Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc

United Nations Security Council
مجلس أمن الأمم المتحدة (tiếng Ả Rập)
联合国安全理事会 (tiếng Trung)
Conseil de sécurité des Nations unies (tiếng Pháp)
Совет Безопасности Организации Объединённых Наций (tiếng Nga)

Consejo de Seguridad de
las Naciones Unidas (tiếng Tây Ban Nha)
United Nations Security Council.jpg
Phòng họp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ở New York, aka Norwegian Room
Loại hình Principal Organ
Lãnh đạo UK
(tháng 11 năm 2010)
Hiện trạng Đang hoạt động
Thành lập 1946
Trang web www.un.org/sc

Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (tiếng Anh: United Nations Security Council, viết tắt UNSC) là cơ quan chính trị quan trọng nhất và hoạt động thường xuyên của Liên Hiệp Quốc, chịu trách nhiệm chính về việc duy trì hoà bìnhan ninh quốc tế. Những nghị quyết của Hội đồng Bảo an được thông qua mà phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc thì bắt buộc các nước hội viên của Liên Hiệp Quốc phải thi hành. Hội đồng Bảo an không phục tùng Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.

Mọi nghị quyết của Hội đồng Bảo an chỉ được thông qua với sự nhất trí của 5 nước thành viên cố định là Mỹ, Anh, Pháp, NgaTrung Quốc[1]. Mỗi khi có một nghị quyết của Hội đồng Bảo an không được thông qua do 1 nước thành viên cố định bỏ phiếu chống, ta nói rằng nước đó đã phủ quyết.

Ngoài 5 thành viên cố định, còn có các nước thành viên không cố định (các thành viên này do các nước luân phiên nhau đảm nhiệm theo kết quả bầu cử tại đại hội đồng). Từ 1946 đến 1965, Hội đồng Bảo an chỉ có 6 thành viên luân phiên (theo bầu cử) nhưng con số này sau đó được mở rộng lên 10 thành viên với định mức cho mỗi khu vực như sau: 2 ghế cho các khu vực châu Phi, châu Á, châu Mỹ, và Tây Âu, 1 ghế cho Đông Âu, và ghế còn lại luân phiên giữa châu Phi và châu Á (hiện đang đến phiên của châu Phi). Các nước thành viên luân phiên được chia thành 2 nhóm với nhiệm kỳ 2 năm xen kẽ nhau, tức mỗi năm có 5 thành viên ra đi để nhường chỗ cho 5 gương mặt mới. Các thành viên hiện tại gồm Bỉ, Indonesia, Ý, Nam Phi, Panama, Nigeria, Brasil, Bosna và Hercegovina, GabonLiban, trong đó 5 nước xếp đầu sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm nay.

Cùng với sự đổi thay của thế giới, Hội đồng Bảo an đang đứng trước yêu cầu phải "làm mới bản thân", trong đó quy mô của số thành viên cố định là một vấn đề gây tranh cãi. Theo một kế hoạch cải tổ được đề xuất gần đây, số thành viên cố định có thể sẽ tăng thêm 5 quốc gia nữa, trong đó các ứng cử viên được đề cập nhiều nhất là Đức, Nhật Bản, Brasil, Ấn Độ và 1 quốc gia châu Phi (có thể là Nam Phi hoặc Nigeria). Gần đây, đại diện của một số quốc gia gợi ý rằng có thể 5 thành viên cố định mới sẽ không được trao quyền phủ quyết. Những đề xuất trên vẫn còn nằm trong vòng tranh cãi.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên họp đầu tiên của Hội đồng Bảo an được triệu tập ngày 17 tháng 1 năm 1946 tại Church House, London.

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Các thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc năm 2006:

   Cố định

   Bầu luân phiên

Thành viên của Hội đồng Bảo an phải có mặt thường trực tại trụ sở Liên Hiệp Quốc để có thể họp bất cứ lúc nào. Yêu cầu này của Hiến chương Liên Hiệp Quốc được chấp nhận nhằm chỉ ra sự yếu kém của Hội Quốc Liên vì cớ tổ chức đó không có khả năng phản ứng kịp thời khi xảy ra khủng hoảng. Chức vụ Chủ tịch Hội đồng Bảo an chỉ kéo dài một tháng và được bổ nhiệm luân phiên, đảm nhiệm những công việc như thiết lập nghị trình, chủ toạ các buổi họp và xem xét, đôn đốc khi xảy ra khủng hoảng. Chức vụ này được bổ nhiệm theo thứ tự trên bảng chữ cái tên của các thành viên (theo tiếng Anh).

Có hai loại thành viên tại Hội đồng Bảo an: Thành viên cố định và Thành viên luân phiên.

Thành viên cố định[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng có 5 thành viên cố định:

Quốc gia Đại diện hiện tại Nhà nước đại diện hiện tại Nhà nước đại diện cũ
 Trung Quốc Lý Bảo Đông[2]  Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1971-nay) Trung Hoa Dân Quốc Trung Hoa Dân Quốc (1946–1971)
 Pháp Gérard Araud[2]  Pháp (1958-nay)  Pháp Đệ tứ Cộng hòa Pháp (1946–1958)
 Nga Vitaly Churkin[2]  Liên bang Nga (1992-nay)  Liên Xô (1946–1991)
 Anh Quốc Sir Mark Lyall Grant[2]  Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (1946-nay)
 Hoa Kỳ Samantha Power  Hoa Kỳ (1946-nay)

Nguyên thủy, các thành viên cố định được chọn từ những cường quốc chiến thắng sau Đệ nhị Thế chiến: Trung Hoa Dân Quốc, Pháp, Liên Xô, Anh và Mỹ. Năm 1971, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được chọn để thế chỗ của Trung Hoa Dân Quốc theo nghị quyết 2758 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Năm 1991, Liên bang Nga giành quyền thành viên Liên Hiệp Quốc của Liên Xô, kể cả chiếc ghế cố định tại Hội đồng Bảo an.

Hiện nay chỉ có năm thành viên này là những quốc gia được phép sở hữu vũ khí hạt nhân chiếu theo Hiệp ước Cấm phổ biến Vũ khí Hạt nhân. Hiệp ước này không có giá trị pháp lý toàn cầu, vì không phải tất cả các quốc gia có vũ khí hạt nhân đều ký phê chuẩn hiệp ước. Mặc dù không phải do sở hữu vũ khí hạt nhân mà các quốc gia này giành được quyền thành viên thường trực, lý do này đôi khi được dùng để biện minh cho vị trí của họ tại Hội đồng. Ấn Độ, Pakistan, có lẽ cả Bắc Triều TiênIsrael (dù Israel chưa bao giờ thừa nhận có vũ khí hạt nhân) là những quốc gia đã thực sự có vũ khí hạt nhân bên ngoài khuôn khổ Hiệp ước Cấm phổ biến Vũ khí Hạt nhân.

Mỗi thành viên cố định đều có quyền phủ quyết, quyền này có thể được dùng để phủ quyết bất kỳ nghị quyết nào. Một phiếu chống có thể phủ quyết ý kiến của đa số (trên lý thuyết, một phiếu phủ quyết chỉ là một phiếu chống, dù vậy chỉ cần một phiếu chống đồng nghĩa với việc nghị quyết không thể được thông qua).

Thành viên được bầu luân phiên[sửa | sửa mã nguồn]

Ghế UNSC được sắp xếp theo khu vực Liên Hiêp Quốc.

   African Group

   Asia-Pacific Group

   Eastern European Group

   Group of Latin American and Caribbean States (GRULAC)

   Western European and Others Group (WEOG)

Có 10 thành viên khác[3] được bầu chọn tại Đại hội đồng cho nhiệm kỳ hai năm, khởi đầu từ ngày 1 tháng 1. Mỗi năm có 5 vị trí bị thay thế. Các thành viên được chọn bởi những nhóm các quốc gia trong cùng một khu vực, rồi được phê chuẩn bởi Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc. Nhóm khu vực châu Phi chọn 2 thành viên; các nhóm Bắc/Nam Mỹ, Á châu và Tây Âu chọn 2 thành viên cho mỗi nhóm; và khu vực Đông Âu chọn cho mình 1 thành viên. Vị trí thứ mười được chọn luân phiên mỗi hai năm một lần giữa các nhóm Á châu, Phi châu mà hiện nay là Phi châu.

Các thành viên không thường trực năm 2011 là:

  • Nhiệm kỳ 2010 - 2011: Bosna và Hercegovina, Brazil, Liban, Nigeria.
  • Nhiệm kỳ 2011 - 2012: Colombia, Đức, Ấn Độ, Bồ Đào Nha, Nam Phi

Cải tổ qui chế thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Lâu nay vẫn có nhiều cuộc tranh luận bàn về việc gia tăng số lượng thành viên cố định. Các quốc gia mạnh mẽ đòi hỏi cho mình vị trí cố định tại Hội đồng là Nhật Bản, Đức và Ấn Độ. Trong thực tế, Nhật và Đức là hai quốc gia đóng góp nhiều thứ nhì và thứ ba cho Liên Hiệp Quốc. Mặt khác, Đức và Ấn Độ có mặt trong số các quốc gia góp quân nhiều nhất cho các sứ mạng gìn giữ hoà bình của Liên Hiệp Quốc.

Cựu Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan đã yêu cầu một nhóm cố vấn nghiên cứu để đưa ra những đề xuất cải tổ Liên Hiệp Quốc vào cuối năm 2004. Một giải pháp đang được xem xét là nâng số thành viên cố định lên con số mười. Năm ứng viên được đề cử là Nhật Bản, Đức, Ấn Độ, Brasil (được biết dưới tên Nhóm G4), vị trí còn lại dành cho châu Phi (có phần chắc là Nigeria hoặc Cộng hòa Nam Phi), hoặc là một đại diện từ Liên minh Ả Rập. Ngày 21 tháng 11 năm 2004, nhóm G4 đã ra một thông cáo chung ủng hộ lẫn nhau trong nỗ lực giành bốn vị trí cố định này, cùng với một vị trí dành cho châu Phi. Pháp và Hoa Kỳ tuyên bố ủng hộ ý định trên. Hiện nay đề xuất này đã được chấp thuận bởi hai phần ba thành viên Đại hội đồng với 128 phiếu.

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Nhật là thành viên với mức đóng góp lớn thứ nhì cho ngân sách thường niên của Liên Hiệp Quốc. Số tiền nước Nhật chi cho ngân sách Liên Hiệp Quốc lớn hơn tổng số đóng góp của Anh, Pháp, Trung Quốc và Nga. Nhật cũng có tên trong danh sách những quốc gia tặng dữ lớn nhất cho Quỹ Hỗ trợ Phát triển – ODA (đóng góp bởi Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước Tây Âu, viện trợ cho chính phủ các nước đang phát triển nhằm khuyến khích phát triển kinh tế và phúc lợi tại các quốc gia này). Không có gì đáng ngạc nhiên khi Nhật Bản được xem là ứng viên triển vọng nhất cho ghế ủy viên cố định.

Dù vậy, nỗ lực của Nhật Bản giành vị trí cố định tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc gặp phải sự chống đối mạnh mẽ từ các quốc gia Đông Á, nhất là Trung Quốc, Hàn QuốcBắc Triều Tiên. Riêng Mông Cổ lại ủng hộ Nhật Bản trong nỗ lực này. Vẫn thường diễn ra nhiều cuộc biểu tình chống Nhật tại Trung Quốc và Hàn Quốc. Dù những quốc gia này nối kết sự phản kháng của họ với quá khứ của Nhật Bản trong thời kỳ chiến tranh, nhiều người tin rằng nguyên do ẩn giấu đằng sau, đặc biệt trong trường hợp của Trung Quốc, là những tranh chấp về lãnh thổ.

Trong khi đó, có nhiều quốc gia khác bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ dành cho Nhật Bản. Những nước trong khu vực ủng hộ Nhật gồm có Campuchia, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Singapore, PhilippinesViệt Nam. Những quốc gia khác như Úc, Brasil, Pháp, Đức và Anh cũng bày tỏ lập trường tương tự.

Dù Mỹ mạnh mẽ ủng hộ việc dành cho Nhật Bản chiếc ghế cố định tại Hội đồng Bảo an, nước này lại bác bỏ đề xuất dành quyền cố định đầy đủ cho nhóm G4+1, mà Nhật lại rất cần sự ủng hộ của nhóm này.

Tương tự, Trung Quốc không muốn Nhật có được vị trí cố định. Hai thành viên có quyền phủ quyết này có thể gây nhiều khó khăn cho những cơ may của Nhật. Nga, dù thích thú với việc Nhật là một đối trọng quyền lực với Trung Quốc trong khu vực, lại tỏ ra quan tâm đến mối quan hệ chặt chẽ giữa Nhật và Mỹ.

Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Đức là thành viên đóng góp nhiều thứ ba cho ngân sách Liên Hiệp Quốc. Do vậy, cùng với Nhật Bản, nước này kiên quyết giành vị trí cố định tại Hội đồng Bảo an.

Pháp công khai ủng hộ Đức: "Sự đóng góp tích cực của Đức, tư thế của nước này như một đại cường, ảnh hưởng quốc tế của Đức - nước Pháp muốn thấy quốc gia này được công nhận bằng một ghế cố định tại Hội đồng Bảo an", Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã nói như thế trong một bài diễn văn đọc tại Berlin năm 2000. Cựu Thủ tướng Đức, Gerhard Schröder cũng thừa nhận rằng Nga, cùng các nước khác, ủng hộ Đức. Ngược lại, ÝHà Lan đề nghị nên dành vị trí ấy cho Liên minh châu Âu (EU), để EU trở nên thành viên Âu châu thứ ba tại Hội đồng, cùng với Anh và Pháp. Nhưng cựu ngoại trưởng Đức Joschka Fischer nói rằng Đức sẽ chấp nhận một ghế đại diện cho châu Âu miễn là Anh và Pháp tỏ dấu cho biết họ sẽ từ bỏ vị trí của mình. Ngược lại, Đức, với tư cách là một nước lớn hơn, cần có một ghế tại Hội đồng. Như vậy, trong năm 2004 nước Đức đẩy mạnh hơn chiến dịch vận động của mình. Tháng 8 năm 2004, cựu thủ tướng Gerhard Schröder bày tỏ lập trường hết sức rõ ràng: "Nước Đức có quyền giữ một ghế (tại Hội đồng Bảo an)". Nỗ lực của Đức giành được sự ủng hộ của Nhật, Ấn Độ, Brasil, Pháp, Anh, Nga và những nước khác. Thủ tướng đương nhiệm của Đức, Angela Merkel chưa có ý kiến về vấn đề này.

Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Ấn Độ, một cường quốc có vũ khí hạt nhân, có dân số đông vào hạng thứ hai thế giới (sau Trung Quốc), vì vậy, là nền dân chủ lớn nhất thế giới. Nước này cũng là nền kinh tế lớn thứ tư thế giới tính theo sức mua tương đương (purchasing power parity - PPP), và đang duy trì một lực lượng vũ trang lớn thứ nhì trên thế giới (sau Nga). Ấn Độ nhận được sự ủng hộ công khai của một số thành viên cố định như Pháp, Anh và Nga.

Lúc đầu, Trung Quốc chống Ấn Độ vì những lý do địa-chính trị, gần đây Trung Quốc dần dần thay đổi lập trường từ tiêu cực sang trung dung rồi trở nên tích cực. Ngày 11 tháng 4 năm 2005, Trung Quốc chính thức ủng hộ việc dành cho Ấn Độ một ghế cố định tại Hội đồng Bảo an, miễn là không có phiếu phủ quyết nào. Mặc dù Mỹ không chính thức ủng hộ Ấn Độ - vì nhiều lý do, trong đó có một số không rõ ràng – Mỹ đang đàm phán riêng với Ấn Độ nhằm ủng hộ nước này (nghĩa là Mỹ không dùng quyền phủ quyết). Nếu tính đến số dân đông đảo và sức mạnh kinh tế chính trị đang phát triển, Ân Độ là một ứng viên nhiều triển vọng cho vị trí cố định tại Hội đồng. Một nhân tố khác giúp ích cho cuộc vận động của Ấn Độ là sự kiện nước này là một trong những thành viên sáng lập của Hội đồng và đã tham gia vào các hoạt động của cơ quan này như các chiến dịch tại Cộng hòa Dân chủ Congo, Síp, Campuchia, Yemen, Somalia, Rwanda, Namibia và những nơi khác.

Brasil[sửa | sửa mã nguồn]

Brasil cũng là một ứng viên triển vọng cho vị trí cố định tại Hội đồng. Có những chỉ dấu cho thấy Mỹ tỏ ý muốn ủng hộ Brasil miễn là không có phiếu phủ quyết. Một chọn lựa khả thi khác là Brasil có thể chia sẻ với Argentina cùng một ghế thành viên cố định. Brasil có những thế mạnh của mình khi muốn giành quyền cố định tại Hội đồng. Brasil là quốc gia có diện tích lớn nhất và dân số đông nhất châu Mỹ La tinh. Tuy vậy, nước này không sử dụng tiếng Tây Ban Nha, ngôn ngữ có khả năng kết nối Brasil với phần còn lại của Nam Mỹ (ngoại trừ Guyana). Brasil cũng nhận được sự ủng hộ từ Nga.

Một thành viên đến từ thế giới Hồi giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ sau khi Đế quốc Ottoman sụp đổ, khu vực Trung Đông chịu ảnh hưởng sâu đậm của Hồi giáo là vùng đất triền miên xảy ra những tranh chấp quốc tế. Những xung đột bùng nổ từng hồi từng lúc trong vùng buộc Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc phải can thiệp qua thông nhiều cuộc tranh luận và nhiều nghị quyết. Do đó, triển vọng giới thiệu một quốc gia Hồi giáo cho vị trí cố định tại Hội đồng làm nhiều người lo âu, nhất là khi thành viên này được ban cho đặc quyền phủ quyết.

Bên ngoài thế giới Hồi giáo, đặc biệt là tại Mỹ, những nhà bình luận nêu lên các quan ngại cho rằng một thành viên Hồi giáo có thể sẽ dùng quyền phủ quyết để ngăn cản Liên Hiệp Quốc sử dụng vũ lực tại Trung Đông hoặc tại biên giới giữa các quốc gia Hồi giáo (như trường hợp KashmirChechnya), như vậy sẽ dẫn đến việc vô hiệu hoá sức mạnh của Liên Hiệp Quốc trong khu vực này. Tình trạng thiếu dân chủ tại các quốc gia Trung Đông cũng là một lý cớ khác được các bình luận gia phương Tây đưa ra nhằm chống lại ý tưởng mời các quốc gia này gia nhập câu lạc bộ những thành viên cố định với đặc quyền phủ quyết.

Đồng thời, đề án cải tổ của nhóm G-4 đã chối bỏ quyền có đại diện cố định tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc cho hơn 1,6 tỉ người Hồi giáo trên khắp thế giới. Đây cũng là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong thế giới Hồi giáo và tạo ra ảnh hưởng tiêu cực cho uy tín của Liên Hiệp Quốc khi tổ chức này tham gia giải quyết các điểm nóng xảy ra tại Trung Đông và trong thế giới Hồi giáo. Tháng 6 năm 2005, các ngoại trưởng thuộc Tổ chức Hồi giáo (OIC) ra tuyên bố yêu cầu một ghế cố định cho thế giới Hồi giáo tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Những chống đối gần đây dành cho đề án cải tổ của nhóm G-4 có phần xuất phát từ vấn đề tế nhị vừa nêu. Hoa Kỳ và một vài quốc gia phương Tây chống lại bất cứ đề án nào dành quyền phủ quyết cho các thành viên mới. Trong Liên minh Phi châu, Ai Cập dẫn đầu sự phản kháng chống lại một đề án của Nigeria, theo đó chấp nhận một phiên bản của đề án G-4, phiên bản này đồng ý không dành quyền phủ quyết cho thành viên mới đến từ thế giới Hồi giáo.

Châu Phi[sửa | sửa mã nguồn]

Cho đến nay chưa có quốc gia châu Phi nào giành được ghế cố định tại Hội đồng Bảo an, điều này được xem là nguyên do chính thúc đẩy cuộc vận động cho châu Phi một vị trí tại Hội đồng. Những luận cứ sau đây có thể được xem là những lý cớ có tính thuyết phục giúp châu Phi giành được một vị trí thường trực tại Hội đồng:

  • Châu Phi là lục địa đông dân và lớn thứ nhì sau châu Á (đại diện cho châu Á, Trung Quốc đã có ghế thường trực và Nhật Bản cũng đang vận động cho mình một ghế).
  • Châu Phi có số thành viên LHQ nhiều hơn bất cứ châu lục nào khác.
  • Châu Phi, như một toàn thể, không phải là một mối đe dọa cho hoà bình thế giới.

Hiện nay châu Phi nhận được sự ủng hộ của Ấn Độ, hầu hết các nước Nam Mỹ (Liên minh Bắc-Nam), cùng với Nhật Bản và nhóm G-4. Anh và Pháp cũng kêu gọi dành quyền đại diện cho châu Phi.

Dù chưa có quốc gia châu Phi nào chính thức ứng cử cho vị trí cố định tại Hội đồng Bảo an, Cộng hòa Nam PhiNigeria được xem là những lựa chọn triển vọng nhất. Nam Phi có nền kinh tế lớn nhất và phát triển nhất châu lục, trong khi Nigeria là nước đông dân nhất. Nigeria đang trở nên một trong những quốc gia phát triển nhanh nhất thế giới nhờ vào trữ lượng dầu mỏ khổng lồ của mình.

Quyền phủ quyết[sửa | sửa mã nguồn]

Nghị quyết của Hội đồng Bảo an với 15 thành viên về các vấn đề căn bản – chẳng hạn như nghị quyết kêu gọi đưa ra những biện pháp trực tiếp nhằm giải quyết một tranh chấp - cần có phiếu thuận của 9 thành viên. Một phiếu chống - phiếu phủ quyết - của một thành viên cố định sẽ ngăn cản việc chấp thuận dự thảo nghị quyết, ngay cả khi bản dự thảo này có đủ số phiếu thuận theo qui định. Không tham gia bỏ phiếu không được xem là phủ quyết. Kể từ lúc ban đầu, Trung Hoa (Đài Loan/Trung Quốc) đã 5 lần sử dụng quyền phủ quyết; Pháp: 18 lần; Nga/Liên Xô: 122 lần; Anh: 32 lần; và Mỹ: 80 lần. Phần lớn phiếu phủ quyết của Liên Xô được đưa ra trong mười năm đầu tiên của Hội đồng Bảo an. Con số phiếu phủ quyết kể từ năm 1984 là: Trung Quốc, 2; Pháp, 3; Nga, 4; Anh, 10; và Hoa Kỳ, 42.

Quyền lợi các thành viên không thuộc Hội đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Một quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc nhưng không phải là thành viên Hội đồng Bảo an có thể được tham gia các cuộc thảo luận của Hội đồng trong trường hợp Hội đồng xét thấy có liên quan đến quyền lợi của quốc gia này. Trong những năm gần đây, đặc quyền này được giải thích thoáng hơn, cho phép nhiều quốc gia tham dự các cuộc thảo luận của Hội đồng. Các quốc gia không phải thành viên Hội đồng thường được mời tham dự các cuộc họp khi Hội đồng xét thấy có liên quan.

Vai trò của Hội đồng Bảo an[sửa | sửa mã nguồn]

Theo chương Sáu của bản Hiến chương, "Giải quyết các tranh chấp vì mục đích hoà bình", Hội đồng Bảo an "có thể điều tra bất cứ vụ tranh chấp nào, hoặc bất cứ tình huống nào có thể dẫn đến sự xung đột quốc tế hoặc khơi mào một cuộc tranh chấp". Hội đồng có thể "đề xuất những thủ tục hoặc phương pháp điều chỉnh" nếu Hội đồng xét thấy tình huống có thể gây nguy hại cho hoà bình và an ninh quốc tế. Những đề xuất này có tính ràng buộc đối với các thành viên Liên Hiệp Quốc.

Chương Bảy dành cho Hội đồng quyền hạn lớn hơn để chọn lựa biện pháp cần thiết trong những tình huống "đe dọa hoà bình, xâm phạm hoà bình hoặc tiến hành xâm lấn". Trong những tình huống như thế, Hội đồng không bị giới hạn trong việc đưa ra những đề xuất nhưng có quyền hành động, bao gồm cả việc sử dụng lực lượng vũ trang "để duy trì hoặc phục hồi hoà bình và an ninh quốc tế". Điều này là nền tảng cho hoạt động quân sự của Liên Hiệp Quốc tại bán đảo Triều Tiên năm 1950 trong Chiến tranh Triều Tiên và việc sử dụng quân lực liên minh tại IraqKuwait năm 1991. Chiếu theo Chương Bảy các quyết định, như cấm vận kinh tế, có giá trị ràng buộc trên các thành viên Liên Hiệp Quốc.

Vai trò của Liên Hiệp Quốc trong nền an ninh chung của quốc tế được định nghĩa bởi Hiến chương Liên Hiệp Quốc, dành cho Hội đồng Bảo an quyền lực để:

  • Điều tra bất cứ tình huống nào đe dọa hoà bình quốc tế;
  • Đề xuất những thủ tục nhằm giải quyết các tranh chấp cách hoà bình;
  • Kêu gọi các quốc gia thành viên gián đoạn hoàn toàn hoặc một phần quan hệ kinh tế cũng như các tiếp xúc viễn thông, bưu chính, hàng không, hàng hải, hoặc cắt đứt quan hệ ngoại giao; và
  • Thi hành nghị quyết của Hội đồng bằng các biện pháp quân sự, nếu xét thấy cần thiết.

Liên Hiệp Quốc đã giúp ngăn chặn nhiều vụ bùng nổ vũ lực quốc tế để không trở thành những xung đột rộng lớn hơn. Tổ chức này cũng giúp mở lối giải quyết những tranh chấp qua thương thảo nhờ chức năng của mình như là một trung tâm thảo luận và thương thuyết, cũng như thông qua các hoạt động được LHQ bảo trợ như sứ mạng tìm hiểu sự thật, các nhà trung gian hoà giải, và những quan sát viên các cuộc ngừng bắn. Lực lượng Gìn giữ Hoà bình của Liên Hiệp Quốc, với binh sĩ và trang bị được cung ứng bởi các quốc gia thành viên, thường chứng tỏ đủ khả năng hạn chế hoặc ngăn chặn những cuộc xung đột. Chìa khoá dẫn đến những thành công của nỗ lực gìn giữ hoà bình của Liên Hiệp Quốc là thiện chí của các bên trong một cuộc xung đột muốn tiến tới một giải pháp hoà bình qua một tiến trình chính trị khả thi.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The UN Security Council, truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012 
  2. ^ Members of the United Nations Security Council. Un.org. Retrieved on 2013-07-29.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]