Gjirokastër

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gjirokastër
—  Đô thị  —
Gjirokastër nhìn thấy từ lâu đài
Gjirokastër nhìn thấy từ lâu đài
Gjirokastër trên bản đồ Albania
Gjirokastër
Gjirokastër
Bản đồ thể hiện vị trí của đô thị ở Gjirokastër, Albania
Tọa độ: 40°04′B 20°08′Đ / 40,067°B 20,133°Đ / 40.067; 20.133Tọa độ: 40°04′B 20°08′Đ / 40,067°B 20,133°Đ / 40.067; 20.133
Quốc gia  Albania
Hạt Gjirokastër
Quận Gjirokastër
Chính quyền
 - Thị trưởng Flamur Bime
Độ cao 300 m (984 ft)
Dân số (2009)[1]
 - Tổng cộng 43,095 người
Mã điện thoại 084
Thành phố kết nghĩa Casale Monferrato, Q56071[?], Sarandë sửa dữ liệu
Website: www.gjirokastra.org
Trung tâm lịch sử của Berat và Gjirokastra
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
Gjiro1.jpg
Quốc gia  Albania
Kiểu Văn hóa
Hạng mục iii, iv
Tham khảo 569
Vùng UNESCO châu Âu
Lịch sử công nhận
Công nhận 2005 (kì thứ 29th)
Mở rộng 2008

Gjirokastër (còn được gọi bằng nhiều tên khác như Gjirokastra) là một thành phố ở miền nam Albania với dân số khoảng 43.000 người. Nằm trong khu vực lịch sử Epirus, nó là thủ phủ của cả huyện GjirokastërQuận Gjirokastër rộng lớn thuộc hạt Gjirokastër, Albania. Phố cổ của nó được ghi vào danh sách Di sản thế giới của UNESCO như là "một ví dụ hiếm có về một thị trấn được bảo quản tốt dưới thời Ottoman, được xây dựng bởi những người nông dân của vùng." Gjirokastër nằm trong một thung lũng giữa các dãy núi Gjerë và sông Drino, tại độ cao 300 m (984 ft) so với mực nước biển. Thành phố này có lâu đài Gjirokastër nơi Gjirokastër tổ chức sự kiện quốc gia Liên hoan Văn hóa dân gian được tổ chức 5 năm một lần. Gjirokastër là nơi sinh của cựu lãnh đạo cộng sản Albania Enver Hoxha và nhà văn công chúng Ismail Kadare. Về giáo dục, thành phố này có trường Đại học Eqerem Çabej.

Thành phố xuất hiện trong các ghi chép lịch sử vào năm 1336 theo tên Hy Lạp của nó, Argyrokastro,[2] là một phần của Đế chế Byzantine.[3] sau này trở thành trung tâm của công quốc địa phương theo chúa của vùng Albania, Gjon Zenebishi (1373-1417), trước khi thuộc đế chế Ottoman trong 5 thế kỷ tiếp theo.[3] Việc chiếm lại vùng đất của quân đội Hy Lạp trong thời gian chiến tranh vùng Balkan vào lãnh thổ của Hy Lạp,[4] cuối cùng là được đưa vào nhà nước mới độc lập của Albania vào năm 1913. Điều này chứng tỏ rất người dân địa phương rất phổ biến là những người Hy Lạp, những người nổi loạn và sau nhiều năm tháng chiến tranh du kích thành lập trong thời gian ngắn tự trị Cộng hòa Bắc Epirus với thủ phủ Gjirokastër của nó vào năm 1914. Nó được dứt khoát trao cho Albania vào năm 1921.[5] Trong những năm gần đây, thành phố đã chứng kiến ​​cuộc biểu tình chống chính phủ dẫn đến sự bất ổn chính trị lớn ở Albania vào năm 1997.[6]

Cùng với dân Albania, thành phố là nhà của một số ít người Hy Lạp.[7] Gjirokastër cùng với Saranda, được xem là một trong những trung tâm của cộng đồng Hy Lạp tại Albania,[4] và cũng có một lãnh sự quán của Hy Lạp tại đây.[8]

Melani Tekke

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Instat of Albania (2009). “Population by towns” (bằng Albanian). Institute of Statistics of Albania. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2010. 
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Kiel
  3. ^ a ă Ward, Philip (1983). Albania: a travel guide. Oleander Press. tr. 70. ISBN 978-0-906672-41-9. 
  4. ^ a ă James Pettifer. “The Greek Minority in Albania in the Aftermath of Communism” (PDF). Camberley, Surrey: Conflict Studies Research Centre, Royal Military Academy Sandhurst. tr. 6. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2011. “Given its large Greek population, the city of Gjirokaster was a particularly large center of irredentist ambition” 
  5. ^ Miller, William (1966). The Ottoman Empire and Its Successors, 1801-1927. Routledge. tr. 543–544. ISBN 978-0-7146-1974-3. 
  6. ^ Jeffries, Ian (2002). Eastern Europe at the turn of the twenty-first century: a guide to the economies in transition. Routledge. tr. 87. ISBN 978-0-415-23671-3. 
  7. ^ Albania: from anarchy to a Balkan identity Authors Miranda Vickers, James Pettifer Edition 2, illustrated, reprint Publisher C. Hurst & Co. Publishers, 1997 ISBN 1-85065-290-2, ISBN 978-1-85065-290-8 p. 187
  8. ^ Country profile: Bulgaria, Albania. Economist Intelligence Unit, 1996. [1] "Greece has also opened a consulate in the southern town of Gjirokaster, which has a large ethnic Greek population."

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Quận Gjirokastër