thể cài đặt các phần mềm khác nhau (miễn là chúng tương thích với hệ điều hành cài đặt trên máy tính đó). Các máy chủ thường được cho rằng chỉ phục vụ chuyên cho một mục đích, cung cấp một loại dịch vụ nhưng cũng có thể chuyển đổi, thiết đặt lại để phục vụ cho các nhiệm vụ khác.

Nhu cầu xử lý đa nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Phần trên mới cho thấy tất cả các máy tính có thể sử dụng cho các mục đích khác nhau, tuy nhiên trên thực tế các máy tính còn có thể dùng cho nhiều mục đích cho cùng một thời điểm.

  • Đối với máy tính cá nhân (cho văn phòng và gia đình), ví dụ một người sử dụng máy tính để soạn thảo một văn bản bằng tiếng Việt thì cũng đã có ít nhất hai phần mềm hoạt động: phần mềm soạn thảo văn bản và một phần mềm hỗ trợ bỏ dấu tiếng Việt nào đó. Trong ví dụ này nếu nói có hai phần mềm đồng thời hoạt động là chưa chính xác, bởi xét rộng ra thì đã có rất nhiều phần mềm đang hoạt động ở chế độ nền (background) trong hệ điều hành mà nhiều người sử dụng không nhận ra. Đối với các máy trạm với sự khác biệt chỉ ở các phần mềm chuyên dụng và đòi hỏi ổn định nên cũng tương tự đối với máy tính cá nhân.
  • Đối với các máy chủ thì ngay cả một số kỹ thuật viên hoặc người quản trị mạng cũng cho rằng chúng chỉ phục vụ một vài mục đích riêng biệt, tuy nhiên trên thực tế các máy chủ được kết hợp đồng thời cung cấp nhiều dịch vụ nếu như chúng đủ mạnh. Thực tế ở mức sử dụng trong một mạng nhỏ thì đã có rất nhiều máy chủ đã được thiết đặt để cung cấp nhiều dịch vụ đồng thời.

Những nội dung cần xử lý đồng thời trên thực hiện trên một máy tính sử dụng một CPU đơn nhân có thể tuỳ thuộc vào mức độ cần xử lý của các ứng dụng, số ứng dụng hoạt động cùng một thời điểm mà người sử dụng có thể không nhận thấy khi sử dụng đồng thời các ứng dụng yêu cầu xử lý thấp (chẳng hạn chỉ soạn thảo văn bản kết hợp nghe nhạc số dạng nén) trên một máy tính có một dung lượng bộ nhớ RAM không quá thấp so với yêu cầu của hệ điều hành. Tuy nhiên với các ứng dụng cần nhiều đến xử lý như thực hiện một trong các nội dung: xử lý đồ hoạ, biên tập video, chơi game, nghe nhạc và kết hợp đồng thời với các ứng dụng thông thường (duyệt web, soạn thảo...) cùng với một phần mềm diệt virus bảo vệ trực tiếp thì người sử dụng sẽ cảm nhận rõ ràng về sự chậm chạp của hệ thống. Cùng số lượng và mức độ của các ứng dụng đó, nếu được xử lý trên một máy tính có hai CPU độc lập thì hệ thống sẽ thực hiện nhanh hơn và hiếm khi xảy ra các hiện tượng chậm chạp xử lý ứng dụng, lỗi hệ thống, treo máy...

Khi mà các hệ điều hành và các ứng dụng ngày nay đã chú tâm hơn nhiều đến giao diện, sự ổn định, khả năng bảo mật...để đáp ứng mọi nhu cầu của người sử dụng máy tính thì càng đòi hỏi đến năng lực của CPU cần lớn lên. Nếu như các CPU thông dụng trong các máy tính cá nhân để bàn hiện nay có thể hoạt động trên các hệ điều hành lỗi thời như Windows 95, Windows 98 khá nhanh và tốt thì đến các hệ điều hành Windows XP hiện tại cũng trở lên chậm chạm và có thể còn chậm hơn nữa nếu sử dụng hệ điều hành Windows Vista gần đây nhất của hãng Microsoft trong thời điểm đầu năm 2008.

Luồng xử lý của CPU[sửa | sửa mã nguồn]

Các CPU đã được hệ điều hành yêu cầu xử lý đồng thời các phần mềm một cách gián đoạn và xen kẽ nhau khi người sử dụng thực hiện đồng thời nhiều phần mềm (như trong các ví dụ nêu trên). Mỗi phần mềm nếu không đòi hỏi một sự xử lý liên tục thì chúng được đáp ứng từng phần. Đa số các phần mềm sử dụng trong văn phòng một cách thông thường nhất đều đã được xử lý như vậy. Ví dụ: khi bạn đang duyệt web và cùng soạn thảo một văn bản sẽ có các khoảng thời gian mà bạn phải đọc một trang web hoặc lúc bạn đang soạn thảo văn bản thì có nghĩa là trình duyệt web lúc đó có thể không cần thiết phải xử lý bởi chúng đã tải xuống (download) đủ thông tin để phục vụ hiển thị nội dung trang web đó. Đây chỉ là một ví dụ đơn giản với những ứng dụng đơn giản để cho thấy việc các CPU có thể phân tách để xử lý các nhiệm vụ một cách đồng thời.

Nếu như người sử dụng thực thi các phần mềm ứng dụng yêu cầu đến xử lý lớn một cách đồng đều thì dễ nhận thấy rằng hệ thống có thể trở nên chậm chạp bởi mỗi ứng dụng lại chỉ được xử lý lần lượt xen kẽ nhau. Nếu như có hai bộ xử lý đồng thời trong cùng một máy tính thì cả hai ứng dụng lớn này đều có thể thực hiện được tốt hơn hay không. Hoặc như có một CPU nhưng đồng thời đáp ứng yêu cầu của hai hoặc nhiều hơn các ứng dụng trong cùng một thời điểm thì có cải thiện được tốc độ làm việc chung của máy tính hay không ?
Hãy xem một ví dụ sau: Nếu có một nhóm người chờ trước cổng một phòng khám da liễu, phòng chờ cách cửa vào một khoảng xa.

  • CPU đơn nhân, đơn luồng: giống như việc chỉ có một cửa vào, và trong đó có một bác sĩ chỉ khám lần lượt từng người với điều kiện mỗi người hết 10 phút, trong đó ưu tiên khám hết nữ giới sau đó mới đến lượt nam giới - thời gian khám hết nhóm người đó sẽ rất lâu và nam giới phải chờ lâu hơn mặc dù đến sớm.
  • CPU đơn nhân, đa luồng: giống như việc có một cửa, mỗi người khám 10 phút, khám xen kẽ cả nam giới và nữ giới. Giải quyết được việc người nào đến trước thì xong trước.
  • CPU đơn nhân, đa luồng, có công nghệ phân luồng ảo: Giống như có một cửa, ai khám xong trước thì ra trước (có thể dưới 10 phút), có hai bác sĩ phụ nhau chia theo từng công đoạn lúc này thời gian nhanh hơn nhiều cho việc khám tất cả nhóm người.
  • CPU đa nhân: Giống như phòng khám có hai cửa, trong đó có hai nhóm bác sĩ độc lập và đồng thời có thể khám hai người một thời điểm.
  • CPU có lượng cache L2 lớn hoặc có thêm cache L3: Tương đương với phòng chờ ở ngay cửa của phòng khám (người được yêu cầu vào khám đi vào nhanh hơn).

Qua ví dụ trên ta thấy rằng CPU có khả năng xử lý nhiều luồng, đa nhân, có công nghệ siêu phân luồng...thì sẽ xử lý công việc nhanh hơn. Đây là lúc mà người đọc có thể trả lời câu hỏi phía trên một cách tự tin rằng “có, nó cải thiện được tốc độ làm việc chung”.

Hình thức sử dụng nhiều CPU trên cùng một máy tính hoặc nhiều máy tính kết nối với nhau để trở thành một hệ thống máy tính lớn hơn để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc đồng thời nhiều nhiệm vụ có liên quan đến nhau đã được áp dụng từ trước khi xuất hiện các CPU hai nhân. Các máy trạm hoặc máy chủ trước đây thường được gắn nhiều hơn một CPU trên cùng một bo mạch chủ để có thể thực hiện công việc tối ưu hơn, tốc độ nhanh hơn. Đây có thể là những lý do đầu tiên để các nhà sản xuất phần cứng bắt tay vào nghiên cứu để cho ra đời các CPU đa nhân sau này.

Cấu tạo vật lý của CPU đa nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Một CPU hai nhân của Intel có hình dáng bên ngoài như một CPU đơn nhân thông thường
Hai nhân cùng được chứa trong một phần diện tích như thế này (phần bôi kem tản nhiệt)

Nếu như CPU chỉ có một cụm bộ xử lý bên trong lòng nó giống như các bộ xử lý thông thường: các bộ xử lý từ thế hệ đầu tiên cho đến thế hệ thứ 7 gần đây (như Pentium 4 đơn nhân) được gọi là các CPU chỉ có một nhân - hay gọi cách khác là một lõi (cách gọi theo thói quen, tuy nhiên từ lõi có thể gây nhầm lẫn với cấu trúc core của Intel nên bài này hạn chế dùng).

Những CPU hai nhân đầu tiên được IntelAMD sản xuất khi đặt hai nhân xử lý trong cùng một tấm đế[3]. Có nghĩa trong một CPU nhìn bề ngoài như một CPU thông thường nhưng bên trong nó chứa các phần mạch điện của cả hai CPU, điểm chung của nó là các chân cắm tiếp xúc với socket của bo mạch chủ. Nếu như chỉ nhìn hình dáng mà không nhìn vào các thông số trên vỏ CPU thì các loại CPU hai nhân này không khác so với các CPU đơn nhân sử dụng cùng loại socket.

Nhiều người có thể thắc mắc: Bên trong một CPU liệu có còn khoảng không gian trống nào không cho nhân thứ hai, thứ tư hoặc nhiều hơn nữa trong khi tấm đế của CPU vẫn giữ nguyên diện tích như vậy. Thực tế thì kích thước các nhân hiện tại của CPU đã rất nhỏ, phần đế của mỗi CPU có kích thước như hiện tại bởi chúng cần có các vị trí để có thể kết nối với các socket. Thông thường thì các ký hiệu của socket hiện nay có chứa ý nghĩa về số vị trí tiếp xúc giữa CPU và bo mạch chủ, nếu như một CPU hiện tại của Intel sử dụng socket T (LGA775) hay như AMD sử dụng socket 939 thì cũng có nghĩa rằng chúng có 775 hay 939 vị trí tiếp xúc. Với một số lượng kết nối nhiều như vậy thì các CPU nếu thiết kế tấm đế quá nhỏ sẽ không thể đáp ứng được sự kết nối giữa CPU với bo mạch chủ theo kiểu cắm để dễ dàng thay thế (nếu không muốn hàn chắc vào bo mạch chủ).

Thế hệ CPU đa nhân thông dụng đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

CPU hai nhân của Intel[sửa | sửa mã nguồn]

Hãng Intel đã giới thiệu những CPU hai nhân Pentium Extreme Edition và Pentium D đầu tiên vào tháng 4 năm 2005 phát triển trên nền Pentium 4 Prescott. Thực chất sự ra đời của những CPU hai nhân đầu tiên này của Intel đã mong muốn giới thiệu ra thị trường càng nhanh càng tốt nên các CPU hai nhân đầu tiên: Pentium D, Pentium Extreme Edition (thường gọi tắt là Pentium EE) chứa trong lòng nó hai nhân của Pentium 4Prescott[4]. Mỗi một nhân được giao tiếp với một đường khác nhau với chipset cầu bắc trên bo mạch chủ. Chính vì vậy mà các chipset của hãng Intel như i915, i925 hoặc các chipset của các hãng khác dành cho các CPU Pentium 4 thông thường không thể sử dụng cho CPU hai nhân Pentium D (hoặc Pentium Extreme Edition). Các chipset dòng i945, i955X, i975X cho dòng máy tính cá nhân để bàn và E7230 cho dòng máy trạm là những chipset đầu tiên hỗ trợ cho những CPU hai nhân này.

CPU Pentium D có các đặc tính dưới đây:

  • Tốc độ xử lý CPU từ 2,8 GHz đến 3,2 GHz
  • FSB: 800 MHz
  • Mở rộng EM64T 64-bit
  • Hỗ trợ Execute Disable Bit
  • Sản xuất trên công nghệ 90 nm (nanomet)
  • Có 2 MB L2 cache (1 MB mỗi nhân riêng biệt và độc lập)
  • Sử dụng Socket T (LGA775)

Với những CPU có số hiệu 830 và 840 còn bao gồm công nghệ mới của Intel là: “EISS” (Enhanced Intel Speed Step), chúng có thể tự động thay đổi tốc độ làm việc của CPU theo nhu cầu xử lý của hệ thống để giảm công suất tiêu thụ.

Phiên bản Pentium Extreme Edition 840 có tính năng giống như Pentium D, nhưng có một số khác biệt thêm như sau:

  • Hỗ trợ công nghệ Siêu phân luồng (HT Technology)[1]. Như vậy với mỗi nhân bên trong sẽ trở thành 2 nhân ảo (hệ điều hành sẽ nhận biết và sử dụng như có 4 nhân đồng thời).
  • Không hỗ trợ công nghệ EISS.
  • Cho phép thay đổi hệ số nhân của CPU, điều này giúp các người sử dụng hiểu biết dễ dàng ép xung với CPU mà không phải thay đổi bus hệ thống. Đây là cách lý giải tại sao Pentium EE lại không hỗ trợ công nghệ EISS bởi công nghệ này mâu thuẫn với các hành động ép xung khi chúng tự động giảm hệ số nhân để giảm tốc độ làm việc của hệ thống khi nhu cầu xử lý thấp.

Bảng thông số CPU hai nhân thế hệ đầu tiên của hãng IntelPentium DPentium Extreme Edition.

CPU Model
Number
Tốc độ Bus
Speed
Băng thông Bus Hỗ trợ HT ? Boxed
S-spec
OEM
S-spec
Stepping CPUID L2 Cache L3 Cache nhiệt độ max Công suất tiêu thụ max Socket Công nghệ sx số transistor
Pentium D 820 2,8 GHz 800 Mhz 6,4 GBps Không SL88T SL88T A0 0F44h 2 MB 64,1 °C 95W 775 90 nm 230 triệu
Pentium D 820 2,8 GHz 800 Mhz 6,4 GBps Không SL8CP B0 0F47h 2 MB 64,1 °C 95 W 775 90 nm 230 triệu
Pentium D 830 3,0 GHz 800 Mhz 6,4 GBps Không SL88S A0 0F44h 2 MB 69,8 °C 130 W 775 90 nm 230 triệu
Pentium D 830 3,0 GHz 800 Mhz 6,4 GBps Không SL8CM SL8CM B0 0F47h 2 MB 69,8 °C 130 W 775 90 nm 230 triệu
Pentium D 840 3,2 GHz 800 Mhz 6,4 GBps Không SL8CM SL8CM B0 0F47h 2 MB 69,8 °C 130 W 775 90 nm 230 triệu
Pentium D 840 3,2 GHz 800 Mhz 6,4 GBps Không SL88R A0 0F44h 2 MB 69,8 °C 130 W 775 90 nm 230 triệu
Pentium Extreme Edition 840 3,2 GHz 800 Mhz 6,4 GBps SL8FK A0 0F44h 2 MB 69,8 °C 130 W 775 90 nm 230 triệu

CPU hai nhân của AMD[sửa | sửa mã nguồn]

Những CPU hai nhân của AMD được giới thiệu sau so với các CPU hai nhân của Intel. Trước khi các CPU đa nhân của AMD xuất hiện thì dòng sản phẩm Athlon 64 của AMD đã khá thành công, phiên bản Athlon 64 FX đã được tạp chí PC World Mỹ bình chọn giải thưởng “World Class 2004” dành cho sản phẩm xuất sắc nhất trong năm 2004[5]. AMD đã bắt đầu phát triển các CPU 64 bit bắt đầu từ năm 2003 trên nền cấu trúc 32 bit-x86 và đã được sử dụng rộng rãi trên các máy chủ, máy trạmmáy tính cá nhân để bàn.

Vào tháng 5 năm 2005 những CPU Athlon 64 X2 hai nhân đầu tiên của AMD xuất hiện[6]. Althlon 64 X2 đã có hai loại theo từng mã riêng như sau:

  • Cache L2 dung lượng 1 MB (ứng với 512 KB cho mỗi nhân) ở mã: Manchester
  • Cache L2 dung lượng 2 MB (ứng với 1 MB cho mỗi nhân) ở mã: Toledo

Cùng với các đặc tính khác bao gồm:

  • Tốc độ xử lý thực tế CPU từ 2,2 GHz đến 2,4 GHz
  • Sản xuất trên công nghệ 90 nm (nanomet)
  • 1 GHz HyperTransport
  • Sử dụng Socket 939.

Bảng thông số CPU hai nhân thế hệ đầu tiên của hãng AMD là Althon 64 X2

Part Number Model
Number
CPU Speed Bus Speed
(GBps)
Stepping L2 Cache Max. Temp. Voltage Power Socket Process
ADA3800DAA5BV 3800+ 2,0 GHz 4.0 E4 1 MB 71 °C 1,35V-1,4V 89 W 939 90 nm
ADA3800DAA5CD 3800+ 2,0 GHz 4.0 E6 1 MB 71 °C 1,35V-1,4V 89 W 939 90 nm
ADA4200DAA5BV 4200+ 2,2 GHz 4.0 E4 1 MB 65 °C 1,35V-1,4V 89 W 939 90 nm
ADA4400DAA5CD 4200+ 2,2 GHz 4.0 E6 1 MB 65 °C 1,35V-1,4V 89 W 939 90 nm
ADA4400DAA6CD 4400+ 2,2 GHz 4.0 E6 2 MB 65 °C 1,35V-1,4V 110 W 939 90 nm
ADV4400DAA6CD 4400+ 2,2 GHz 4.0 E6 2 MB 71 °C 1,35V-1,4V 89 W 939 90 nm
ADA4600DAA5BV 4600+ 2,4 GHz 4.0 E4 1 MB 65 °C 1,35V-1,4V 110 W 939 90 nm
ADA4600DAA5CD 4600+ 2,4 GHz 4.0 E6 1 MB 65 °C 1,35V-1,4V 110 W 939 90 nm
ADA4800DAA6CD 4800+ 2,4 GHz 4.0 E6 2 MB 65 °C 1,35V-1,4V 110 W 939 90 nm

So sánh công nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù AMD không phải là hãng đầu tiên giới thiệu CPU hai nhân, nhưng cấu trúc của CPU hai nhân của AMD đã có nhiều tiến bộ hơn so với các CPU hai nhân ban đầu của Intel (Pentium D). Cấu tạo bên trong của AMD cho phép các nhân có thể trực tiếp liên kết với nhau mà không phải thông qua chipset cầu bắc. Để hạn chế nhược điểm này, Intel đã tăng FSB để gia tăng băng thông giữa CPU và chipset cầu bắc.

Tuy nhiên trong giai đoạn này thiết kế CPU đa nhân của AMD vẫn ưu thế hơn Intel ở các điểm sau:

  1. Khác với sự thay đổi cấu trúc của Intel trong CPU hai nhân khiến cho khi nâng cấp hệ thống cần phải thay thế bo mạch chủ do các chipset cũ không hỗ trợ CPU hai nhân mới. Hệ thống của AMD có thể tương thích với hệ thống cũ, người sử dụng có thể cần nâng cấp BIOS để có thể tương thích với CPU hai nhân mới. Socket 939 cho Athlon 64Socket 940 cho Opteron vẫn giữ nguyên cho các CPU AMD hai nhân, cùng với các chipset cũ vẫn hỗ trợ bởi sự giao tiếp với CPU không trở thành hai dòng riêng biệt cho mỗi nhân. Đây là ưu điểm thứ nhất của CPU hai nhân AMD thế hệ đầu với Intel.
  2. Khi thiết kế các CPU dòng Athlon 64/Opteron AMD đã có một sự chuẩn bị sẵn cho các thiết kế đa nhân theo định hướng ban đầu của AMD, nên khi các dòng CPU đa nhân ra đời chúng hoàn toàn thích ứng với các tính toán về nhiệt độ của CPU. Sự tác động về nhiệt độ khi tăng thêm một nhân đã ảnh hưởng không nhiều. Ví dụ đa số các CPU hai nhân Athlon 64 X2 của AMD chạy với tần số 2,2 GHz tiêu thụ công suất 89 W cũng bằng với với Athlon 64 đơn nhân hoạt động ở tần số 2,4 GHz. So sánh giữa một CPU hai nhân nóng nhất của AMD khi hoạt động ở tốc độ 2,2 đến 2,4 GHz tiêu thụ công suất 110 W với một CPU hai nhân của Intel như Pentium Extreme Edition tiêu thụ công suất 130 W sẽ thấy một ưu điểm thứ hai của CPU hai nhân hãng AMD so với Intel (xem các bảng trên).
  3. Mặc dù tốc độ xử lý thực của các CPU hai nhân AMD thường thấp hơn CPU Intel, tuy nhiên một số kết quả kiểm tra, đánh giá hiệu năng bằng các phần mềm chuyên dụng (phần mềm benchmark) cho thấy hiệu năng của các CPU hai nhân hãng AMD cao hơn hiệu năng các CPU hai nhân của Intel ở những phiên bản đầu tiên[6]. Nhiều overclocker và người dùng thông thường từng sử dụng hai loại CPU của các hãng này cũng có nhận xét như vậy.

Các thế hệ kế tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Vi cấu trúc core cho phép cả hai nhân sử dụng chung cache L2

Các loại CPU đa nhân nêu trên chỉ ở giai đoạn đầu tiên phát triển của hai hãng chiếm thị phần lớn trên thị trường CPU cho PC. Hiện tại ở thời điểm viết bài thì Intel đã ra đời dòng CPU Core Duo, và Core 2 Duo sử dụng vi kiến trúc core[4] với nhiều ưu thế hơn hẳn so với dòng CPU hai nhân của hãng AMD. Không chỉ dừng lại ở hai nhân, hai hãng sản xuất này đang tiếp tục cho ra đời các loại CPU nhiều nhân hơn với các công nghệ mới[7][8]

Core Duo và Core 2 Duo của Intel[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Core 2 Duo

Core Duo là công nghệ tiếp theo của các CPU hai nhân đầu tiên (Pentium D, Pentium EE) của Intel sử dụng vi cấu trúc core[4] mang lại nhiều cải tiến hơn. CPU Core Duo được sản xuất không được bao lâu thì Intel đã chuyển sang sản xuất dòng Core 2 Duo với thêm các cải tiến mới mà được đánh giá là một bước ngoặt trong ngành chế tạo bộ vi xử lý[9][10]

Vi cấu trúc core có các cải tiến sau:

  • Mở rộng thực thi động (Wide Dynamic Execution): Đã được sử dụng ở các CPU thế hệ thứ 6 (Pentium Pro, Pentium II, Pentium III...) được cải tiến giúp tiên đoán nhanh và sâu, chính xác hơn.
  • Quản lý điện năng thông minh (Intelligent Power Capability) cho phép tắt các hệ thống con trong CPU khi không sử dụng đến để tiết kiệm năng lượng, tuy nhiên chúng có thể ngay lập tức được kích hoạt để hoạt động trở lại khi có các yêu cầu về xử lý lớn và cần thiết đến chúng.
  • Mở rộng bộ nhớ đệm thông minh tiên tiến (Advanced Smart Cache) là một cải tiến đáng kể trong vi cấu trúc core, thay vì mỗi nhân sử dụng một cache riêng biệt trong cấu trúc của Pentium D thì nay Intel cải tiến để cả hai nhân đều có thể dụng chung cache L2 (xem hình). Các thế hệ CPU hai nhân đầu tiên của Intel sử dụng mỗi nhân một cache L2 riêng biệt, giữa các nhân và các cache không có một kết nối nào với nhau nên phải thông qua chipset cầu bắc, sự cải tiến mới giúp cho hiệu năng xử lý tăng lên do chúng có thể sử dụng chung chiếm nhiều hơn đối với các nhân phải thực thi xử lý nhiều hơn.
  • Truy xuất bộ nhớ thông minh (Smart Memory Access)
  • Tăng tốc phương tiện số tiên tiến (Advanced Digital Media Boost) giúp tăng tốc thực thi tập lệnh SEE (Streaming SIMD Extension), cho phép hỗ trợ các phép toán 128 bit, tức là gấp đôi so với các CPU cũ cùng hãng.

Ngay sau khi ra đời thì Core 2 Duo của Intel đã đánh bại đối thủ cạnh tranh truyền thống của mình là AMD. Cùng với lộ trình giảm giá các loại sản phẩm Pentium D, Core Duo, Intel đã lấy lại uy tín và giành lại thị phần của mình sau loạt sản phẩm CPU hai nhân thế hệ đầu yếu thế hơn so với các CPU hai nhân Althon 64 X2 của AMD[9]. Cho đến đầu năm 2008, AMD vẫn chưa có các bước cải tiến đáng kể nào để vượt lên so với Intel như thời kỳ CPU đa nhân đầu tiên dòng x86 xuất hiện.

Bảng dưới đây cho thấy thông số một số CPU đa nhân Core 2 Duo của hãng Intel dành riêng cho các máy tính cá nhân để bàn (cập nhật đến đầu năm 2008).

sSpec# CPU Speed Processor # PCG Bus Speed Mfg Tech Stepping Cache Size Package Type
SLAPK 3,16 GHz E8500 06 1333 MHz 45 nm C0 6 MB LGA775
SLAPL 3 GHz E8400 06 1333 MHz 45 nm C0 6 MB LGA775
SLA9U 3 GHz E6850 06 1333 MHz 65 nm G0 4 MB LGA775
SL9ZF 2,66 GHz E6700 06 1066 MHz 65 nm B2 4 MB LGA775
SL9S7 2,66 GHz E6700 06 1066 MHz 65 nm B2 4 MB LGA775
SLA9V 2,66 GHz E6750 06 1333 MHz 65 nm G0 4 MB LGA775
SLAPP 2,66 GHz E8200 06 1333 MHz 45 nm C0 6 MB LGA775
SLA94 2,40 GHz E4600 06 800 MHz 65 nm M0 2 MB LGA775
SL9ZL 2,40 GHz E6600 06 1066 MHz 65 nm B2 4 MB LGA775
SL9S8 2,40 GHz E6600 06 1066 MHz 65 nm B2 4 MB LGA775
SLAA5 2,33 GHz E6540 06 1333 MHz 65 nm G0 4 MB LGA775
SLA9X 2,33 GHz E6550 06 1333 MHz 65 nm G0 4 MB LGA775
SLA95 2,20 GHz E4500 06 800 MHz 65 nm M0 2 MB LGA775
SL9S9 2,13 GHz E6400 06 1066 MHz 65 nm B2 2 MB LGA775
SL9T9 2,13 GHz E6400 06 1066 MHz 65 nm L2 2 MB LGA775
SLA4T 2,13 GHz E6420 06 1066 MHz 65 nm B2 4 MB LGA775
SLA3F 2 GHz E4400 06 800 MHz 65 nm L2 2 MB LGA775
SLA98 2 GHz E4400 06 800 MHz 65 nm M0 2 MB LGA775
SL9SA 1,86 GHz E6300 06 1066 MHz 65 nm B2 2 MB LGA775
SL9TA 1,86 GHz E6300 06 1066 MHz 65 nm L2 2 MB LGA775
SLA4U 1,86 GHz E6320 06 1066 MHz 65 nm B2 4 MB LGA775
SL9TB 1,80 GHz E4300 06 800 MHz 65 nm L2 2 MB LGA775

Athlon 64 X2 của AMD[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Athlon 64 X2

AMD cũng đưa ra các chiến lược của mình để cạnh tranh với Intel trên cả hai phương diện, công nghệ và giá thành CPU. Trước khi cho ra dòng Phenom vào tháng 12 năm 2007, tháng 9 năm 2007 AMD đã tung ra thị trường sản phẩm CPU Black Edition như một bước đệm. CPU Black Edition bao gồm hai phiên bản Athlon 64 X2 6400+ sản xuất trên công nghệ 90 nm và Athlon 64 X2 5000+ trên công nghệ 65 nm.
Với công nghệ 65 nm, Althon 64 X2 5000+ có một số thay đổi:

  • Hoạt động với xung nhịp 2,6 GHz.
  • 256 KB cache L1, 1 MB cache L2 chia đều cho hai nhân.
  • Cho phép thay đổi hệ số nhân.

Thiết kế Athlon 64 X2 5000+ thay đổi cho phép người sử dụng dễ dàng ép xung chúng, theo AMD thì mức tiêu thụ công suất của CPU này chỉ đến 75 W khi ép xung ở 3,1 Ghz và 85 W khi ép xung ở 3,4 Ghz[11]. Trên thực tế thì nhóm Test Lab của tạp chí PC World Vietnam thử nghiệm ép xung với CPU này thì có thể ép xung ổn định ở mức 3,1 Ghz (tăng 16% so với thiết kế) ở điện áp 1,3 V[12].

CPU ba nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Có thể có CPU ba nhân hay không ? Thực tế ngoài CPU đơn nhân các hãng thường sản xuất loại đa nhân với số nhân là số chẵn, điều này dường như logic hơn khi mà thiết đặt các nhân có tính chất đối xứng ở một tấm đế hình vuông. Trên thực tế AMD đã có ý định thiết kế một CPU có ba nhân để tung ra thị trường vào đầu năm 2008 nhằm cạnh tranh với Intel khi giúp người sử dụng có nhiều lựa chọn hơn[13]. Điều thú vị là công bố này của AMD trước đúng một ngày trước diễn đàn những nhà phát triển Intel.

CPU ba nhân đầu tiên trên thế giới này có mã hiệu Toliman, chúng không phải là một thiết kế mới ba nhân trên một đế, mà là một CPU bốn nhân đã được cắt bớt đi một nhân. Nó sẽ tích hợp một điều khiển DDR2, giao diện Hypertransport 3.0, mỗi nhân sử dụng một cache L2 riêng biệt với 512 KB dung lượng. CPU cache L3 với dung lượng 2 MB.

Cho đến thời điểm cuối năm 2007 thì AMD vẫn chưa công bố về xung nhịp, điện năng, giá cả...của CPU này.

CPU bốn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Thông số các CPU Intel® Xeon®
Cập nhật đến tháng 2 năm 2008
Số
hiệu
CPU
Cache Clock
Speed
FSB ST Công
suất
Số
nhân
L2 L3 2 4
Intel® Xeon® loạt 7000 - Dành cho máy chủ
Công nghệ 65 nm
X7350 8 MB - 2,93 GHz 1066 MHz MP 130 W X
L7345 8 MB - 1,86 GHz 1066 MHz MP 50 W X
E7340 8 MB - 2,40 GHz 1066 MHz MP 80 W X
E7330 6 MB - 2,40 GHz 1066 MHz MP 80 W X
E7320 4 MB - 2,13 GHz 1066 MHz MP 80 W X
E7310 4 MB - 1,60 GHz 1066 MHz MP 80 W X
E7220 8 MB - 2,93 GHz 1066 MHz MP 80 W X
E7210 8 MB - 2,40 GHz 1066 MHz MP 80 W X
7150N 8 MB 16 MB 3,50 GHz 667 MHz MP 150 W X
7140M 2x1 MB 16 MB 3,40 GHz 800 MHz MP 150 W X
7140N 2x1 MB 16 MB 3,33 GHz 667 MHz MP 150 W X
7130M 2x1 MB 8 MB 3,20 GHz 800 MHz MP 150 W X
7130N 2x1 MB 8 MB 3,16 GHz 667 MHz MP 150 W X
7120M 2x1 MB 4 MB 3 GHz 800 MHz MP 95 W X
7120N 2x1 MB 4 MB 3 GHz 667 MHz MP 95 W X
7110M 2x1 MB 4 MB 2,60 GHz 800 MHz MP 95 W X
7110N 2x1 MB 4 MB 2,50 GHz 667 MHz MP 95 W X
Công nghệ 90 nm
7041 2x2 MB - 3 GHz 800 MHz MP 165 W X
7040 2x2 MB - 3 GHz 667 MHz MP 165 W X
7030 2x1 MB - 2,80 GHz 800 MHz MP 165 W X
7020 2x1 MB - 2,66 GHz 667 MHz MP 165 W X
Intel® Xeon® Loạt 5000. Dành cho máy trạm
Công nghệ 45 nm
X5482 12MB - 3,20 GHz 1600 MHz DP 150 W X
X5472 12MB - 3,00 GHz 1600 MHz DP 120 W X
X5460 12MB - 3,16 GHz 1333 MHz DP 120 W X
X5450 12MB - 3,00 GHz 1333 MHz DP 120 W X
E5472 12MB - 3,00 GHz 1600 MHz DP 80 W X
E5462 12MB - 2,80 GHz 1600 MHz DP 80 W X
E5450 12MB - 3,00 GHz 1333 MHz DP 80 W X
E5440 12MB - 2,83 GHz 1333 MHz DP 80 W X
E5430 12MB - 2,66 GHz 1333 MHz DP 80 W X
E5420 12MB - 2,50 GHz 1333 MHz DP 80 W X
E5410 12MB - 2,33 GHz 1333 MHz DP 80 W X
E5405 12MB - 2,00 GHz 1333 MHz DP 80 W X
X5272 6MB - 3,40 GHz 1600 MHz DP 80 W X
X5260 6MB - 3,33 GHz 1333 MHz DP 80 W X
E5205 6MB - 1,86 GHz 1066 MHz DP 65 W X
Công nghệ 65 nm
X5365 8MB - 3 GHz 1333 MHz DP 120 W X
X5355 8MB - 2,66 GHz 1333 MHz DP 120 W X
L5335 8MB - 2 GHz 1333 MHz DP 50 W X
L5320 8MB - 1,86 GHz 1066 MHz DP 50 W X
L5310 8MB - 1,60 GHz 1066 MHz DP 50 W X
E5345 8MB - 2,33 GHz 1333 MHz DP 80 W X
E5335 8MB - 2 GHz 1333 MHz DP 80 W X
E5320 8MB - 1,86 GHz 1066 MHz DP 80 W X
E5310 8MB - 1,60 GHz 1066 MHz DP 80 W X
5160 4MB - 3 GHz 1333 MHz DP 80 W X
5150 4MB - 2,667 GHz 1333 MHz DP 65 W X
5148 4MB - 2,333 GHz 1333 MHz DP 40 W X
5140 4MB - 2,333 GHz 1333 MHz DP 65 W X
5130 4MB - 2 GHz 1333 MHz DP 65 W X
5120 4MB - 1,866 GHz 1066 MHz DP 65 W X
5110 4MB - 1,60 GHz 1066 MHz DP 65 W X
5080 4MB - 3,73 GHz 1066 MHz DP 130 W X
5063 4MB - 3,20 GHz 1066 MHz DP 95 W X
5060 4MB - 3,20 GHz 1066 MHz DP 130 W X
5050 4MB - 3 GHz 667 MHz DP 95 W X
5030 4MB - 2,67 GHz 667 MHz DP 95 W X
Intel® Xeon® Loạt 3000
Công nghệ 45 nm
X3360 12 MB - 2,83 GHz 1333 MHz UP 95 W X
X3350 12 MB - 2,66 GHz 1333 MHz UP 95 W X
X3320 6 MB - 2,50 GHz 1333 MHz UP 95 W X
E3110 6 MB - 3,00 GHz 1333 MHz UP 65 W X
Công nghệ 65 nm
X3230 8 MB - 2,66 GHz 1066 MHz UP 95 W X
X3220 8 MB - 2,40 GHz 1066 MHz UP 95 W X
X3210 8 MB - 2,13 GHz 1066 MHz UP 95 W X
3085 4 MB - 3,00 GHz 1333 MHz UP 65 W X
3075 4 MB - 2,66 GHz 1333 MHz UP 65 W X
3070 4 MB - 2,66 GHz 1066 MHz UP 65 W X
3065 4 MB - 2,33 GHz 1333 MHz UP 65 W X
3060 4 MB - 2,40 GHz 1066 MHz UP 65 W X
3050 2 MB - 2,13 GHz 1066 MHz UP 65 W X
3040 2 MB - 1,86 GHz 1066 MHz UP 65 W X
Nguồn tham khảo:
All Intel® Xeon® processors 7000 sequence feature[14]
All Intel® Xeon® processors 5000 sequence feature[15]
All Intel® Xeon® processors 3000 sequence feature[16]

Với sự phát triển rất nhanh của công nghệ, chỉ một thời gian ngắn, các hãng sản xuất CPU đã cho ra đời loại bốn nhân dành cho cả dòng máy tính cá nhân để bàn và các máy trạm, máy chủ[17][18]. Tuy hiện nay các phần mềm hỗ trợ chưa nhiều, đa phần người sử dụng còn chưa nâng cấp lên loại CPU hai nhân thì các hãng đã bắt đầu giảm giá thành sản phẩm để cạnh tranh và hấp dẫn người sử dụng[19]

Với sự ra đời của 6 bộ vi xử lý bốn nhân Quad-Core Xeon dòng 7300, cho đến thời điểm quý IV năm 2007, Intel đã hoàn chỉnh kế hoạch chuyển các CPU của mình sang vi kiến trúc core chỉ sau chưa đầy 15 tháng xuất hiện.[20] Hiện nay các nhà máy vệ tinh sản xuất CPU của Intel sẽ không còn sản xuất các loại CPU thế hệ cũ (Pentium D, Pentium EE), do vậy các sản phẩm này hoàn toàn chỉ còn lại dưới dạng tồn kho. Những CPU bốn nhân đầu tiên của Intel lại được ghép nối hai CPU hai nhân thành một CPU bốn nhân và AMD lại vẫn phát triển theo hướng bốn nhân độc lập.

Trong cuộc cạnh tranh giữa hai hãng sản xuất CPU cho máy tính cá nhân giữa hai hãng sản xuất hàng đầu IntelAMD thì cho đến nay Intel đang tạm dẫn trước, bỏ rơi đối thủ AMD sau khi ứng dụng vi kiến trúc core và các loại CPU sau đó - đặc biệt là phát triển đến các dòng CPU bốn nhân[21]. Kết quả so sánh giữa các CPU của hai hãng trên phần mềm benchmark bằng PCMark 05 so sánh bốn loại CPU bốn nhân của cả hai hãng cho thấy với cùng cấp độ thì các cặp CPU của Intel có điểm số cao hơn so với cặp CPU của AMD[22]. Các kết quả thử nghiệm mới nhất trong thời điểm hiện tại (đầu năm 2008) cũng chưa cho thấy AMD có sự bứt phá như đã từng thành công với các loại CPU hai nhân thế hệ đầu tiên[23][24].

Cuối tháng 12 năm 2007, AMD giới thiệu nền tảng Spider[25] bao gồm: bộ xử lý bốn nhân AMD Phenom bộ xử lý đồ họa dòng ATI Radeon HD 3800 với hỗ trợ Microsoft DirectX 10.1, bộ chipset AMD 7-series và phần mềm AMD OverDriver. Nền tảng mới này của AMD được cho là hỗ trợ cho việc trải nghiệm hình ảnh ở mức tuyệt đối[26]. Nền tảng dựa trên tổng hợp các sản phẩm của cùng một hãng này có thể được coi là một hành động đáp trả cho nền tảng Centrino[27][28][29] cho máy tính xách tay của Intel mà trước đây AMD không thể nào đạt tiêu chuẩn (và đó cũng là một trong các lý do để AMD quyết định mua lại ATI).

Thông số các CPU bốn nhân của AMD

Cho đến cuối năm 2007, AMD đã đưa ra thị trường hai CPU bốn nhân dòng Phenom có số hiệu 9500 và 9600. Hai CPU này chỉ khác nhau ở tần số làm việc (tương ứng với 2,2 Ghz và 2,3 Ghz), còn lại các thông số như sau:

Công nghệ AMD64
Simultaneous 32- & 64-bit computing
L1 Cache (Instruction + Data) mỗi nhân 128 KB (64 KB + 64 KB)
L2 Cache (512KB mỗi nhân) 2 MB
L3 Cache 2 MB
Công nghệ HyperTransport Công nghệ HyperTransport tới 3600MT/s full duplex,
hoặc tới 14.4GB/sbăng thông I/O
Integrated DDR2 Memory Controller
Memory Controller Width 128-bit
Hỗ trợ loại RAM PC2-8500(DDR2-1066)
PC2 6400(DDR2-800), PC2 5300(DDR2-667),
PC2 4200(DDR2-533),
và PC2 3200(DDR2-400) unbuffered memory
Băng thông bộ nhớ tới 12.8 GB/s (bộ nhớ kênh đôi)
Total Processor-to-system Bandwidth
(HyperTransport plus memory bandwidth)
tới 27.2 GB/s
Công nghệ sản xuất 65 nm, SOI (silicon-on-insulator) Technology
Đế cắm socket AM2+ (940-pin) organic micro PGA
Công suất thiết kế 95 W
Kích thước đế CPU 285 mm2
Số transistor 450 triệu
Thông số các CPU bốn nhân của Intel

Loại dành cho máy tính cá nhân để bàn

sSpec# Clock
Speed
Số hiệu
CPU
PCG FSB Mfg Tech Stepping Cache
Size
Package
Type
SLAWQ 2.83 GHz Q9550 05A 1333 MHz 45 nm C0 12 MB LGA775
SLACQ 2.66 GHz Q6700 05A 1066 MHz 65 nm G0 8 MB LGA775
SLAWR 2.66 GHz Q9450 05A 1333 MHz 45 nm C0 12 MB LGA775
SLAWE 2.50 GHz Q9300 05A 1333 MHz 45 nm C0 6 MB LGA775
SL9UM 2.40 GHz Q6600 05B 1066 MHz 65 nm B3 8 MB LGA775
SLACR 2.40 GHz Q6600 05A 1066 MHz 65 nm G0 8 MB LGA775

Loại CPU dành cho máy trạm và máy chủ, xem bảng bên phải

CPU tám nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Khi mà hai hãng AMD và Intel đang cạnh tranh nhau cung cấp các CPU cho nhiều loại máy tính thông dụng thì các hãng khác như Sun Microsystems cũng tập trung vào các sản phẩm CPU đa nhân dành cho thị trường máy chủ và thiết bị viễn thông (router, switch và các thiết bị hạ tầng viễn thông khác). Sun giới thiệu CPU UltraSPARC T2 tên mã là Niagara II với 8 nhân mà theo như quảng cáo của họ rằng bộ xử lý này có khả năng dành cho những “hệ thống máy chủ trên một chip”.[30] Sun Microsystems trả lời những khách hàng phàn nàn về sự yếu kém trong thiết kế các CPU bằng một sản phẩm có thể đồng thời xử lý 64 tập lệnh trên 8 nhân với mỗi nhân có thể xử lý tám tập lệnh đồng thời, tức là cải tiến gấp đôi số tập lệnh so với thế hệ Niagara I[31] Tuy nhiên ở các thử nghiệm cho thấy rằng CPU này không phải là mạnh nhất so với các CPU hàng đầu hiện nay ngay ở thời điểm quý III năm 2007.[32]

Hai hãng AMD và Intel chưa ra mắt các CPU 8 nhân của mình cho đến thời điểm đầu năm 2008, nhưng nhiều người vẫn cho rằng hai hãng này đang tích cực chuẩn bị cho nó. Một số nhà phân tích nhận định rằng rất có thể AMD sẽ chạm đích trong cuộc đua thời điểm giới thiệu bộ xử lý tám nhân so với Intel trong quá trình cạnh tranh giữa hai hãng[33]

...và nhiều nhân hơn nữa[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây thì chỉ có các “siêu máy tính” hoặc các hệ thống máy tính lớn sử dụng nhiều CPU mới có khả năng xử lý mạnh mẽ với hàng nghìn tỷ phép tính mỗi giây. Người sử dụng máy tính cá nhân để bàn hiện nay có thể hoàn toàn chạm tới các tốc độ tính toán đó khi mà Intel đưa ra các CPU đa nhân trong tương lai. Hiện tại Intel đang thử nghiệm chế tạo các CPU có chứa đến 80 nhân nhưng chưa có kế hoạch tung chúng ra thị trường[34]

Các chuyên gia nghiên cứu tại Đại học Tokyo (Nhật Bản) còn công bố một CPU chứa đến 512 nhân có xung nhịp 500 Mhz với kích thước 17x17 mm với 300 triệu transistor, tiêu thụ công suất chỉ 60 W để phục vụ dự phòng cho các máy chủ[35]. Những điều này cho thấy rằng công nghệ CPU đa nhân trong tương lai sẽ rất có triển vọng.

Trở ngại lớn nhất của sự phát triển CPU đa nhân là các kích thước vật lý của các linh kiện chứa trong lòng nó. Kích thước transistor, tiết diện dây dẫn nội bộ là những thành phần cơ bản gây cản trở sự phát triển của các CPU đa nhân, mỗi hãng đều có các công nghệ sản xuất riêng để làm nhỏ kích thước của chúng. Những công nghệ mới gần đây đã có thể giúp tích hợp trên 2 tỷ transistor trong cùng một CPU.[36] Công nghệ chế tạo CPU đã tiến đến mức 32 nm (được công bố bởi Intel[37]) và còn tiếp tục nhỏ hơn nữa (tuy hiện nay nhiều hãng sản xuất vẫn mới áp dụng rộng rãi công nghệ 65 nm và chỉ một số CPU sản xuất trên công nghệ 45 nm).

Đa nhân và ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Bản quyền phần mềm[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi xuất hiện các CPU đa nhân thì có nhiều người sử dụng lo ngại rằng khi sử dụng một máy tính đa nhân thì các hãng viết hệ điều hành sẽ tăng giá bán các phiên bản hệ điều hành hoặc các phần mềm[38]. Những động thái lo ngại này không phải thiếu căn cứ bởi đã có những tiền lệ tương tự. Các phiên bản hệ điều hành cho các máy chủ thường được phân biệt sử dụng cho một hoặc nhiều hơn một CPU mà tuỳ theo số lượng CPU mà có giá bán khác nhau.

Tuy nhiên, hãng phần mềm Microsoft đã không yêu cầu người sử dụng trả thêm chi phí cho các hệ điều hành Windows các phiên bản được sử dụng các bộ xử lý đa nhân cho đến đầu năm 2008[39]. Cách tính số lượng CPU của hãng này vẫn tính trên số lượng CPU vật lý, như vậy cho dù một máy chủ sử dụng duy nhất một CPU có bốn nhân, tám nhân hay nhiều hơn nữa thì cũng chỉ phải trả chi phí cho hệ điều hành bằng mức như với một CPU đơn nhân.

Mặc dù các bộ xử lý đa nhân đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng đến nay chưa thấy các phần mềm thông dụng (phục vụ đa số người sử dụng hoặc chiếm thị phần tương đối) có sự chênh lệch nhau về giá bán giữa các phiên bản sử dụng cho CPU đơn nhân và đa nhân. Tuy nhiên, trong những thời gian kế tiếp có thể một số hãng phần mềm sẽ liên kết với nhau cùng tăng giá các phần mềm sử dụng trên những hệ thống máy tính sử dụng CPU đa nhân trong vòng một vài năm tới[40]. Có thể điều này sẽ trở thành tất yếu khi mà công nghệ CPU đa nhân phát triển đến mỗi một CPU vật lý chứa rất nhiều nhân trong nó, và các phần mềm được thiết kế tối ưu cho chúng.

Tương thích với phần cứng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong mục CPU đa nhân thế hệ đầu tiên ta nhận thấy vấn đề tương thích của các CPU đa nhân với hệ thống phần cứng không hề đơn giản. Một số CPU đa nhân thế hệ đầu của AMD có thể tương thích với bo mạch chủ cũ dành cho các CPU một nhân trước khi chúng ra đời, các CPU đa nhân của Intel thì hoàn toàn không tương thích với các bo mạch chủ sử dụng chipset cũ nếu chúng không được thiết kế lại hoặc cho ra đời phiên bản khác.

Các thế hệ hai nhân, bốn nhân kế tiếp ra đời thì AMD không còn giữ được lợi thế về sự nâng cấp hệ thống mà không cần thay đổi bo mạch chủ nữa. Người sử dụng muốn nâng cấp lên CPU đa nhân cần phải thay thế nhiều thiết bị phần cứng khác để phù hợp với chúng.

  • Bo mạch chủ là thiết bị phải thay thế đầu tiên bởi các cấu trúc mới không còn được sự hỗ trợ của chipset thế hệ cũ.
  • Bộ nhớ RAM cũng có sự thay đổi khi thay thế sang loại CPU đa nhân, chúng thường là loại DDR2 thay thế cho thế hệ DDR đầu tiên để đáp ứng về tốc độ cho các thế hệ CPU mới. Thông thường thì người sử dụng CPU Intel luôn phải đối mặt với sự thay thế bo mạch chủ và RAM bởi sự phát triển CPU đa nhân của Intel luôn cần tăng tốc độ RAM do cấu trúc hiện thời của Intel có xu hướng tăng tốc độ bộ nhớ.
  • Nguồn máy tính cũng là thiết bị cần phải thay thế bởi các hệ thống mới thường sử dụng nguồn máy tính theo chuẩn ATX loại 24 chân ở phần cung cấp điện năng cho bo mạch chủ. Riêng phần cung cấp nguồn cho CPU trước đây thường sử dụng một kết nối 4 chân thì với các hệ thống mới có thể đòi hỏi kết nối 8 chân.
  • Bo mạch đồ hoạ phải thay đổi nếu hệ thống cũ sử dụng giao tiếp AGP. Toàn bộ các bo mạch chủ thế hệ mới đều sử dụng khe PCI Express X16. Nếu như không chơi game 3D mạnh hoặc thiết kế đồ hoạ thì người sử dụng có thể lựa chọn một bo mạch chủ được tích hợp sẵn chức năng đồ hoạ để giảm chi phí (tuy nhiên sự kết hợp CPU đa nhân với chức năng đồ hoạ tích hợp thường là một sự cọc cạch đối với người chơi game và xử lý đồ hoạ, chỉ có thể chấp nhận chúng như một bước đệm trước khi nâng cấp nên các bo mạch đồ hoạ rời trên một bo mạch chủ vừa tích hợp chức năng đồ hoạ trên bo mạch chủ, vừa có sẵn khe cắm PCI Express X16).

Đa nhân trên máy tính xách tay[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ khi các CPU hai nhân đầu tiên xuất hiện trên thị trường, các nhà sản xuất máy tính xách tay đã ứng dụng chúng trong các sản phẩm của mình. Những CPU đa nhân đầu tiên ở các máy tính xách tay đã cải thiện hiệu năng tăng khoảng 30% so với các CPU một nhân cùng tốc độ trong các thử nghiệm benchmark. Ngay các thế hệ CPU đa nhân kế tiếp ở các phiên bản CPU di động cũng không cải thiện được hiệu năng và khả năng tiết kiệm pin như một số nhà sản xuất CPU tuyên bố.

Bởi vì máy tính xách tay thường thiết kế cho các mục đích sử dụng di động với các ứng dụng không đòi hỏi nhiều năng lực CPU nên có vẻ chúng không cải thiện được tốc độ nhiều. Trừ các loại máy tính xách tay chuyên dụng cho game, xử lý đồ hoạ thì các dòng máy tính xách tay thông thường dành cho học sinh, sinh viên, doanh nhân đến thời điểm đầu năm 2008 vẫn chưa là một bước đột phá so với các dòng máy tính xách tay sử dụng CPU hai nhân của thế hệ đầu tiên.

Khai thác hiệu năng đa nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Đa nhân và phần mềm

CPU đa nhân đã ra đời nhưng hầu hết các phần mềm hiện nay đều chưa được chuẩn bị sẵn sàng cho chúng[41]. Mặc dù hiểu một cách đơn giản thì các phần mềm vẫn hoạt động trơn chu trên các máy tính được trang bị CPU đa nhân, nhưng thực sự chúng còn có thể hoạt động tốt hơn nữa nếu khai thác được hết khả năng của đa nhân[42]. Hầu hết các phần mềm hiện tại đang được viết cho các CPU đơn luồng, mọi hành động xử lý của chúng đều do hệ điều hành phân phối đến các luồng trong CPU đa nhân. Các hãng phần mềm cũng có lý do để chưa vội vàng biên dịch lại chúng tối ưu với các CPU đa nhân bởi hiện tại (đầu năm 2008) chưa phải tất cả các máy tính có thể sử dụng phần mềm đã được trang bị bộ xử lý đa nhân và chưa phải các bộ xử lý đa nhân đều hỗ trợ khả năng xử lý 64 bit (sẽ trở thành thông dụng về sau này). Mặt khác, việc chuyển đổi có thể cần phải xây dựng lại các thư viện lập trình sẵn có và cần có các khoản chi phí lớn. Vậy thì cách thức phát triển phần mềm truyền thống vẫn là một sự lựa chọn an toàn hơn với họ.[43]

Tuy nhiên, không phải tất cả các hãng phần mềm đều chưa có động thái về hỗ trợ CPU đa nhân. Các phần mềm sử dụng cho máy chủ, máy trạm đã hỗ trợ xử lý đa luồng từ trước đây, bởi chúng ở một lĩnh vực riêng nên ít được người sử dụng máy tính thông thường biết đến[2]. Đối với máy tính cá nhân để bàn sẽ xuất hiện nhiều phần mềm hỗ trợ đa luồng hơn mà trước hết là từ những phần mềm cần đến khả năng xử lý lớn như: xử lý đồ hoạ, xử lý video...

Các trò chơi trên máy tính (game) 3D hiện nay cũng chưa được thiết kế tối ưu cho hoạt động với các CPU đa nhân, đích nhắm tới hiện nay của chúng thường là hỗ trợ DX10 và DX10.1 (với khả năng đồ hoạ tuyệt đẹp hỗ trợ trên Windows Vista[44]) nhiều hơn, do đó chúng vẫn thường chỉ chiếm một nhân khi xử lý ở CPU đa nhân[45].

Tương lai phần mềm vẫn sẽ phải phát triển theo hướng phù hợp với CPU đa nhân, nhất là với các phần mềm chiếm tài nguyên của CPU nhiều khi thực thi phần mềm đó. Đây là một định hướng tất yếu bởi khi sử dụng một phần mềm lớn, chúng chỉ chiếm một nhân trên CPU thì các nhân còn lại sẽ chỉ được sử dụng cho các phần mềm, dịch vụ chạy ở chế độ nền gây lãng phí năng lực xử lý trong khi có khả năng khai thác toàn bộ các nhân cùng hoạt động như vậy. Bạn hãy thử quan sát biểu đồ hoạt động thực tại của các nhân trong CPU khi sử dụng phần mềm chiếm nhiều tài nguyên sẽ nhận thấy sự lãng phí này.[45] Ngược lại với các phần mềm chiếm tài nguyên thấp có thể không nhất thiết phải viết lại phù hợp cho các CPU đa nhân bởi điều đó là không cần thiết khi chúng không thể chiếm đến trên 10% năng lực xử lý trên một nhân (ví dụ như các phần mềm trợ giúp bỏ dấu tiếng Việt trong soạn thảo văn bản chỉ yêu cầu xử lý thấp).

Đa nhân và hệ điều hành

Khác với phần mềm thì hệ điều hành cần thiết phải hỗ trợ các CPU đa nhân đa nhân và có thể tận dụng mọi công nghệ của CPU. Nếu như hệ điều hành không hỗ trợ các CPU đa nhân thì chúng chỉ nhận dạng duy nhất một bộ xử lý và có thể dẫn đến làm việc không ổn định. Hãy thử sử dụng hệ điều hành MS-DOS với các ứng dụng cũ sẽ nhận thấy chúng hoàn toàn có thể không phù hợp và hoạt động nhanh hơn đối với các CPU thế hệ trước đây bởi DOS và các hệ điều hành Windows 3.X thường phù hợp hơn với các CPU 16 bit.

Các hệ điều hành còn được sử dụng trong những năm 2008 thường hỗ trợ tốt đối với các CPU đa nhân bởi chúng có thể nhận dạng các CPU đa nhân và phân các luồng xử lý tới từng nhân để phân chia và cân bằng giữa các ứng dụng đơn luồng tới từng nhân của CPU. Để đạt được sự hỗ trợ đa nhân, người sử dụng có thể cần đến các bản nâng cấp hoàn chỉnh (service pack, thường viết tắt là SP và một con số chỉ thứ tự) hoặc các bản nâng cấp đơn lẻ. Ví dụ với Windows 2000 cần nâng cấp lên SP4, Windows XP cần SP2, đôi khi có các bản nâng cấp riêng lẻ dành riêng cho một vài loại CPU riêng biệt (ví dụ như cho dòng Core 2 Duo của Intel bằng bản KB936357-x86 ở Windows XP - SP2 của Microsoft).

Những hệ điều hành mới ra mắt gần đây dành cho máy tính cá nhân tất yếu phải hỗ trợ CPU đa nhân, ví dụ như Windows Vista của Microsoft. Chúng cũng có các phiên bản riêng dành cho những nhóm người sử dụng (người sử dụng ở gia đình, sử dụng trong doanh nghiệp...) và các phiên bản hỗ trợ xử lý 64 bit với giá bán khác nhau để tiết kiệm hơn cho từng đối tượng sử dụng.

Đối nghịch với đa nhân: Thị trường PC giá thấp[sửa | sửa mã nguồn]

Khi mà các hãng sản xuất CPU có xu hướng phát triển các sản phẩm CPU đa nhân như một tất yếu trong lịch sử phát triển của máy tính thì vẫn còn một thị trường không kém sôi động cho các vi xử lý một nhân. Các bộ xử lý cho máy tính rẻ tiền vẫn còn trong vòng ngắm của các hãng sản xuất thiết bị phần cứng.

Cả hai hãng AMDIntel vẫn có những kế hoạch sản xuất CPU cho các máy tính rẻ tiền, dành cho người thu nhập thấp (loại máy tính low-cost PC với giá dự định thấp hơn 350 USD). Hãng Intel với chiến lược “5 năm, một tỷ người” nhằm giúp thúc đẩy số người sử dụng Internet trong năm năm tới thêm một tỷ máy tính nữa kết nối được với mạng toàn cầu (hiện nay số lượng người sử dụng Internet trên thế giới ước tính là 1 tỷ người sau 30 năm phát triển). Những kế hoạch của Intel không phải là quá xa vời khi hãng này chuẩn bị tung ra bộ CPU Diamond View cùng với chipset đi kèm dưới dạng OEM với giá khoảng 30 USD với sức mạnh tương đương với CPU Pentium M mà hãng đã sản xuất trước đây. Mục tiêu của gói CPU-chipset này nhắm tới các máy tính xách tay giá rẻ và các thiết bị Internet di động (mobile Internet device) của Intel[46].

Các hãng khác hoặc các dự án khác cũng đã chú ý đến thị trường PC giá rẻ từ trước đó: Dự án “Mỗi trẻ em một máy tính” OLPC (One Laptop Per Child) cũng được khởi động đã lâu với giá thành dự định dưới 100 USD cũng đã dần hạ giá thành những chiếc máy tính xách tay theo dự án đạt mức giá dự định. Ngoài ra, các thương hiệu máy tính giá rẻ như Asus EEPC, Intel Classmate cũng đang được triển khai[46].

Ngoài các CPU phục vụ cho các máy tính cá nhân, máy chủ, máy trạm thì bộ vi xử lý nhúng lại là một thị trường còn lớn hơn nữa. Rất ít người sử dụng hiểu được rằng vi xử lý nhúng đã được sử dụng đến từng thiết bị gia dụng trong đời sống: từ những chiếc ti vi, máy giặt, máy phát đĩa CD/DVD, đầu thu truyền hình số, điện thoại di động...đều sử dụng các bộ vi xử lý nhúng. Chúng chỉ là các vi xử lý có tốc độ thấp và chưa cần thiết đến đa nhân nhưng theo thống kê những năm 2000 thì chúng chiếm đến 96% trên tổng số các vi xử lý nhúng[47], (cho đến nay chúng có thể còn lớn hơn nữa do sự phát triển của sản phẩm dân dụng luôn lớn hơn so với những chiếc PC).

Nhận thức của người sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận thức về tốc độ

Chỉ có một số ít những người sử dụng máy tính có thể hiểu được đúng về các thể loại CPU cũng như về phần cứng máy tính nói chung để có thể nhận rõ các công nghệ trong các bộ xử lý cũng như các thành phần khác liên quan để một hệ thống có thể vận hành tối ưu nhất. Phần đông số người sử dụng còn lại thường cho rằng tốc độ xử lý của CPU là yếu tố hàng đầu để đánh giá mức độ “có chạy nhanh hay không” ở một máy tính. Chính vì vậy mà họ thường chọn một bộ xử lý có tốc độ cao mà không chú ý đến các yếu tố còn lại như công nghệ của bộ xử lý hoặc toàn bộ các thành phần khác để cấu thành lên một chiếc máy tính. Một số còn lựa chọn các CPU hoàn toàn dựa trên cảm tính, chẳng hạn chọn loại Celeron của Intel thay cho các bộ xử lý Pentium với một lập luận rất đơn giản là tốc độ cao và giá rẻ, hoặc chọn một CPU Pentium D thay vì chọn Core 2 Duo bởi chúng cũng gồm hai nhân và có tốc độ cao hơn. Đây là các nhận thức không đúng bởi hiệu năng thực tế mới là vấn đề đáng quan tâm nhất của các CPU. Các kết quả của quá trình benchmark[48] thường phản ánh đúng hơn các hiệu quả làm việc khi so sánh giữa các CPU.

Một số người sử dụng lại cho rằng hai nhân giúp cho tốc độ CPU được tăng gấp đôi. Ví dụ một CPU Core 2 Duo số hiệu E6420 có tốc độ 2,13 GHz (mỗi nhân) thì cả hai nhân sẽ hoạt động với tốc độ 4,26 GHz (tăng gấp đôi). Điều này cũng không đúng bởi cả hai nhân không đồng thời cùng xử lý một ứng dụng và hai nhân không gia tốc việc xử lý cùng một yêu cầu một cách nối tiếp nhau. Nhiều kết quả benchmark cho thấy hiệu năng của CPU hai nhân đối với các ứng dụng bình thường (không được viết lại cho các CPU đa nhân) tăng lên gấp đôi mà chúng chỉ tăng thêm hiệu năng khoảng 30%[49]. Nhiều ứng dụng nặng như các phần mềm xử lý đồ hoạ, biên tập video, game 3D chỉ hoạt động trên một nhân của CPU đa nhân[45].

Nhận thức về tên gọi

Một số người sử dụng lại nhận thức nhầm về thông số đặt tên của các CPU. Hai hãng sản xuất phần cứng gần đây đã thay đổi ký hiệu các CPU của họ theo các cách khác nhau.

  • Intel đặt tên các sản phẩm của mình bằng một con số thay vì chỉ để một số thông số chính về FSB và tốc độ xử lý. Ví dụ các CPU có số hiệu 830, 540, 640...các con số này thường làm người sử dụng so sánh giữa các con số để hiểu về năng lực của CPU, nhưng thực chất không phải như vậy bởi có các CPU có số hiệu thấp lại có hiệu năm cao hơn CPU có số hiệu cao.
  • AMD đặt tên theo các con số có một quy luật khác hơn mà được một số người cho rằng những thông số đó tương đương với hiệu năng của một CPU của hãng khác có cùng cấu trúc x86. Ví dụ 3800+, 4200+ nhằm hàm ý những CPU đó tương đương với một CPU của Intel có tốc độ xử lý 3800 Mhz, 4200 Mhz. Thực chất điều này chưa có cơ sở và cũng không được giải thích chính thức bởi có thể gây ra tranh cãi, kiện tụng giữa các hãng sản xuất.
Nâng cấp vội vàng

Trước sự ra đời ồ ạt của các bộ xử lý đa nhân trong hai năm gần đây, một số người sử dụng đã vội vã nâng cấp CPU cho dù những công việc thường ngày của họ ít cần đến xử lý đa luồng: chẳng hạn chỉ duyệt web đọc tin tức, soạn thảo văn bản, sử dụng với các bảng tính và chơi các game đơn giản hoặc các game thế hệ cũ, không cần xử lý 3D nhiều mà hệ thống cũ vẫn có thể đáp ứng được[50]. Trong trường hợp này tuy máy tính của họ cũng được cải thiện về tốc độ, tuy nhiên thời điểm đầu năm 2008 thì vẫn chưa phải là thời điểm nâng cấp hợp lý khi mà các hãng phần cứng đang cạnh tranh và sẽ xuất hiện nhiều thế hệ chipset mới mà chỉ chúng mới hỗ trợ các công nghệ CPU đa nhân sắp tới[51]. Những sự cạnh tranh như vậy luôn luôn thuận lợi hơn cho người sử dụng bởi có thể sở hữu những CPU đa nhân với giá thành hạ hơn trước[52][53][54]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Nhằm tránh phải xem các quảng cáo, một số trang liên kết ngoài dưới đây ở dạng “phiên bản trang web để in”, xin vui lòng huỷ bỏ lệnh in nếu chúng xuất hiện.


  1. ^ a ă Bộ xử lý đa nhân DE Kaleidoscope (13/11/2007)
  2. ^ a ă PC của bạn sẽ là workstation?. PC World VN (2004)
  3. ^ Dual Processor hay Dual Core. ICTnews (27/3/2007)
  4. ^ a ă â Intel Core vi kiến trúc hai nhân chung đệm. PC World VN
  5. ^ Chip AMD Athlon 64 FX được bình chọn “Sản phẩm của năm”. VnExpress (08/06/2004)
  6. ^ a ă AMD chính thức định ngày phát hành Athlon 64. VnExpress (21/5/2005)
  7. ^ Bộ xử lý - chưa hết hai đã lên bốn PC World VN
  8. ^ Một số chi tiết về bộ vi xử lí tương lai của Intel là Penryn được tiết lộ. Tư vấn tin học toàn quốc (30/3/2007)
  9. ^ a ă Core 2 Duo tạo bước ngoặt của ngành chế tạo bộ vi xử lý. VietnamExpress (31/7/2006)
  10. ^ Core 2 Duo tỏa sáng. VnMedia (20/9/2006)
  11. ^ “Black Edition - đâu là giới hạn”. PCWorld VN (A-11/07-tr.54)
  12. ^ Bộ xử lý bốn nhân - Mới nhất, mạnh mẽ nhất. PC World VN (183-01/2008)
  13. ^ AMD đấu với Intel bằng chíp 3 lõi ? VnExpress (18/9/2007)
  14. ^ All Intel® Xeon® processors 7000 sequence feature(tiếng Anh)
  15. ^ All Intel® Xeon® processors 5000 sequence feature(tiếng Anh)
  16. ^ All Intel® Xeon® processors 3000 sequence feature(tiếng Anh)
  17. ^ Intel công bố vi xử lý 'hạng nặng' Core 2 Extreme QX6800. VnExpress (11/4/2007)
  18. ^ Chip lõi tứ đầu tiên đạt tốc độ 3 GHz. VnExpress (14/8/2007)
  19. ^ Chip 4 lõi bắt đầu cạnh tranh được với loại lõi kép. VnExpress (08/9/2007)
  20. ^ Intel hoàn thành quá trình chuyển sang vi kiến trúc core. VnExpress (07/9/2007)
  21. ^ AMD mong lặp lại lịch sử với chip lõi tứ đầu tiên VnExpress (11/9/2007)
  22. ^ Intel “bỏ rơi” AMD trong cuộc đua chip 4 lõi. VnExpress (02/12/2006)
  23. ^ Bộ xử lý bốn nhân - Mới nhất, mạnh mẽ nhất PCWorld VN (01/2008)
  24. ^ Chip AMD nhanh nhất cũng không “đe dọa” được Intel VnExpress (03/01/2008)
  25. ^ “SPIDER” platform. Trang giới thiệu của hãng AMD(tiếng Anh)
  26. ^ AMD và Intel tiếp tục “kèn cựa” nhau. Lao Động (13/12/2007)
  27. ^ Intel công bố thương hiệu công nghệ di động Centrino. VnExpress (09/01/2003)
  28. ^ Công nghệ Intel Centrino Duo tăng lực 5 lần VnExpress (24/01/2007)
  29. ^ Intel công bố thế hệ tiếp theo của Core 2 Duo tại VN VnExpress (09/05/2007)
  30. ^ Niagara 2: Bộ xử lí 8 lõi của Sun. PCWorld VN (6/8/2007)
  31. ^ Chip Niagara 2 thế hệ mới của Sun. VnMedia (24/8/2006)
  32. ^ Sun tuyên bố: Chip 8 nhân Niagara II nhanh nhất thế giới! Vietnamnet (07/08/2007)
  33. ^ Những gương mặt CPU mới. Thời báo Vi tính Sài Gòn (10/2/2007)
  34. ^ Chip 80 lõi mở ra kỷ nguyên “siêu máy tính cá nhân”. VnExpress (12/2/2007)
  35. ^ Nhật giới thiệu chip chứa 512 lõi. VnExpress (07/11/2006)
  36. ^ Công nghệ chip vượt ngưỡng 2 tỷ bóng bán dẫn. Quản trị mạng (06/02/2008)
  37. ^ Intel công bố chip 32 nm đầu tiên trên thế giới. VnExpress (19/9/2007)
  38. ^ Sẽ bùng nổ máy tính chip lõi kép vào năm 2007. Việt Báo (30/4/2005)
  39. ^ Chip lõi kép sẽ thống trị vào năm 2007. VnExpress (30/4/2005)
  40. ^ Giá bản quyền phần mềm sẽ tăng gấp đôi Việt Báo (24/11/2004)
  41. ^ Tổng quan chip lõi kép - Phần cứng đợi phần mềm. PC World VN (2006)
  42. ^ CPU đa lõi: Hướng tới tương lai. VN Media (30/10/2007)
  43. ^ Tám cách giúp tiết kiệm năng lượng cho một trung tâm dữ liệu. eec - VN
  44. ^ DX10 góp thêm lý do nâng cấp lên Vista. VnExpress (12/3/2007)
  45. ^ a ă â Bạn dễ dàng kiểm chứng điều này với Windows họ NT (NT, 2000, XP, Vista) bằng cách xem mức độ xử lý của từng nhân khi thực thi các phần mềm đó thông qua chức năng Task Manager, nếu như thấy rằng một nhân xử lý khác biệt nhiều so với nhân còn lại thì có nghĩa rằng phần mềm yêu cầu xử lý cao đó không hỗ trợ CPU đa nhân
  46. ^ a ă “Việt Nam trong chiến lược 5 năm, 1 tỷ người của Intel”. PCWorld VN (A-01/08, tr.32)
  47. ^ Bộ vi xử lý nhúng. VnExpress (22/12/2000)
  48. ^ Benchmark là một quá trình dùng phần mềm thực thi nhiều ứng dụng giải định khác nhau, kết quả về thời gian đáp ứng xong ứng dụng, tốc độ thực thi...để tổng hợp lại thành một con số dùng để so sánh các hệ thống phần cứng khác nhau để đánh giá chung
  49. ^ Bộ xử lí Core 2 Duo di động: không nhanh hơn nhiều. PC World VN (2006)
  50. ^ Chip lõi đơn vẫn dùng tốt trên PC phổ thông VnExpress (29/8/2007)
  51. ^ Lõi kép-Năng lực nhân đôi. Số hoá (06/01/2006)
  52. ^ Máy tính để bàn - Tăng lực bốn nhân. PC World VN
  53. ^ Intel giảm giá chip lõi tứ 50%. VnExpress (28/7/2007)
  54. ^ Intel giảm 40% chip lõi kép và lõi tứ. VnExpress (24/4/2007)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Scott Mueller; Upgrading and Repairing Pcs, 17th Edition.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]