Final Fantasy X

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Final Fantasy X
Nhà phát triển Square
Nhà phát hành
Đạo diễn Toriyama Motomu
Nakazato Takayoshi
Tsuchida Toshiro
Nhà sản xuất Kitase Yoshinori
Họa sĩ Nomura Tetsuya
Naora Yusuke
Kịch bản Nojima Kazushige
Watanabe Daisuke
Soạn nhạc Uematsu Nobuo
Hamauzu Masashi
Nakano Junya
Loạt trò chơi Final Fantasy
Nền tảng PlayStation 2
Ngày phát hành
  • NB Ngày 19 tháng 7 năm 2001
  • BM Ngày 20 tháng 12 năm 2001
  • QT Ngày 31 tháng 1 năm 2002
  • Úc Ngày 17 tháng 5 năm 2002
  • EU Ngày 24 tháng 5 năm 2002
Thể loại Nhập vai
Đánh giá
Phương tiện truyền tải 1 DVD-ROM
Điều khiển Gamepad

Final Fantasy X (ファイナルファンタジーX Fainaru Fantajī Ten) là một console role-playing game được phát triển và phát hành bởi Square (nay là Square Enix) là phiên bản thứ mười trong series Final Fantasy. Nó được phát hành vào năm 2001 cho PlayStation 2 của Sony[1]. Game này đánh dấu sự chuyển tiếp của Final Fantasy series từ phông dựng sẵn thành những khu vực không gian ba chiều, và cũng là game đầu tiên trong series có lồng tiếng. Final Fantasy X thay thế hệ thống Active Time Battle (ATB) bằng một hệ thống mới Conditional Turn-Based Battle (CTB), và sử dụng một hệ thống level mới được gọi là "Sphere Grid".

Diễn ra trong thế giới tưởng tượng Spira, câu chuyện của trò chơi tập trung vào một nhóm người thích phiêu lưu mạo hiểm và nhiệm vụ của họ là đánh bại một con quái vật điên cuồng có tên là "Sin". Player characterTidus, một ngôi sao blitzball mà nhận ra rằng anh ta đang ở Spira sau khi thành phố quê hương Zanarkand của anh ta bị phá huỷ bởi Sin. Trong game, Tidus, cùng với vài người khác, giúp đỡ summoner Yuna trong cuộc hành trình tiêu diệt Sin của cô ta.

Việc phát triển Final Fantasy X bắt đầu từ năm 1999, với ngân sách hơn US$32.3 triệu và một đội hơn 100 người. Game này là game đầu tiên trong series chính thức không hoàn toàn được ghi công bởi Nobuo Uematsu; Masashi HamauzuJunya Nakano được xác nhận là người phụ soạn nhạc của Uematsu. Final Fantasy X thành công cả về phê bình lẫn thương mại. Nó được bình chọn bởi độc giả của tạp chí video game Nhật Bản Famitsu là game kinh điển nhất mọi thời đại. Vào tháng 01/2004, game này đã bán được 6.6 triệu bản trên toàn thế giới. Vào năm 2003, nó được theo sau bởi Final Fantasy X-2, khiến cho game Final Fantasy đầu tiên có phần tiếp theo.

Cách thức chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như những game trước trong series, Final Fantasy X được biểu diễn dưới dạng third-person, với người chơi trực tiếp điều khiển nhân vật chính, Tidus, quanh thế giới để tương tác với các vật thể và con người. Tuy nhiên, không giống như các games trước đây, bản đồ thế giới và bản đồ thị trấn đã được kết hợp hoàn toàn, với địa hình bên ngoài thành phố rendered to scale. Khi phát hiện thấy một kẻ địch, môi trường chuyển sang một khu vực trận chiến theo lượt nơi mà nhân vật và kẻ địch đợi tới lượt đi để tấn công.

Cách thức chơi (tiếng Anh: Gameplay) của Final Fantasy X khác những game Final Fantasy trước đây ở sự thiếu hụt bản đồ thế giới nhìn từ trên xuống. Những game phát hành sớm hơn có một bản đồ thu nhỏ mô tả những khu vực có thể mở rộng giữa thị trấn và những khu vực riêng biệt, dùng cho việc đi xa. Trong Final Fantasy X, hầu như tất cả các khu vực cơ bản là không đứt quãng và không bao giờ biến mất khỏi bản đồ thế giới. Các liên kết khu vực hầu hết là linear, tạo nên một con đường đơn lẻ xuyên qua các khu vực của game, mặc dù một phi thuyền có thể sử dụng được ở cuối game, cho người chơi khả năng đi lại trên thế giới Spira nhanh hơn. Giống như những game trước trong series, Final Fantasy X có nhiều minigames, đáng chú ý nhất là môn thể thao giả tưởng dưới nước "blitzball"[2].

Hệ thống chiến đấu[sửa | sửa mã nguồn]

A typical battle against a boss using a heads-up display to illustrate the battle information.

Final Fantasy X giới thiệu hệ thống Chiến đấu theo lượt có điều kiện Conditional Turn-Based Battle (CTB) thay thế cho hệ thống Chiến đấu theo thời gian động Active Time Battle (ATB) truyền thống của series, lần đầu tiên được sử dụng trong Final Fantasy IV. Hệ thống mới được phát triển bởi đạo diễn trận chiến Toshiro Tsuchida, người đã chơi và ham mê Final Fantasy IV khi phát triển hệ thống CTB. Trong khi khái niệm ATB có các yếu tố thời gian thực (real-time), thì hệ thống CTB là một dạng theo lượt (turn-based) có thể tạm dừng trận đấu trong mỗi lượt đi của người chơi. Do đó, thiết kế CTB cho phép người chơi lựa chọn một hành động mà không có sức ép về thời gian. Một đường kẻ thời gian minh hoạ phía trên bên phải màn hình chứa thông tin chi tiết về việc ai sẽ là người nhận lượt đi tiếp theo, và những hành động khác nhau sẽ tác động đến thứ tự của các lượt đi tiếp theo như thế nào. Người chơi có thể điều khiển tới ba nhân vật trong trận đấu, mặc dù hệ thống chuyển đổi cho phép người chơi thay thế các nhân vật đang điều khiển với một nhân vật bên ngoài nhóm đang kích hoạt bất cứ lúc nào. "Limit Breaks", những cú đánh đặc biệt có sát thương cao, lại xuất hiện trong Final Fantasy X cái tên "Overdrives". Trong việc tạo ra đặc tính này, hầu hết các kĩ thuật đều ảnh hưởng tới nhau, đòi thao tác nhập từ các nút để tăng hiệu quả của chúng[3].

Final Fantasy X giới thiệu việc bảo dưỡng hệ thống gọi quái vật được sử dụng trong những games phát hành trước của series. Trong khi ở những bản cũ, một con quái vật triệu hồi (summoned unit) sẽ xuất hiện, thực hiện một hành động đơn lẻ, và sau đó biến mất, những "aeons" của Final Fantasy X xuất hiện và thay thế hoàn toàn nhóm nhân vật trong trận đánh, chiến đấu trong vị trí của các nhân vật cho tới khi hoặc quân địch bị giết, hoặc bản thân những aeons này bị đánh bại, hoặc chúng bị sa thải bởi người chơi. Aeons có các chỉ số stats,bảng lệnh, các cú đòn đặc biệt, thần chú, và Overdrives riêng. Người chơi nhận được 5 aeons trong quá trình chơi game, nhưng 3 aeons nữa có thể nhận được bằng cách hoàn thành nhiều nhiệm vụ phụ[3].

Hệ thống Sphere Grid[sửa | sửa mã nguồn]

Như những bản cũ trong series, người chơi được trao cho cơ hội để phát triển và cải thiện các nhân vật của họ qua việc đánh bại kẻ thù và kiếm các items, mặc dù hệ thống exp truyền thống được thay thế bởi một hệ thống mới gọi là "Sphere Grid". Thay vì việc các nhân vật nhận được điểm stat đã định trước sau khi lên level, thì mỗi nhân vật lại nhận được một "sphere level" sau khi thu thập đủ ability points (AP). Sphere levels cho phép người chơi di chuyển xung quanh Sphere Grid, một bảng skills được thiết kế từ trước có các nút thắt được nối liền nhau chứa nhiều loại stats và ability thưởng. Các món đồ được gọi là "spheres" được áp dụng cho những nút thắt này, mở khoá chức năng của chúng cho nhân vật được chọn[4].

Hệ thống Sphere Grid cũng cho phép người chơi thay đổi một cách toàn diện cho nhân vật ngược lại với vai trò được dự tính trong trận chiến của chúng, như là biến White Mage Yuna thành một tanker và swordsman Auron thành một healer (cave buff máu). Phiên bản quốc tếPAL của game bao gồm một lựa chọn phiên bản "Expert" của Sphere Grid; trong những bản này, tất cả các nhân vật bắt đầu ở giữa bảng skills và có thể đi theo bất cứ con đường nào người chơi chọn. Đổi lại, bảng skills Expert có tổng cộng ít nút thắt hơn, do đó nó giảm tổng số các nâng cấp stat có hiệu lực trong game[5].

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Spira (Final Fantasy)

Final Fantasy X được đặt trong thế giới tưởng tượng "Spira", và nó bao gồm một lục địa rộng lớn chia thành ba lục địa nhỏ, bao quanh bởi những đảo nhiệt đới nhỏ. Nó có nhiều kiểu khí hậu khác nhau, từ những đảo nhiệt đới Besaid và Kilika, vùng ôn đới Mi'ihen tới vùng băng giá Macalania và núi Gagazet. Mặc dù ở đây phần lớn là có người sinh sống, Spira có nhiều chủng tộc. Trong số đó là Al Bhed, một nhóm người có khoa học tiên tiến nhưng lại bị tước quyền công dân với đặc điểm phân biệt là mắt xanh và ngôn ngữ riêng. Loài Guado có dáng vẻ ít giống với con người hơn, với những ngón tay dài và nhiều điểm khác biệt nữa. Họ cũng có xu hướng tự nhiên về sử dụng phép thuật và những con quái vật phù phép. Tuy nhiên những sinh vật ít giống với con người vẫn chiến số đông, như loài Ronso giống sư tử, và loài Hypello giống ếch. Một nhóm nhỏ của những loài có tư duy ở Spira là loài "unsent"—những linh hồn với ý chí mạnh mẽ của những người chết tồn tại ở dạng hữu hình. Người ta giải thích rằng những người đã chết mà không được "gửi" tới Farplane bởi một summoner thì sẽ nhập vào những sinh vật sống và biến thành "fiends", những con quái vật bắt được gặp trong suốt game. Tuy nhiên, những con fiends có sự liên kết chặt chẽ sẽ tồn tại ở dạng con người "unsent" (chưa được gửi đi). Những loài động vật khác ở Spira, ngoài những loài được vẽ từ những con vật thật như mèo, chó, chim, và bướm, bao gồm loài gigantic, loài lưỡng cư "shoopuf", và loài chocobo giống emu, mà xuất hiện trong phần lớn các games Final Fantasy. Cả hai đều được sử dụng cho mục đích vận chuyển là chính. Phần lớn những sinh vật không bình thường khác được bắt gặp trong Final Fantasy X là những con fiends nói trên.

Thế giới Spira rất khác trong các thế giới kiểu châu Âu được tìm thấy trong những games Final Fantasy games trước kia, nhưng tới phiên bản này lại trở nên giống với kiểu mẫu ở Đông Nam Á hơn nhiều, đáng chú ý nhất là sự tôn trọng thực vật, địa hình, kiến trúc, và những cái tên. Nhà thiết kế nhân vật Tetsuya Nomura đã công nhận Australasia, Thái Lan, và Nhật Bản là yếu tố ảnh hưởng chính tới thiết kế văn hoá và địa lí của Spira, đặc biệt quan tâm tới vị trí địa lí của những đảo phía nam: Besaid và Kilika. Ông ta cũng nói rằng Spira khác thế giới của những games Final Fantasy trước kia ở cấp độ kết hợp chi tiết, một vài thứ ông ta nói là để tạo ra một tác động ý thức để bảo trì trong quá trình thiết kế[6]. Nhà sản xuất Yoshinori Kitase cảm thấy nếu các cài đặt trở lại thời Trung Cổ giả tưởng của châu Âu, thì dường như nó sẽ không giúp nhóm phát triển trò chơi tiến bộ. Trong khi ông ta đang nghĩ về những môi trường thế giới khác nhau, nhà viết kịch bản Kazushige Nojima gợi ý một thế giới giả tưởng có những yếu tố châu Á[7].

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Bảy nhân vật chính có thể chơi được trong Final Fantasy XTidus, một ngôi sao blitzball mạnh mẽ và lạc quan; Yuna, một summoner kín đáo và nói nhỏ mà luôn luôn đặt người khác lên trên bản thân cô ta; Kimahri Ronso, một kẻ bị đày ải của tộc Ronso được giao trọng trách bảo vệ Yuna lên trên hết tất cả; Wakka, một người chơi blitzball và là một tay sai trung thành mệnh lệnh của Yevon; Lulu, a stoic and self-possessed, nhưng lại là một Black Mage đúng nghĩa; Auron, nguyên là một tu sĩ chiến binh ít nói; và Rikku, một cô gái Al Bhed vênh váo với hiểu biết sâu rộng về máy móc. Nhân vật phản diện chính của game là giáo chủ Seymour Guado và những giáo chủ khác của giáo phái Yevon, trong khi con quái vật khổng lồ giống cá voi Sin phục vụ như nguồn mâu thuẫn chính.

Trọng tâm của trưởng thiết kế nhân vật phụ Fumi Nakashima là đảm bảo rằng các nhân vật từ nhiều vùng và văn hoá khác nhau được nhận dạng thông qua kiểu trang phục, nhờ đó chúng có thể được nhận ra một cách nhanh chóng và dễ dàng là những thành viên của những nhóm nhỏ tương ứng. Ví dụ, cô ta nói rằng mặt nạ và kính của tộc Al Bhed đem lại cho nhóm này một dáng vẻ "lạ lùng và lập dị", trong khi trang phục của tộc Ronso khiến họ dễ được nhìn thấy trong trận chiến[8].

Câu chuyện[sửa | sửa mã nguồn]

Final Fantasy X bắt đầu ở đoạn cuối câu chuyện, với nhân vật chính, Tidus, chờ đợi cùng những người bạn bên ngoài thành phố đổ nát Zanarkand. Tidus kể lại một loạt các sự kiện dẫn tới hoành cảnh hiện thời của anh ta, mà kéo dài ra phần lớn cốt truyện của game. Nó bắt đầu tại thành phố quê hương Tidus, thành phố công nghệ cao và chưa bị phá huỷ Zanarkand, nơi anh ta là một ngôi sao nổi tiếng của môn thể thao dưới nước blitzball. Trong một cuộc thi đấu blitzball, thành phố bị tấn công bởi một sinh vật to lớn trốn dưới nước được biết đến với cái tên Sin. Thành phố bị phá huỷ, và Tidus và Auron bị Sin đưa tới thế giới Spira.

Sau khi tới Spira, Tidus được giải cứu bởi các thợ lặn Al Bhed trong khu vực, và nhờ vào việc hỏi xem anh ta từ đâu tới, một trong số họ, Rikku, nói với anh ta rằng Zanarkand đã bị phá huỷ trước đó 1000 năm. Sau một vụ tấn công khác bởi Sin, Tidus bị tách ra khỏi các thợ lặn và trôi dạt vào hòn đảo nhiệt đới Besaid, nơi anh ta gặp Wakka, đội trưởng của đội blitzball địa phương. Wakka giới thiệu Tidus cho Yuna, một summoner trẻ tuổi đang dự tính một cuộc hành trình tới thành phố hoang phế Zanarkand để đoạt lấy "Aeon cuối cùng", vũ khí duy nhất có thể đánh bại Sin, con quái vật được miêu tả là sự trừng phạt của loài người vì những tội ác của họ. Đi cùng Yuna là các cận vệ của cô, Lulu, Wakka, và Kimahri[9]. Nhóm của họ du hành để tập kết các aeons, để phòng vệ và chống trả các đợt tấn công của Sin. Sau đó họ gặp Auron, một người sau này gia nhập vào nhóm. Anh ta tiết lộ cho Tidus rằng cha của Yuna, chúa tể Braska; cha của Tidus, Jecht; và chính anh ta đã có một cuộc hành trình và đánh bại Sin mười năm về trước[10]. Tidus đã cho rằng cha anh ta chết ở biển mười năm trước đó[11]. Sau nhiều cuộc chạm trán với Sin, Rikku đã tham gia cùng với họ, người mà được tiết lộ rằng là em họ của Yuna[12]. Trong cuộc hành trình, Tidus và Yuna thân thiết với nhau thông qua những kinh nghiệm chia sẻ và sở thích chung của họ.

Khi nhóm bạn đến thành phố Guado Guadosalam, Seymour cầu hôn Yuna, và cô cho cả nhóm biết về dự định cưới anh ta để đem lại hi vọng cho Spira. Sự giúp đỡ của Seymour, Tromell, dẫn đường cả nhóm tới ngôi đền của thành phố Guadosalam, nơi họ nhìn thấy một thông điệp từ người cha quá cố của Seymour. Ông ta nói rằng ông ta đã bị con trai giết hại, và bản chất tội lỗi của Seymour sẽ phá huỷ Spira[13]. Nhóm bạn giao chiến với Seymour trong một trận đánh và giết hắn ta; ngay sau đó, Sin tấn công nhóm bạn và họ bị mất liên lạc với Yuna. Rikku dẫn đường nhóm bạn tới Al Bhed "Home", đang bị các chiến binh Yevonite tấn công. Trong khi tìm kiếm căn cứ của Home, Tidus biết được rằng một summoner phải đem cả mạng sống của họ ra để thực hiện "lần gọi quái vật cuối cùng", dẫn tới ước muốn của anh ta là tìm cách đánh bại Sin mà Yuna không phải chết. Sử dụng phi thuyền của Al Bhed, họ thoát khỏi căn cứ trước khi nó bị phá huỷ. Nhóm bạn tìm thấy Yuna ở Bevelle, nơi cô ta bị ép buộc phải lấy unsent Seymour lúc này. Họ làm gián đoạn đám cưới và trốn thoát với Yuna tới núi Gagazet, nơi Seymour đã giết hại bộ tộc Ronso; sau khi đánh bại hắn ta một lần nữa, nhóm bạn thẳng tiến tới Zanarkand.

Tidus biết được rằng anh ta, Jecht, và thành phố Zanarkand nơi họ sinh ra đều là những thực thể được gọi ra có liên quan tới aeons [14]. Xưa kia, một summoner có tên Yevon đã biến những người sống sót của thành phố thành "fayth" nhờ đó ông ta có thể sử dụng trí nhớ của họ về Zanarkand để tạo ra một thành phố mới bằng bức ảnh của nó, thoát khỏi cuộc chiến tại lục địa Spira [15]. Sin cũng được tạo ra, được Yevon cho hình hài để phục vụ như một chiếc áo giáp; bảo vệ ông ta và những người fayth. Trong khi tiếp tục gọi Dream Zanarkand, Yevon mất hết nhân tính và được biết tới như Yu Yevon, một sinh vật sống đơn độc để duy trì sự tồn tại của Deam Zanarkand[16]. Mục đích chính của Sin không phải là trừng phạt những tội ác của loài người, mà là ngăn cản không cho ai biết được sự tồn tại của Dream Zanarkand bằng cách cố chấp tấn công các cư dân Spira.

Một khi người chơi hoàn thành cuộc hành trình của Yuna, Lady Yunalasca—con gái của Yevon và cũng là summoner đầu tiên phải đánh bạn Sin [16]—cho nhóm bạn biết rằng aeon cuối cùng được tạo ra từ linh hồn của một người gần gũi với một summoner. Sau khi đánh bại Sin, linh hồn của Yu Yevon nhập vào aeon, biến nó thành một Sin mới [17]. Nhóm bạn quyết định sử dụng aeon cuối cùng và họ đánh bại Yunalesca. Sau đó học tìm một con đường mới để tiêu diệt Sin vĩnh viễn mà không đòi hỏi sự hi sinh nào cả. Điều này dẫn cả nhóm đột nhập vào cơ thể của Sin và đánh nhau với Seymour, linh hồn bị giam giữ của Jecht, và Yu Vevon. Chu kì hồi sinh của Sin kết thúc, và linh hồn của các fayth ở Spira được tự do khỏi nơi giam giữ, xua tan những quả bóng với ánh sáng lập loè (pyreflies) của aeons, Dream Zanarkand, ‘’’and Tidus in the process’’’. Sau đó, trong một buổi nói chuyện với các công dân Spira, Yuna quyết định giúp đỡ xây dựng lại thế giới mà bây giờ đã được an toàn khỏi Sin. Sau đoạn credits, có một cảnh ngắn với Tidus dưới nước. Anh ta mở mắt mà bắt đầu bơi lên, và màn hình chuyển dần sang màu trắng. Cảnh này ‘’’segues into’’’ phần tiếp theo, Final Fantasy X-2, mà Yuna điều tra được rằng Tidus có thể còn sống để tiếp tục mối quan hệ của họ.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Việc phát triển Final Fantasy X bắt đầu từ năm 1999, giá trị xấp xỉ ¥4 tỉ (xấp xỉ US$32.3 triệu)[18]. với một nhóm hơn 100 người, phần lớn trong số họ làm việc trong những games trước của series. Executive producer Sakaguchi Hironobu đã phát biểu rằng mặc dù ông ta lo lắng về việc chuyển nền từ 2D lên 3D, việc lông tiếng, và việc chuyển thành kể chuyện thời gian thực (real-time story-telling), thành công của Final Fantasy series có thể được cho là không ngớt thách thức nhóm phát triển thử nghiệm những thứ mới[19]. Nhà viết kịch bản Kazushige Nojima đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng một kết nối trong mối quan hệ giữa người chơi và nhân vật chính. Do đó, ông ta sáng tác câu chuyện khiến người chơi dần dần khám phá thế giới và thu được những kiến thức về sự tương phản giữa hiểu biết của Tidus với câu chuyện của anh ta[20]. Ban đầu game này có các yếu tố online, nhưng chũng đã bị bỏ đi trong quá trình sản xuất, và việc chơi game online đã không trở thành một phần của Final Fantasy series cho tới tận Final Fantasy XI[21].

Đạo diễn bản đồ Takayoshi Nakazato muốn bổ sung khái niệm bản đồ thế giới để nó giống với thực tế hơn bản đồ trong game Final Fantasy truyền thống, cùng với tính thực tế trong nền 3D của game, đối lập với những nền đã được tạo ra trước đó[22]. Là một người chơi các games trong Final Fantasy series, đạo diễn trận đấu Toshiro Tsuchida muốn tái tạo các yếu tố mà ông ta cho là hay hoặc ông ta cảm thấy thú vị, cuối cùng dẫn tới việc xoá bỏ hệ thống Active Time Battle (ATB), và thay vào đó, thêm vào hệ thống Conditional Turn-Based (CTB) tập trung vào chiến thuật[23]. Ban đầu, Final Fantasy X được dự tính có những kẻ địch lang thang có thể nhìn thấy được trên khu vực bản đồ, chuyển thẳng vào trận đấu không qua cắt cảnh, và người chơi có quyền lựa chọn di chuyển xung quanh vùng trong khi gặp phải kẻ thù [24]. Đạo diễn nghệ thuật trận đánh Shintaro Takai đã giải thích rằng ý đồ của ông ta là các trận đánh trong Final Fantasy X diễn ra như một phần tự nhiên của cốt truyện và không phải là một yếu tố không phụ thuộc [25]. Tuy nhiên, do sự giới hạn vể phần cứng và hệ thống, những ý tưởng đó đã không được sử dụng cho đến tận Final Fantasy XIFinal Fantasy XII. Thay vào đó, người ta đã tạo ra một sự dàn xếp, nhờ đó sự chuyển tiếp từ màn hình chiến trường trở thành đấu trường đã được tạo ra gần như nối tiếp với một hiệu ứng mờ ảo [26]. Mong muốn tạo ra sự chuyển tiếp không cắt cảnh cũng dẫn tới việc bổ sung hệ thống gọi quái vật được nhìn thấy trong game [25]. Yoshinori Kitase giải thích rằng mục đích phía sau Shere Grid là mang lại cho người chơi những ý nghĩa tương tác trong việc tăng các chỉ số của nhân vật, như là họ có thể trực tiếp quan sát được việc phát triển những chỉ số này [27].

Final Fantasy X có một sự đổi mới trong việc tạo ra khả năng biểu lộ tình cảm qua nét mặt của nhân vật, đạt được qua công nghệ motion captureskeletal animation[28][29]. Công nghệ này cho phép người thiết kế hình ảnh có thể tạo ra việc máy môi như thật, mà sao đó được lập trình để trùng với lời thoại được lồng bởi các diễn viên lồng tiếng game. Nojima tiết lộ rằng sự có mặt của việc lồng tiếng cho phép ông ta diễn tả tình cảm chân thực hơn trước đó, và do đó ông ta có thể để cốt truyện đơn giản. Ông ta cũng nói rằng sự hiện diện của những diễn viên lồng tiếng khiến ông ta tạo ra nhiều thay đổi script, để phù hợp với cá tính của diễn viên lồng tiếng với nhân vật mà họ đang đóng vai[30]. Tuy nhiên sự có mặt của lời thoại lại mang đến những khó khăn. Với những đoạn cắt cảnh đã được lập trình sẵn dành cho việc lồng tiếng Nhật, đội ngũ chuyển và lồng tiếng Anh đối mặt với khó khăn trong việc xây dựng những đoạn đối thoại tiếng Anh và chướng ngại trong việc kết hợp những từ ngữ đã thay đổi với nhịp điệu và thời gian máy môi của nhân vật. Chuyên gia chuyển và lồng tiếng Alexander O. Smith mô tả quá trình khớp lời thoại tiếng Anh vào game như là "một thứ gì đó giống như là viết bốn hay năm bộ films bằng những đoạn đối thoại theo kiểu thơ haiku [và] tất nhiên các diễn viên phải diễn, và diễn tốt, với những trở ngại này"[24].

Âm thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Final Fantasy X đánh dấu lần đầu tiên người thường soạn nhạc cho series Nobuo Uematsu phải có sự trợ giúp soạn nhạc cho game trong series chính. Cộng sự sáng tác cho Final Fantasy X của ông ta là Masashi HamauzuJunya Nakano[31]. Họ được chọn để tạo soundtrack dựa trên khả năng soạn nhạc của họ, tuy khác với phong cách của Uematsu trong khi vẫn có thể làm việc cùng nhau[32].

Game này có ba bài hát có lời, bao gồm bài hát J-pop ballad "Suteki da ne", có thể dịch là "Isn't it Wonderful?". Lời bài hát được viết bởi Kazushige Nojima, và phần nhạc được Uematsu sáng tác. Bài hát được biểu diễn bởi ca sĩ nhạc folk người Nhật Rikki, ca sĩ được đội phụ trách âm nhạc liên hệ trong khi tìm một ca sĩ có giọng mang âm hưởng Okinawa[33]. "Suteki da ne" cũng được hát bằng tiếng Nhật trong phiên bản tiếng Anh của Final Fantasy X. Giống như "Eyes on Me" từ Final Fantasy VIII và "Melodies of Life" từ Final Fantasy IX, một phiên bản phối âm của "Suteki da ne" được dùng làm một phần của đoạn kết. Những bài hát có lời khác mà được dùng để mở đầu game thuộc thể loại heavy metal, "Otherworld", hát bằng tiếng Anh bởi Bill Muir, và "Hymn of the Fayth", một bản nhạc cầu siêu được viết theo các vần trong tiếng Nhật[34].

Các phiên bản và việc buôn bán[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản tiếng Nhật của Final Fantasy X có thêm một đĩa với tiêu đề "The Other Side of Final Fantasy", gồm có các cuộc phỏng vấn, storyboards, và trailers cho Blue Wing Blitz, Kingdom Hearts, và Final Fantasy: The Spirits Within, cũng như cảnh đầu tiên của Final Fantasy XI[35]. Một phiên bản quốc tế của game đã được phát hành tại Nhật Bản với cái tên "Final Fantasy X International" vào tháng 01/2002, và trên lãnh thổ PAL dưới tên gốc. Nó có những nội dung không có trong phát hành NTSC, gồm có các trận đánh với phiên bản "tối" của aeon trong game và một phi thuyền chiến đấu với superboss "Penance"[5] Phát hành Final Fantasy X International của Nhật Bản cũng có "Eternal Calm", một video clip dài 14 phút nối câu chuyện của Final Fantasy X với câu chuyện của phần tiếp theo, Final Fantasy X-2[36] Video clip này có trong một DVD tặng thêm trong Unlimited Saga Collector's Edition dưới cái tên Eternal Calm, Final Fantasy X-2: Prologue. Nó được phát hành lần đầu tại châu Âu vào 10/31/2003, và có thuyết minh tiếng Anh[37].

Các phiên bản quốc tế và PAL có một DVD tặng thêm được gọi là Beyond Final Fantasy, một đĩa bao gồm các cuộc phỏng vấn với những người phát triển game, và hai trong số những diễ̃n viên lồng tiếng Anh, James Arnold Taylor (Tidus) và Hedy Burress (Yuna). Cũng có cả các trailers của Final Fantasy XKingdom Hearts, một khái niệm và thư viện ảnh quảng cáo cho game, và một video âm nhạc "Suteki da ne" được trình bày bởi Rikki[38]. Vào năm 2005, một bản dịch bao gồm Final Fantasy XFinal Fantasy X-2 được phát hành tại Nhật Bản với cái tên Final Fantasy X/X-2 Ultimate Box[39].

Square cũng sản xuất nhiều loại hàng hoá [40]. và vài cuốn sách, bao gồm The Art of Final Fantasy X và ba sách hướng dẫn Ultimania, một series tranh ảnh/hướng dẫn chiến thuật được xuất bản bởi DigiCube tại Nhật Bản. Chúng có những tấm ảnh gốc của Final Fantasy X, đề nghị xem qua gameplay, mở rộng nhiều lĩnh vực của cốt truyện và có vài cuộc phỏng vấn với những người thiết kế game. Có ba cuốn sách trong series: Final Fantasy X Scenario Ultimania, Final Fantasy X Battle Ultimania, và Final Fantasy X Ultimania Ω[41][42].

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Final Fantasy X được đón nhận nồng nhiệt bởi các phương tiện, và có doanh thu cao. Trong bốn ngày phát hành tại Nhật Bản, game này đã bán được hơn 1.4 triệ̣u bản copy qua phương thức đặt hàng trước[43]. Việc này vượt qua cả kì tích của Final Fantasy VIIFinal Fantasy IX vào thời điểm tương tự,[44]. và Final Fantasy X trở thành game PlayStation 2 đầu tiên đạt mốc bán được hai và bốn triệu bản copy[45].[46]. Vào tháng 11/2007, game này được liệt vào vào vị trí số tám trong danh sách các games bán chạy nhất dành cho PlayStation 2[47]. Game này đã bán được 6.6 triệu bản copy vào tháng 01/2004[48]. Final Fantasy X nhận được giải game hay nhất từ CESA GAME AWARDS cho năm 2001-2002[49]. Final Fantasy X đứng ở vị trí số ba trong danh sách "Top 25 PS2 Games của mọi thời đại" của IGN vào năm 2007[50]. Tại Interactive Achievement Awards lần thứ sáu vào năm 2003, nó được đề cử cho giải thường "Outstanding Achievement in Animation" và "game nhập vai dành cho thiết bị chơi game của năm"[51].

Phê bình[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá
Tổng số điểm
Tổng hợp Điểm số
GameRankings 91%[52].
Metacritic 92 out of 100[53].
Điểm đánh giá
Nơi đánh giá Điểm số
Edge 6 out of 10[54]
Eurogamer 9 out of 10[55].
Famitsu 39 out of 40[56].
Game Informer 9.75 out of 10[57].
GameSpot 9.3 out of 10[58].
GameSpy 4 out of 5[59]
IGN 9.5 out of 10[31].

Phê bình của Nhật Bản và phương Tây nói chung đem lại cho Final Fantasy X điểm phê bình cao. Tạp chí video game Nhật Bản FamitsuFamitsu PS2 cho game này một điểm số gần như hoàn hảo 39/40,[60]. và độc giả của tạp chí này bình chọn nó là game hay nhất mọi thời đại vào đầu năm 2006[61]. Một tạp chí gaming khác của Nhật Bản, The Play Station, cho game này 29/30 điểm. Famitsu, Famitsu PS2, và The Play Station có những phản hồi đặc biệt thuận lợi về cốt truyện, hình ảnh, và các đoạn phim trong game.[60]

David Smith của IGN đã đưa ra lời khen dành cho các diễn viên lồng tiếng và sự đổi mới trong gameplay, đặc biệt là với trận đấu và hệ thống gọi quái vật phép thuật đã được sửa lại, một lựa chọn thay đổi thành viên trong nhóm khi chiến đấu, và hệ thống phát triển nhân vật cũng như hệ thống quản lí túi đồ. Họ cũng cảm thấy đồ hoạ của game được cải thiện hơn những thế hệ trước của nó trong tất cả các mặt nếu có thể, và game này là "game trông đẹp nhất của series [và] cũng có thể cho là được chơi nhiều nhất"[31]. Greg Kasavin của GameSpot ca ngợi cốt truyện của game, cho răng nó quá phức tạp, kết thúc có hậu, và việc nó tránh được lối mòn của game nhập vai là đáng tuyên dương. Ông ta cũng ca ngợi phần âm nhạc, cảm thấy nó "thay đổi linh hoạt để phù hợp với vô số cảnh quay trong game"[58] Hình ảnh của game được khen ngợi bởi Raymond Padilla của GameSpy, người đề cập tới chúng như là "đỉnh cao", cũng như đưa ra lời khen về kiểu dáng nhân vật, hình nền, cắt cảnh, và các động tác[59].

Bản tiếng Anh của tạp chí Edge đánh giá game này thấp hơn đáng kể, phê bình nó vì không đem lại trải nghiệm chơi game thế hệ tiếp theo. Tạp chí này cho rằng hệ thống chiến trận của game là "chẳng phức tạp hơn là bao" so với hệ thống trong những phiên bản trước của series, và lời thoại nghe "buồn nôn"[54]. Andrew Reiner của Game Informer phê bình về tính tuyến tính của game và người chơi không thể đi lại trong thế giới bằng chocobo hay điều khiển phi thuyền[57] Tom Bramwell của Eurogamer đã viết rằng những phần câu đố của trò chơi rất "nhàm chán" và "không cần thiết", và mặc dù Sphere Grid là "một thứ mới lạ", nhưng nó đã lấy đi quá nhiều không gian của game[55]

Kế thừa[sửa | sửa mã nguồn]

Nhờ thành công cả về thương mại lẫn phê bình của nó, Square Enix phát hành phần tiếp theo cho Final Fantasy X vào năm 2003, có tiêu đề là Final Fantasy X-2[36]. Phần tiếp theo được đặt hai năm sau đoạn kết của Final Fantasy X, gây dựng nhữn mâu thuẫn và hoàn cảnh mới và giải quyết kết thúc không chặt chẽ bị bỏ lại bởi game gốc. Kết quả cho sự nổi tiếng của cái tên là, Yoshinori KitaseKazushige Nojima quyết định xây dựng một kết nối cốt truyện có liên quan giữa Final Fantasy XFinal Fantasy VII, một game Final Fantasy được đón nhận nồng nhiệt khác[62].

Sự tiến bộ trong việc miêu tả những cảm xúc chân thực đạt được trong Final Fantasy X qua thuyết minh và việc diễn tả bằng nét mặt từ đó trở thành một yếu tố chính của series, với Final Fantasy X-2 và những sản phẩm sau này (như là Dirge of Cerberus: Final Fantasy VIIFinal Fantasy XII) cũng có sự phát triển này. Sử dụng môi trường 3D thời gian thực thay thế bản đồ thế giới từ đó cũng trở thành một chuẩn mực của series, được thấy rõ trong cả Final Fantasy XIFinal Fantasy XII.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Final Fantasy X (10) [PS2 - Proto / Beta]”. Unseen64.net. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2008. 
  2. ^ Zdyrko, Dave (26 tháng 11 năm 2001). “Final Fantasy X Preview”. IGN. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2008. 
  3. ^ a ă Tsai, Andy; Bomke, Christine. “Guides: Final Fantasy X - Game Systems”. IGN. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2008. 
  4. ^ Tsai, Andy; Bomke, Christine. “Guides: Final Fantasy X - Sphere Grid”. IGN. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2008. 
  5. ^ a ă Clark, James Quentin (6 tháng 10 năm 2008). “Final Fantasy X International”. RPGFan. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008. 
  6. ^ “Character::Tetsuya Nomura-Character Designer”. Square Enix. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  7. ^ “The Producer::Yoshinori Kitase”. Square Enix. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  8. ^ “Character::Fumi Nakashima-Sub-Character Chief Designer”. Square Enix. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  9. ^ “Tidus (Final Fantasy X) Biography”. IGN. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008. 
  10. ^ Square Co (20 tháng 12 năm 2001). Final Fantasy X. PlayStation 2. Square EA. “Tidus: Hey man, there's no way. That's just impossible. / Auron: Nothing impossible about it. Jecht, Braska, and I... Together we defeated Sin, ten years ago.” 
  11. ^ Square Co (20 tháng 12 năm 2001). Final Fantasy X. PlayStation 2. Square EA. “Tidus: Sounds like him, but it can't be him. / Yuna: Why not? / Tidus: My old man, he died. Ten years ago, off the coast of Zanarkand. / Yuna: I'm sorry. / Tidus: He went out to sea for training one day... and never came back. And no one's seen him since then. / Yuna: Why, that's the day that Jecht came to Spira. It's true! I first met Jecht ten years and three months ago!” 
  12. ^ Square Co (20 tháng 12 năm 2001). Final Fantasy X. PlayStation 2. Square EA. “Rikku: Hey, do I look like Yunie, you think? / Tidus: (Huh?) / Rikku: Well, my dad's sister is Yunie's mother, you get it?” 
  13. ^ Square Co (20 tháng 12 năm 2001). Final Fantasy X. PlayStation 2. Square EA. “Jyscal: Listen to me very carefully, for I shall tell you the truth about my son, Seymour. His mind is closed even to me, a master of Yevon. But I can feel flames of darkness burning in his heart. He is using Yevon, the Guado, and even the summoners. If he is not stopped, he will surely bring destruction and chaos to Spira. I will leave this world soon, killed by my own son.” 
  14. ^ Square Co (20 tháng 12 năm 2001). Final Fantasy X. PlayStation 2. Square EA. “Tidus: Wait... this is a dream. / Fayth: Precisely. / Tidus: A dream? Are you crazy? I don't have time to be dreaming now! / Fayth: You're wrong. It's not that you're dreaming. You are a dream.” 
  15. ^ Studio BentStuff biên tập (2001). Final Fantasy X Ultimania Ω (bằng tiếng Nhật). DigiCube. tr. 84. ISBN 4-88787-021-3. 
  16. ^ a ă Studio BentStuff biên tập (2001). Final Fantasy X Ultimania Ω (bằng tiếng Nhật). DigiCube. tr. 82. ISBN 4-88787-021-3. 
  17. ^ Square Co (20 tháng 12 năm 2001). Final Fantasy X. PlayStation 2. Square EA. “Yunalesca: Sin is eternal. Every aeon that defeats it becomes Sin it its place... And thus is Sin reborn. / Tidus: So that's why Jecht became Sin. / Yunalesca: Sin is an inevitable part of Spira's destiny. It is neverending.” 
  18. ^ Long, Andrew. “Financial Fantasy X”. RPGamer. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2008. 
  19. ^ “Hironobu Sakaguchi - Executive Producer”. Square Enix. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  20. ^ “Kazushige Nojima - Scenario”. Square Enix. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  21. ^ Avistetto, Jimmy. “Final Fantasy X Not Online-Capable”. RPGamer. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008. 
  22. ^ “Field::Takayoshi Nakazato-Director”. Square Enix. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  23. ^ “Toshiro Tsuchida - Director -Battle-”. Square Enix. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  24. ^ a ă Birlew, Dan (2001). Final Fantasy X Official Strategy Guide. BradyGames. tr. 268. ISBN 0-7440-0140-4. 
  25. ^ a ă “Shintaro Takai - Art Director -Battle-”. Square Enix. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  26. ^ “Takashi Katano - Main Programmer”. Square Enix. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  27. ^ Birlew, Dan (2001). Final Fantasy X Official Strategy Guide. BradyGames. tr. 266. ISBN 0-7440-0140-4. 
  28. ^ “Motomu Toriyama - Director -Event-”. Square Enix. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  29. ^ “Character::Koji Sugimoto-Main Programmer”. Square Enix. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  30. ^ GameSpot Staff (30 tháng 11 năm 2001). “Final Fantasy X”. GameSpot. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008. 
  31. ^ a ă â Smith, Daniel (18 tháng 12 năm 2001). “IGN: Final Fantasy X Review”. IGN. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2009. 
  32. ^ Huang, Michael. “Interview by RocketBaby.net”. nobuouematsu.com. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008. 
  33. ^ “Nobuo Uematsu - Sound Producer & Music”. Square Enix. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  34. ^ Gaan, Patrick; Schweitzer, Ben. “Final Fantasy X OST”. RPGFan. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2008. 
  35. ^ Chronologist (19 tháng 7 năm 2001). “Final Fantasy X Ships, Includes FFXI Trailer”. RPGFan. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008. 
  36. ^ a ă Dunham, Jeremy (24 tháng 11 năm 2003). “Final Fantasy X-2 Developer Interview”. IGN. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  37. ^ Calvert, Justin (10 tháng 9 năm 2003). “Final Fantasy X-2: Prologue for US and Europe”. GameSpot. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2008. 
  38. ^ Witham, Joseph. “Final Fantasy X International Europe Bound”. RPGamer. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008. 
  39. ^ Gantayat, Anoop (1 tháng 7 năm 2005). “Square Enix Announces Ultimate Hits Collection”. IGN. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008. 
  40. ^ “Final Fantasy X”. Square Enix. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2008. 
  41. ^ IGN Staff (20 tháng 8 năm 2001). “Final Fantasy X Ultimania Guide”. IGN. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2008. 
  42. ^ “Final Fantasy X Ultimania Omega (Tankōbon Softcover)”. Amazon.com. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2008. 
  43. ^ IGN Staff (19 tháng 7 năm 2001). “Final Fantasy X Sells Like Crazy; World Not Shocked”. IGN. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  44. ^ IGN Staff (24 tháng 7 năm 2001). “Final Fantasy X Approaches 2 Million Copies Sold”. IGN. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  45. ^ IGN Staff (7 tháng 1 năm 2001). “FFX Tops Sales Charts”. IGN. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  46. ^ Varanini, Giancarlo (30 tháng 1 năm 2002). “Final Fantasy X sales meet expectations”. GameSpot. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  47. ^ Androvich, Mark (26 tháng 10 năm 2007). “PS2 celebrates 7th anniversary”. Gamesindustry.biz. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  48. ^ Calvert, Justin (20 tháng 1 năm 2004). “Final Fantasy X-2 sells a million”. GameSpot. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  49. ^ “最優秀賞は「FF10」!! 「第6回 CESA GAME AWARDS」授賞式”. GPARA.COM. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2009. 
  50. ^ IGN PlayStation Team (16 tháng 3 năm 2007). “The Top 25 PS2 Games of All Time”. IGN. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  51. ^ “AIAS ANNUAL AWARDS > 6TH ANNUAL AWARDS”. Academy of Interactive Arts & Sciences. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2008. 
  52. ^ “Final Fantasy X Reviews”. Game Rankings. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  53. ^ “Final Fantasy X (ps2: 2001): Reviews”. Metacritic. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008. 
  54. ^ a ă Editors of Edge magazine biên tập (2002). Edge February 2002; issue 107. Future plc. tr. 76–77. 
  55. ^ a ă Bramwell, Tom (16 tháng 6 năm 2002). “Final Fantasy X Review”. Eurogamer. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008. 
  56. ^ “Final Fantasy - famitsu Scores Archive”. Famitsu Scores Archive. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2008. 
  57. ^ a ă Leeper, Justin. “Final Fantasy X”. Game Informer. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008. 
  58. ^ a ă Kasavin, Greg (14 tháng 12 năm 2001). “Final Fantasy X Review”. GameSpot. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008. 
  59. ^ a ă Padilla, Raymond (15 tháng 12 năm 2001). “Final Fantasy X Review”. GameSpy. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2008. 
  60. ^ a ă IGN Staff (13 tháng 7 năm 2001). “Final Fantasy X Gets Rated in Japan”. IGN. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  61. ^ Edge Staff (3 tháng 3 năm 2006). “Japan Votes on All Time Top 100”. Edge. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2008. 
  62. ^ Studio BentStuff biên tập (2001). Final Fantasy X Ultimania Ω (bằng tiếng Nhật). DigiCube. tr. 191. ISBN 4-88787-021-3. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]