Chim Bidadari

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chim Bidadari
Semioptera wallacei by Bowdler Sharpe.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Động vật
Ngành (phylum) Động vật có dây sống
Lớp (class) Chim
Bộ (ordo) Chim thiên đường
Họ (familia) Chim thiên đường
Chi (genus) Semioptera
Gray, 1859
Loài (species) S. wallacii
Danh pháp hai phần
Semioptera wallacii
Gould, 1859

Chim Bidadari (trong tiếng Indonesia thì Bidadari theo truyền thuyết là tên của 1 vị thần tiên) danh pháp hai phần: Semioptera wallacii, hoặc Semioptera wallacei, hiện tại là loài độc nhất trong chi Semioptera của họ chim thiên đường. Kích thước cơ thể trung bình, dài khoảng 28 cm. Con trống có túm lông mào óng ánh sắc tím hoa đỉnh hương, lông ức màu xanh của ngọc lục bảo. Đáng chú ý nhất là hai cặp cánh giả bằng lông cánh sơ cấp màu trắng mọc từ khuỷa cánh sơ cấp, có thể phe phẩy lên xuống. Con mái có kích thước nhỏ hơn nhưng lông đuôi dài hơn con trống, cả bộ lông chỉ một màu nâu oliu.

Nhà điểu học George Robert Gray (trưởng khoa điểu học viện bảo tàng Anh) đặt tên loài là Cánh chuẩn Wallace để vinh danh nhà tự nhiên học Alfred Russel Wallace (cùng thời với Charles Darwin), người phát hiện ra loài chim này năm 1858 và là tác giả cuốn sách về quần đảo Mã Lai.

Sinh sống ở phía tây Indonesia, trở thành loài đặc hữu của quần đảo Spice nổi tiếng, chim Bidadari là loài chim thiên đường điển hình ở vùng cực Tây In-đô-nê-xi-a. Thức ăn hằng ngày của chúng chủ yếu là: côn trùng, động vật chân khớptrái cây.

Trong đời một con trống ghép đôi với nhiều con mái. Chúng tụ tập thành bầy và phô diễn nhiều màn nhào lộn trên không, "rơi tự do" với cánh và lông ức màu lục chói duỗi căng, cùng với mấy cái cánh giả phe phẩy trên lưng.

Chim Bidadari sống trong khu vực hạn hẹp, được xếp loại Ít quan tâm trong Sách đỏ IUCN; nó cũng được liệt trong Phụ lục II, Công ước CITES của Liên hợp quốc.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]