Danh sách thiên hà

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Siêu vùng sâu Hubble với trên 10.000 thiên hà trong vùng chỉ bằng 0,000024% bầu trời

Danh sách này liệt kê các thiên hà tiêu biểu đã quan sát thấy, đã được ghi nhận. Hiện khoa học ghi nhận khoảng 50 thiên hà trong nhóm thiên hà địa phương, khoảng 100.000 thiên hà trong siêu nhóm địa phương và khoảng 170 tỷ thiên hà trong vũ trụ quan sát được.

Danh sách[sửa | sửa mã nguồn]

Thiên hà Ghi chú
M82 Đây là nguyên mẫu của thiên hà bùng nổ sao.
M87 Thiên hà trong vùng trung tâm của Siêu đám Xử Nữ.[1]
M102 Thiên hà này vẫn xác định dứt khoát nó là thiên thể nào, và phần lớn nó chính là NGC 5866, hoặc khả năng nó là thiên hà M101. Những khả năng khác cũng được đề cập tới.
NGC 2770 NGC 2770 được xem là Nhà máy Supernova do gần đây đã ghi nhận 3 siêu tân tinh trong nó.
NGC 3314
NGC 3314a
NGC 3314b
Đây là các cặp thiên hà xoắn ốc, 1 thiên hà nằm phía đằng sau, chú ý là hai thiên hà tách ra nhau, và không ảnh hưởng hấp dẫn đến nhau. Khoảng cách từ Trái Đất đến a và b vào khoảng 117 triệu và 140 triệu năm ánh sáng. Rất hiếm khi các thiên hà sắp thẳng hàng với nhau.
ESO 137-001 Nằm trong cụm thiên hà Abell 3627, thiên hà này đang bị tước khí do áp suất của môi trường liên đám (ICM), do vận tốc chuyển động của nó trong đám khá lớn, và nó để lại một cái đuôi mật độ cao với các ngôi sao đang hình thành trong nó. Đặc điểm của cái đuôi đó là số lượng lớn nhất các sao hình thành nằm bên ngoài phía xa thiên hà. Thiên hà này hiện lên như một sao chổi, với đầu là thiên hà, và đuôi là khí và các sao.[2][3][4][5]
Thiên hà Sao Chổi Nằm trong cụm thiên hà Abell 2667, thiên hà xoắn ốc này đang bị tước thủy triều gồm những khí và sao với tốc độ lớn đi qua cụm thiên hà, hiện lên như một sao chổi.

Danh sách các thiên hà có tên[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các thiên hà đã được đặt tên rõ ràng, khác biệt so với tên theo thứ tự trong danh lục hoặc sách báo, hoặc tập hợp tọa độ, hoặc hệ thống kí hiệu chuyên biệt.

Thiên hà Tên gọi gốc Ghi chú
Ngân Hà Thiên hà chứa Trái Đất, được đặt tên theo đám mây trong bầu trời đêm đánh dấu bởi sự tập trung dày đặc các sao trong thiên hà của chúng ta, nó hiện lên như một dải mờ, trắng gọi là sông Ngân hoặc dòng sữa chảy.
Thiên hà Andromeda Thường chỉ là Andromeda, gọi là thiên hà Andromeda, tinh vân Andromeda, tinh vân Andromeda Lớn, tinh vân xoắn ốc Andromeda, thiên hà Tiên Nữ. Đặt tên như thế do nó nằm trong chòm sao mang tên Andromeda hoặc Tiên Nữ.
Thiên hà Bode Đặt tên theo Johann Elert Bode để tưởng niệm ông đã phát hiện ra nó vào năm 1774.
Thiên hà Cartwheel Do hình dáng biểu kiến của nó giống với hình bánh xe.
Thiên hà Cigar Nó hiện lên giống điếu cigar.
Thiên hà Sao Chổi Thiên hà này được đặt tên do hình dáng khác thường của nó, giống với sao chổi. Hiệu ứng sao chổi là do sự tước thủy triều bởi các thiên hà lân cận trong cụm Abell 2667.
Thiên thể Hoag Đặt tên theo Art Hoag, người phát hiện ra thiên hà vành này. Nó là một mẫu riêng của thiên hà kiểu-Hoag, và có thể là thiên hà vành-cực polar-ring galaxy với vành nằm trong mặt phẳng quay quanh tâm thiên thể with the ring in the plane of rotation of the central object.
Đám mây Magellan lớn (LMC) Đặt tên theo nhà hàng hải Ferdinand Magellan Đây là thiên hà lớn thứ 4 trong Nhóm Địa phương, tạo thành cặp với SMC, và từ những nghiên cứu gần đây cho thấy khả năng nó không thuộc về hệ thống thiên hà vệ tinh của Ngân Hà.[cần dẫn nguồn]
Đám mây Magellan Nhỏ (SMC) Đặt tên theo nhà hàng hải Ferdinand Magellan Tạo thành cặp với LMC, and from recent research, và từ những nghiên cứu gần đây cho thấy khả năng nó không thuộc về hệ thống thiên hà vệ tinh của Ngân Hà.[cần dẫn nguồn]
Thiên thể Mayall Đặt tên theo người phát hiện ra nó, Nicholas U. Mayall, ông làm việc tại Đài quan sát Lick.[6][7][8] Còn gọi là VV 32Arp 148, đây là một thiên hà dị thường, và có thể không chỉ là 1 thiên hà, mà là 2 thiên hà đang va chạm. Thiên hà có hình thoi và hình vành.
Thiên hà Chong Chóng Nó giống với hình cái chong chóng.
Thiên hà Sombrero Có hình giống với nón sombrero của người Mexico.
Thiên hà Hoa Hướng Dương
Thiên hà Nòng nọc Do thiên hà có hình dáng giống con nòng nọc. HÌnh dạng như thế là kết quả của tương tác thủy triều làm kéo ra 1 đuôi dài.
Thiên hà Xoáy nước Nó giống với xoáy nước do nhiễu loạn hấp dẫn trong thiên hà.

Danh sách thiên hà nhìn được bằng mắt thường[sửa | sửa mã nguồn]

Các thiên hà nhìn được bằng mắt thường, đối với bầu trời rất tối, đứng ở trên cao quan sát với thời tiết trong và ổn định.

Thiên hà nhìn được bằng mắt thường
Thiên hà Cấp sao biểu kiến Khoảng cách Ghi chú
Ngân Hà -26,74 (Mặt Trời) 0 Đây là thiên hà của chúng ta, thường nhìn thấy một phần nó vào ban đêm như một dải trắng vắt ngang bầu trời.[9]
Đám mây Magellan lớn 0,9 160 kly (50kpc) Nhìn thấy được ở bán cầu nam. Có thể coi nó là tinh vân sáng nhất trên bầu trời.[9][10][11]
Đám mây Magellan Nhỏ (NGC292) 2,7 200 kly (60kpc) Nhìn thấy được ở bán cầu nam.[9][12]
Thiên hà Andromeda (M31, NGC224) 3,4 2,5 Mly (780kpc) Nó nằm trong chòm sao Andromeda.[9][13]
Omega Centauri (NGC5139) 3,7 18 kly (5,5kpc) Nó từng được coi là một sao, sau đó là cụm sao cầu, Omega Centauri đã được các nhà thiên văn phát hiện có một lỗ đen tại trung tâm của nó và nó được coi là một thiên hà lùn vào tháng 4 năm 2010.[14]
Thiên hà Tam Giác (M33, NGC598) 5,7 2,9 Mly (900 kpc) Là một thiên hà mờ, khả năng quan sát thấy nó bị ảnh hưởng mạnh bởi sự ô nhiễm ánh sáng, có thể nhìn thấy nó trên bầu trời tối đen nhưng có thể không quan sát được trong khu vực dân cư.[15]
Centaurus A (NGC 5128) 7,8 13,7 ± 0,9 Mly (4,2 ± 0,3 Mpc) Centaurus A đã được Stephen James O'Meara quan sát thấy bằng mắt thường[16]
Thiên hà Bode (M81, NGC3031) 7,89 12 Mly (3,6Mpc) Những người quan sát thiên văn nghiệp dư nhiều kinh nghiệm cũng có thể quan sát thấy bằng mắt thường thiên hà này trong những điều kiện tốt.[17][18][19]
Thiên hà Sculptor (NGC 253) 8.0 11.4 ± 0.7 Mly (3.5 ± 0.2 Mpc) Theo Brian A. Skiff, khả năng nhìn thấy bằng mắt thường của thiên hà này được thảo luận trong tạp chí Sky & Telescope từ những năm 1960 hoặc 1970.[20]
Messier 83 (NGC 5236) 8,2 14,7 Mly (4,5 Mpc) M83 có thể quan sát trực tiếp bằng mắt thường.[21]
  • Thiên hà elip lùn Nhân Mã (Sagittarius Dwarf Elliptical Galaxy) không được liệt kê vì đang có những tranh luận xung quanh vấn đề đây có phải là thiên hà hay không.

Đứng nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Theo khoảng cách[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu Thiên hà Khoảng cách Ghi chú
Thiên hà láng giềng gần nhất Canis Major Dwarf 0,025 Mly Phát hiện năm 2003, thiên hà vệ tinh của Ngân Hà, sáp nhập từ từ.
Thiên hà xa nhất UDFj-39546284 z≃10,3 Với khoảng cách 13,2 tỉ năm ánh sáng [22] đây có thể là thiên thể xa nhất và lâu đời nhất khoa học hiện quan sát dược.
Quasar gần nhất 3C 273 z=0,158
Quasar xa nhất CFHQS J2329-0301 z=6,43 Phát hiện năm 2007.

Theo khối lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu Thiên hà Khối lượng Ghi chú
Thiên hà nhẹ nhất Willman 1 [23]
Thiên hà nặng nhất Messier 87 (M87, NGC 4486, Virgo A) [24]
Thiên hà xoắn ốc nặng nhất ISOHDFS 27

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hayden Planetarium, Local Large-Scale Structure
  2. ^ Sky and Telescope, New Stars in a Galaxy's Wake, 28 September 2007
  3. ^ NASA, 'Orphan' Stars Found in Long Galaxy Tail, 09.20.07
  4. ^ arXiv, H-alpha tail, intracluster HII regions and star-formation: ESO137-001 in Abell 3627, Fri, 8 June 2007 17:50:48 GMT
  5. ^ Universe Today, Galaxy Leaves New Stars Behind in its Death Plunge; September 20th, 2007
  6. ^ Publications of the Astronomical Society of the Pacific, Vol. 53, No. 313, p.187; The Radial Velocity of a Peculiar Nebula; 1941PASP...53..187S
  7. ^ Astrophysical Journal, vol. 140, p.1617; The Strange Extragalactic Systems: Mayall's Object and IC 883; 1964ApJ...140.1617B
  8. ^ Astrophysical Journal, vol. 119, p.215; On the Indentification of Radio Sources; 01/1954; 1954ApJ...119..215B
  9. ^ a ă â b Karen Masters (tháng 12 năm 2003). “Curious About Astronomy: Can any galaxies be seen with the naked eye?”. Curious.astro.cornell.edu. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2008. 
  10. ^ Astronomy Knowledge Base, Magellanic Cloud, UOttawa
  11. ^ SEDS, The Large Magellanic Cloud, LMC
  12. ^ SEDS, The Small Magellanic Cloud, SMC
  13. ^ SEDS, Messier 31
  14. ^ UPI, Black hole found in Omega Centauri,April 10, 2008 at 2:07 PM
  15. ^ SkyandTelescope.com - Saving Dark Skies - The Bortle Dark-Sky Scale
  16. ^ Aintno Catalog
  17. ^ “Farthest Naked Eye Object”. Uitti.net. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2008. 
  18. ^ SEDS, Messier 81
  19. ^ S. J. O'Meara (1998). The Messier Objects. Cambridge: Cambridge University. ISBN 0-521-55332-6. 
  20. ^ http://messier.obspm.fr/xtra/supp/m81naked.txt
  21. ^ SpringerLink - Abstract
  22. ^ có nghĩa hình ảnh chúng ta quan sát thấy là chùm tia sáng phát đi từ thiên hà này cách đây đã 13,2 tỉ năm
  23. ^ New Scientist, "Smallest galaxy hints at hidden population", David Shiga, 4 June 2007 (accessed 9 September 2010)
  24. ^ The Independent, Science & technology: WHAT ON EARTH?, 28 February 2004

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]