Himiko

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Himiko hay Pimiko (卑弥呼 Ti Di Hô?, , qua đời khoảng 248 CN) là một nữ hoàng và pháp sư bía ẩn của Yamataikoku của nước Yamato cổ đại. Trong các triều đại đầu ở Trung Quốc Nhị thập tứ sử ghi lại quan hệ triều cống giữa Nữ hoàng Himiko với nhà Tào Ngụy (220-265), ghi lại rằng nhân dân thời kỳ Yayoi chọn bà làm minh chủ sau hàng thập kỷ chiến tranh giữa các vị vua của nước Wa. Lịch sử sơ khởi Nhật Bản không nhắc đến Himiko, nhưng các nhà sử học liên hệ bà với các nhân vật thần thoại như Nữ hoàng Jingū, người cũng làm Nhiếp chính (200-269) trong cùng thời gian với Himiko. Các tranh luận học thuật về nhân dạng của Himiko và đại điểm lãnh địa Yamatai của bà dữ dội từ thời Edo, với các ý kiến giữa phía Bắc đảo Kyūshū hay tỉnh Yamato mà ngày nay là Kinki. "Cuộc tranh luận Yamatai", như Keiji Imamura viết(1996:188), là "cuộc tranh luận lớn nhất về lịch sử cổ đại Nhật Bản."

Tham khảo lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vị Nữ hoàng pháp sư Himiko được ghi lại trong nhiều thư tịch lịch sử cổ, vào khoảng thế kỷ 3 ở Trung Quốc, thế kỷ 8 ở Nhật Bản, và thế kỷ 12 ở Triều Tiên.

Nguồn Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chép lịch sử đầu tiên về Himiko được tìm thấy trong thư tịch cổ Trung Quốc, khoảng năm 297 "Tam Quốc chí" (Sanguo Zhi 三國志). Phần "Ngụy chí" (Wei Zhi 魏志) của nó, viết về lịch sử nhà Tào Ngụy (220-265), có phần Worenchuan (倭人傳 "Oải nhân truyện", tiếng Nhật là Wajinden 倭人伝) với sự miêu tả cổ nhất về Himiko (hay Pimiko 卑彌呼) và Yamatai.

Người Wa [倭人] (Oải nhân) cư ngụ ở giữa đại dương trên một quân đảo có núi cao ở phí Đông Nam châu Tai-fang. Trước đây họ có hơn 100 bộ tộc. Dưới thời Hán, sứ thần người Wa đến triều đình; ngày nay, 30 bộ tộc vẫn còn giao thiệp với chúng ta qua các đoàn sứ thần và người ghi chép. (tr. Tsunoda 1951:8)

Nguồn sơ sủ này tả lại việc Himiko lên ngôi.

Đất nước trước đây do đàn ông cai trị. Trong khoảng 70-80 năm trước, liên tục có chiến tranh loạn lạc. Do đó nhân dân đồng tình chọn một người phụ nữ lên cai trị. Tên của bà là Pimiko [卑彌呼]. Bà luôn dành hết thời gian cho phép thuật phù thủy, bỏ bùa mọi người. Mặc dù đã đến tuổi trưởng thành, bà vẫn không kết hôn. Bà có một người em trai trợ giúp cho bà trong việc trị quốc. Sau khi lên ngôi, rất ít người nhìn thấy bà. Bà có 1.000 người hầu nữ, nhưng chỉ có 1 người đàn ông. Anh ta phục vụ bà trong việc ăn uống và làm việc trung gian phát ngôn. Bà cư ngụ trong một cung điện có tháp và cọc chắn bao quanh, với cấm vệ luôn canh giác cẩn mật. (tr. Tsunoda 1951:13)

"Ngụy chí" cũng ghi lại việc giao tế giữa hai triều đình Ngụy và Wa. Các sứ thần của Himiko lần đầu đến triều kiến Hoàng đế Tào Duệ năm 238, và ông đã đáp từ.

Nay ta gửi tới Pimiko, Nữ hoàng Wa, người giờ ta chính thức coi là bạn của nước Ngụy. Sứ thần của người đã đến đây với cống phẩm, bao gồm 4 nô lệ nam và 6 nữ nô lệ, cùng với hai mảnh vải có họa tiết, mỗi mảnh dài 20 thước. Người sống ở rất xa trên biển; mà vẫn gửi sứ thần cùng cống phẩm. Ta đánh giá rất cao lòng trung hiếu của người. Do đó, ta sắc phong cho người tước hiệu "Thân Ngụy Oa Vương", cùng với ấn vàng và dải lụa tím. Những thứ sau, đã được đóng gói cẩn thận, sẽ được gửi đến cho người qua một vị Thái thú. Hỡi Nữ hoàng, ta hy vọng, người sẽ cai trị nhân dân trong hòa bình và cố gắn tận tụy và thần phục. (tr. Tsunoda 1951:14)

Cuối cùng, "Ngụy chí" (tr. Tsunoda 1951:15) ghi lại rằng năm 247 khi một Thái thú mới đến quận Đới Phương ở Triều tiên, Nữ hoàng Pimiko chính thức than phiền về sự thù địch với Pimikukku (卑彌弓呼) Vua của Kunu (狗奴, "Cẩu Nô"). Viên Thái thú phát "Chang Chêng, Quyền Tổng trấn biên thùy" với "tuyên cáo khuyên nhủ hòa giải", và sau đó,

Khi Pimiko từ trần, một gò lớn nổi lên, đường kính đến hơn 100 bộ. Hơn một trăm người hầu nam nữ theo bà vào trong mộ. Sau đó, một vị vua được đặt lên ngai vàng, nhưng dân chúng không tuân lệnh ông. Ám sát và giết người tràn đến; hơn 1.000 người bị giết. Một người họ hàng của Pimiko tên là Iyo [壹與] (Nhất Dữ), một cô gái 13 tuổi, sau đó lên ngôi vua và trật tự được phục hồi. Cheng ra tuyên bố rằng Iyo trở thành người cai trị. (tr. Tsunoda 1951:16)

Những nhà chú giải coi chữ "Iyo" (壹與, with "Nhất", với một biến thể cổ hơn của ) là bản chép sai của chữ Toyo (臺與, với chữ "đài"), tương đương với việc Ngụy chí viết chữ Yamatai 邪馬臺 (Tà Mã Đài) thành Yamaichi 邪馬壹 (Tà Mã Nhất).

Lịch sử của 2 triều đại Trung Hoa nữa cũng đề cập đến Himiko. Trong khi rõ ràng là cả hai đều kết hợp từ các ghi chép trong "Ngụy chí", chúng cũng có một số thay đổi, ví dụ như ghi rõ "khoảng 70 hay 80 năm" chiến tranh của người Wa diễn ra vào khoảng 146 đến 189, dưới thời vua Hán Hoàn ĐếHán Linh Đế. Hậu Hán th năm 432 (Hou Han Shu 後漢書) ghi rằng "Vua nước Đại Wa cư ngụ ở một nước gọi là Yamadai" (tr. Tusnoda 1951:1), chứ không phải Nữ hoàng.

Dưới triều vua Hoàn Đế (147-168) và Linh Đế (168-189), nước Wa ở trong tình trạng nhiễu loạn, chiến tranh và xung đột ở khắp nơi. Trong nhiều năm, không có người cai trị. Sau đó một phụ nữ tên là Pimiko xuất hiện. Vẫn chưa xuất giá, bà dùng hết thời gian của mình cho phép thuật phù thủy, mê hoặc dân chúng. Bởi vậy, họ tôn bà lên ngai vàng. Bà có nhiều người hầu gái, nhưng ít ai thấy được bà. Chỉ có một người đàn ông phụ trách tủ quần áo, bữa ăn và làm nhiệm vụ truyền lệnh cho bà. Bà cư ngụ trong một cung điện có tháp và cọc chắn bao quyanh với sự bảo vệ của binh lính. Luật pháp và phong tục ở đây nghiêm khắc và khắt khe. (tr. Tusnoda 1951:2-3)

Tùy thư (Sui Shu 隋書) năm 363, thay đổi đi số lượng người hầu nam của Himiko.

Dưới triều Hoàn Đế và Linh Đế, đất nước đó rơi vào cảnh hỗn loạn, không có người cai trị trong một thời gian dài. Sau đó, một người phụ nữ tên là Pimiko thu hút dân chúng bằng các loại hình ma thuật. Đất nước lại được thống nhất và bà lên ngôi Nữ hoàng. Một người em trai trợ giúp cho Pimiko trị quốc. Nữ hoàng Pimiko có 1.000 người hầu nữ. Khuôn nhan của bà khó có ai nhìn thấy. Bà chỉ có 2 người hầu nam. Họ phục vụ việc ăn uống và làm người trung gian truyền tin. Nữ hoàng sống trong một cung điện, có tường, cọc chắn bao quanh dưới sự bảo vệ của binh lính; kỷ luật của họ rất nghiêm khắc. (tr. Tsunoda 1951:28-29)

Nguồn Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Cả hai sử liệu cổ nhất của Nhật Bản, Kojiki năm 712 (古事記 "Cổ Sự ký") và Nihon Shoki năm 720 (日本書紀 "Nhật Bản thư kỷ"), đều không đề cập đến Nữ hoàng Himiko. Tuy nhiên, chúng bao gồm ba tư tế của Hoàng tộc khá trùng hợp với bà: Yamato-totohi-momoso, cô của Thiên hoàng Sujin (Thiên hoàng theo truyền thuyết thứ 10 của Nhật Bản, 97-30 TCN; Yamatohime-no-mikoto, con gái của Thiên hoàng Suinin (Thiên hoàng theo truyền thuyết thứ 11, 29 TCN-70 CN); và Nữ Thiên hoàng Jingū (209-269 CE), vợ của Thiên hoàng Chūai (Thiên hoàng theo truyền thuyết thứ 14, 192-200 CE). Tuy vậy, những ngày tháng này không được thẩm tra về mặt lịch sử.

Một ngoại lệ đáng chú ý về lịch sử sơ khỏi Nhật Bản bỏ sót mất Himiko là Nihon Shoki đã trích dẫn "Ngụy chí} 3 lần. Năm 239, "Nữ vương [女王] nước Wa" cử sứ thần đến nước Ngụy; năm 240, họ trở về "với một sắc dụ cùng ấn và dải lụa "; vă năm 243, "Vua [王] nước Wa lại cử một vị trong thần làm sứ giả triều cống ". Điều này hé lộ việc người biên soạn Nihon Shoki đã cố tình lờ đi phần đề cập đến Himiko trong "Ngụy chí".

Yamato-totohi-momoso (倭迹迹日百襲) (Oa Tích Tích Nhật Bách Tập), người cô tư tế của Thiên hoàng Sujin, được cho là đã tự sát sau khi biết rằng chồng mình là người lừa gạt rắn thần. Kojiki không đề cập đến bà, nhưng "Nihon Shoki" tả lại bà là "cô của Thiên hoàng về đằng cha, một người đàn bà đanh đá và thông minh, người có thể đoán trước tương lai". Sau hàng loạt những thảm họa của đất nước, Thiên hoàng "tập hợp 80 vạn thần linh " và hỏi về tương lai. Yamato-totohi-momoso được Ōmononushi-nushi ("Thần của tất cả các thần và linh hồn ") nhập vào và nói.

"Tại sao Thiên hoàng lại đau buồn vì tình trạng nhiễu loạn của đất nước? Nếu người tôn thờ chúng ta một cách đúng đắn thì đất nước chắc chắn sẽ tự ổn định." Thiên hoàng hỏi: "Vị thần nào đang chỉ dẫn cho ta đó?" Câu trả lời là: "Ta là vị thần cư ngụ ở trong biên giới nước Yamato, tên ta là Oho-mono-nushi no Kami.")

Trong khi việc thờ phụng vị thần (từ Núi Miwa) này "không hiệu nghiệm", Yamato-totohi-momoso sau đó lấy ông ta.

Sau khi Yamato-toto-hi-momo-so-bime no Mikoto trở thành vợ của Oho-mono-nushi no Kami. Tuy vậy, vi thần này chưa bao giờ được thấy dưới ánh sáng ban ngày, mà chỉ vào ban đêm. Yamato-toto-hi-momo-so-bime no Mikoto nói với chồng mình: "Ta chưa bào giờ thấy tướng công vào ban ngày; ta không thể chiêm ngưỡng rõ ràng vẻ mặt oai phong của chống ta; ta cầu xin người có thể hoãn lại một chút, để ta có thể trông thấy vẻ uy nghi của khuôn mặt chàng. Vì thần tối cao trả lời: "Điều ngươi nói hoàn toàn đúng. Sáng mai, ta sẽ vào nhà vệ sinh của nhà ngươi và ở trong đó. Ta hy vọng người sẽ không kinh hãi khi nhìn thấy hình dạng của ta." Yamato-toto-hi-momo-so-bime no Mikoto hơi bối rối về việc này. Chờ cho đến khi ngày đã tàn, bà nhìn vào phòng vệ sinh của mình. Ở đó có một con rắn nhỏ xinh đẹp, cũng dài và dày như sợi dây buộc quân áo. Ngay sau đó, bà hoảng sợ, và thốt ra lời cảm thán. Vị thần tối cao xấu hổ, đột ngột biến thành hình người, nói với vợ mìn: "Người không biết dằn lòng mình lại, mà lại làm ta xấu hổ; ta sẽ khiến người phải xấu hổ." Đạp lên khoảng không vô tận, vị thần bay đến núi Mimoro. Đến đây Yamato-toto-hi-momo-so-bime no Mikoto nhìn lên hối hận. Bà thả mình xuống ghế, một chiếc đũa đâm xuyên qua bộ phận sinh dục của bà khiến bà qua đời. Bà được chôn cất tại Oho-chi. Sau đó người cùng thời gọi ngôi mộ của bà là Hashi no haka [Mộ đũa].

Kofun Hashihaka (箸墓 "Trợ mộ") ở Sakurai, Nara có liên quan đến thần thoại này.

Yamatohime-no-mikoto (倭姫命) (Oa Cơ Mệnh), con gái của Thiên hoàng Suinin, người được cho là đã xây dựng đền Ise cho Nữ thần mặt trời Amaterasu. Kojiki ghi lại bà là con thứ tư trong số năm người con của Suinin., "Yamato-hime uy nhiêm, (là tư tế của ngôi đền Ise)". Nihon Shoki cũng ghi lại giống như vậy về "Yamato-hime no Mikoto" và cung cấp thêm nhiều chi tiết. Thiên hoàng giao nhiệm vụ cho Yamatohime tìm một vị trí lâu dài cho đền thờ Amaterasu, và sau khi lang thang nhiều năm, nữ thần mặt trời đã chỉ dẫn cho cô xây dựng đền tại Ise "nơi bà lần đầu đi xuống từ trời".

Hoàng hậu Jingū (hay Jingō 神功) (Thần Công) được cho là đã làm nhiếp chính sau khi chồn mình là Thiên hoàng Chūai qua đời (năm 200) cho đến khi con trai bà là Thiên hoàng Ōjin lên ngôi (Thiên hoàng theo truyền thuyết thứ 15, 270-310). KojikiNihon Shoki cũng có ghi chép tương tự. Thiên hoàng Chūai muốn xâm lược Kumaso, và trong khi đang hỏi ý kiến các cận thần của mình, Jingū truyền đến một thông điệp của thánh thần rằng con trai mình thay vào đó nên xâm lược Silla. So sánh hai đoạn sau.

Công chúng oai nghiêm Okinaga-tarashi, lúc đó, bị thần nhập … đưa ra lời chỉ dẫn và khuyên bảo con trai mình: "Có một vùng đất ở phương Tây, và vùng đất đó chất đầy các kho báu làm lóa mắt người, từ vàng và bạc trở xuống. Ta giờ ban vùng đất đó cho nhà ngươi.

Vào lúc đó, một vị thần nhập vào người Nữ hoàng và chỉ dẫn bà nói: "Tại sao Thiên hoàng lại phiền muộn vì việc Kumaso không đến triều yết? Đó là một vùng đất thiếu trụ cột. Có đáng phải xuất quân tấn công nó không? Có một vùng đất tốt hơn, vùng đất của báu vật, có thể so sánh với sắc diện của mỹ nhân– vùng đất Mukatsu [đối diện], làm lóa mắt người. Trên vùng đất đó có vàng, bạc và tràn ngập màu sắc tươi vui. Đó gọi là vùng đất Silla có khăn trải giường từ "giấy dâu tằm". Nếu người thờ phụng ta đúng đắn, vùng đất này sẽ chịu thần phục tự nguyện, và lưỡi gươm của ngươi sẽ không phải dính máu.

Thiên hoàng nghĩ rằng vị thần này nói dối, vì ông chỉ nhìn thấy đại dương ở phía Tây, và sau đó chết, có thể ngay lập tức (Kojiki) hay sau khi xâm lược Kumaso (Nihon Shoki). Jingū được cho là đã phát hiện ra mình có mang, tự mình lên kế hoạch và tiến đánh Silla thắng lợi, hạ sinh vị Thiên hoàng tương lai, và trở về cai trị Yamato. Nihon Shoki thêm vào rằng vì Jingū muốn biết vị thần nào đã nguyền rủa Chūai, bà xây dựng một đền thờ, giải tán cơ quan tư tế", và nghe các vị thần nói lộ ra việc của mình khi đi từ Ise (Amaterasu) và Mukatsu (lãnh thổ Triều Tiên chưa biết tên). Mặc dù lịch sử thần thoại KojikiNihon Shoki cho rằng Jingū là Nữ hoàng đầu tiên của Nhật Bản, các nhà sử học thời kỳ Meiji loại bà ra khỏi Danh sách Thiên hoàng Nhật Bản, do đó Thiên hoàng Suiko (593-628) trở thành Nữ hoàng đầu tiên có thể thẩm tra được trong lịch sử Nhật Bản.

Nguồn Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Sách sử cổ nhất của Triều Tiên, the 1145 Samguk Sagi (三國史記 "Tam Quốc sử ký") ghi lại rằng Nữ hoàng Himiko đã cử sứ thần đến Adalla của Silla vào tháng 5 năm 172. Tính chính xác của đoàn sứ thần thế kỷ thứ 2 này là không chắc chắn, vì Samguk Sagi được viết những 10 thế kỷ sau đó.

Làm sáng tỏ Himiko[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà nghiên cứu đã khá vất vả để dung hòa được các nguồn lịch sử về Himko của Trung Quốc và Nhật Bản. Trong khi "Ngụy chí" miêu tả bà là một Nữ vương quan trọng trong thế kỷ 3 của Nhật Bản, các nhà sử học cổ Nhật Bản cố ý tránh nói đến tên của Hiimiko, thậm chí khi Nihon Shoki trích dẫn "Ngụy chí" về đoàn sứ thần từ nước Wa.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Ba chữ Trung Quốc 卑彌呼 or 卑弥呼 chép lại tên vị Nữ vương người Wa đọc là himiko hay hibiko trong tiếng Nhật hiện đại và bēimíhū hay bìmíhū tiếng Trung Quốc tiêu chuẩn hiện đại. Tuy vậy, việc phát âm đương thời khác rất nhiều với khi đọc chữ "Himiko" vào thế kỷ 3, cả người đọc không biết tiếng Wa và người Trung Quốc đã chép lại nó. Trong khi việc chuyển dịch chữ nước ngoài sang tiếng Trung Quốc rất phức tạp, chọn ba chữ này làm bối rối người đọc, với nghĩa là "thấp, hèn kém", (phồn thể) hay (giản thể) "khắp, tràn đầy", và "gọi to".

Trong ngôn ngữ phát âm cổ Trung Quốc, chữ beimihu hiện đại (卑彌呼) đơn giản hơn cách phát âm vào cuối thế kỷ 3 của Trung Quốc cổ đại hay đầu Trung đại. So sánh với việc dựng lại cái tên 卑彌呼 vào thời cổ đại hay trung đại của Trung Quốc (Bernhard Karlgren, Li Fanggui, and William H. Baxter), "đầu trung đại" (Edwin G. Pulleyblank), và, gần nhất với lịch sử, "Hậu Hán" (Axel Schuessler).

  • pjimjiχuo (Karlgren)
  • pjiemjieχwo (Li)
  • pjiumjieXxu (Baxter)
  • pjimjiχɔ or pjiə̌mjiə̌χɔ (Pulleyblank)
  • piemiehɑ (Schuessler)

Để đơn giản hóa mà không dùng ký hiệu IPA, 2 chữ cái đầu tiên với p(j)-m(j)- phụ âm đầu initial consonants share -i(e) final vowels, and the third has a either a voiceless fricative X- or a voiced fricative h- plus a back mid vowel -u(o). Thus, "Himiko" could be hypothetically reconstructed as *P(j)i(e)m(j)i(e)hu(o).

In terms of historical Japanese phonology, himiko would regularly correspond to Old Japanese *Fimeko. However, Roy Andrew Miller says *Fimeko is a lexicographic error deriving from the Wei Zhi transcriptions.

Most perplexing of the entire list is the name of the queen of the Yeh-ma-t'ai community, Pi-mi-hu, Middle Chinese pji-mji-χuo. This has traditionally been explained and understood in Japan as a transcription of a supposed Old Japanese form *Fimeko, said to be an early term meaning "high born woman; princess," and to derive from Old Japanese Fime [or Fi1me1] (also sometimes Fimë [Fi1me1]), a laudatory title for women going with Fiko [Fi1ko1] for men. Later Fime comes to mean "princess," but this meaning is anachronistic for the earlier texts. … The difficulty concerns the supposed Old Japanese word *Fimeko. Even though such a form has found its way into a few modern Japanese dictionaries (for example even Kindaiichi's otherwise generally reliable Jikai), it is in fact simply one of the ghost words of Japanese lexicography; when it does appear in modern lexical sources, it is a "made-up" form listed there solely on the basis of the Wei chih account of early Japan. There never was an Old Japanese *Fimeko; furthermore, the Middle Chinese spirant χ of the transcription suggests that the final element of the unknown original term did not correspond to Old Japanese -ko [-ko1], which is rendered elsewhere – in Fiko [Fi1ko1], for example – with Middle Chinese -k- as one would expect. The final element of this transcription, then, remains obscure, thought there is certainly a good chance that the first portion does correspond to a form related to Old Japanese Fime. Beyond that, it is at present impossible to go. (1967:22)

Hime < Old Japanese Fi1me1 ( "young noblewoman; princess"), explains Miller, etymologically derives from hi < Fi2 ( "sun") and nyo < me1 ( "woman").

Tsunoda (1951:5) notes "Pimiko is from an archaic Japanese title, himeko, meaning 'princess'," that is, hime with the female name suffix -ko ( "child", viz. the uncommon given name Himeko). Other Amaterasu-related etymological proposals for the Japanese name Himiko involve hi (日 "sun") and miko ( or 巫女 "shamanka, shamaness; shrine maiden; priestess"); or their combination hime-miko "princess-priestess".

AR401 Himiko train at Kiyama Station
Himiko water taxi in Tokyo Bay

Besides the original Queen of Wa, the name Himiko is also used in Japanese popular culture. Himiko (卑弥呼) is a train on the Amagi Railway Amagi Line and a water bus of Tokyo Cruise Ship designed by Leiji Matsumoto. The House of Himiko (Mezon do Himiko メゾン・ド・ヒミコ) is a 2005 movie starring Kō Shibasaki. The Legend of Himiko ( Himiko-Den 火魅子伝) is an anime series, manga, and computer game. Two other anime-manga characters are Himiko (ひみこ) in Kyoshiro and the Eternal Sky, and Himiko Kudo (工藤卑弥呼) in Get Backers.

Nhân dạng và xác thực[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận dạng Himiko/Pimiko của dễ hiểu trong Lịch sử Trung Quốc, nhưng phức tạp trong Lịch sử Nhật Bản. "Ngụy chí" thế kỷ thứ 3 ghi lại các chi tiết về Nữ vương Himiko và sự giao thiệp của bà với Hoàng đế Tào DuệTào Phương. "Cổ sự ký" thế kỷ 8 của Nhật Bản và "Nhật Bản thư kỷ" không để ý đến Himiko, trừ khi bà chính là nguyên mẫu của Nữ Thiên hoàng Jingū, Yamatohime-no-mikoto, hay Yamato-totohi-momoso.

Không có ai trong số ba tư tế hoàng gia theo truyền thuyết của Nhật Bản tương ứng với sử ký và miêu tả của Trung Quốc về Himiko. Theo "Ngụy chí", Hiiko qua đời vào năm 248, nếu công nhận hệ thống ngày tháng mở hồ của Nhật, thì bà sẽ gần với Thiên hoàng thế kỷ 3 Jingū hơn là những người ở thế kỷ 1 TCN như Yamatohime-no-mikoto và Yamato-totohi-momoso-hime. Mặt khác, nếu đồng ý với những chỉnh sửa lại ngày tháng trước thế kỷ 4, thì Himiko gần với tên của một tư tế thời Yamato. Cả "Kojiki" và "Nihonshoki" đều không đề cập đến Himiko hay bất cứ một chủ đề nổi bật nào rằng bà không kết hôn, và được nhân dân chọn làm người lãnh đạo, có một người em trai giúp đỡ việc cai trị (trừ khi điều này là nói về con trai của Jingū), hay có rất nhiều nữ tì.

William Wayne Farris (1998:15-54) xem xét lại lịch sử tranh cãi học thuật về Himiko và lãnh địa Yamatai của bà. Nhà triết học thời Edo Arai HakusekiMotoori Norinaga bắt đầu cuộc thảo luận về việc liệu Yamatai nằm ở Kyushu hay Yamato và liệu sử liệu từ "Ngụy chí" hay "Kojiki" và "Nihon Shoki" đáng tin hơn. Nhà Nho Arai tàn thành lịch sử Trung Quốc là đáng tin hơn, và đánh đồng Himiko với Jingu và Yamatai với Yamato. Học giả kokugaku Motoori cho rằng lịch sử huyền thoại truyền thống Nhật Bản đáng tin hơn, và bác bỏ các trích dẫn trong "Ngụy chí", coi đó chỉ là sự thêm thắt vào. Ông đưa ra giả thuyết rằng một vị vua từ Kumaso gửi sứ thần giả dạng làm quan lại của Jingu đến triều đình nhà Ngụy, do đó tưởng lầm Thiên hoàng là Himiko.. Farris (1998:16) says, "Giả thuyết tiếm quyền của Motoori (gisen setsu) có sức nặng lớn với thế kỷ sau."

Sau cuộc Minh Trị Duy Tân năm 1868, các nhà sử học Nhật Bản tiếp thu được sự uyên bác của sử học châu Âu, đặc biệt là phương pháp dựa trên nguồn gốc của Leopold von Ranke. Naka Michiyo tin rằng Nihon Shoki không chính xác từ thế kỷ 4 trở về trước, và do đó (Farris 1998:17) "Jingū trở thành một nữ hoàng vào thế kỷ 4, triều đại của bà không thể trùng khớp với thời Himiko." Nhà Hán học Shiratori Kurakichi đề xuât rằng các nhà biên soạn Nihon Shoki bị xúi giục liên hệ Jingu với quyền năng tôn giáo của Himiko. Naitō Torajirō cho rằng Himko là đại tư tế đền Ise Yamatohime-no-mikoto và quân đại Wa đã giành được quyền kiểm soát phía Nam bán đảo Triều Tiên.

Học giả [Higo Kazuo] khẳng định rằng Himiko thực ra là Yamato-toto-momo-so-hime-no-mikoto, cô của vị Thiên hoàng thần thoại Sujin, vì ngôi mộ được cho là của bà tại Hashihaka, Nara có đường kính lên đến hơn 100 bộ, kích thước ngôi mộ của Hiniko. Thuyết này có nhiều người theo vào thời kỳ trước chiến tranh. [Shida Fudomaru] lại nhìn thấy trong hình tượng Himiko sự thể hiện về quyền cai trị chính trị của phụ nữ ở Nhật Bản thời cổ. (Farris 1998:20)

Một số nhà sử học Nhật Bản sau này tái sắp xếp Himiko theo quan điểm lịch sử Marxist. Masaaki Ueda cho rằng "Quốc gia của Himiko là một quốc gia chuyên chế với hệ thống nô lệ phổ biến" (Farris 1998:21), trong khi Mitsusada lý tưởng hóa Yamatai như một "sự cân bằng giữa các bộ lạc nhỏ " với công hữu và biểu lộ chính trị phổ biến. Cho đến cuối thập kỷ 1960 "sự bùng nổ Yamatai" diễn ra khi rất nhiều nhà sử học, ngôn ngữ họ, và khảo cổ học xuất bản những sự đánh giá lại về Himiko và Yamatai, cuộc tranh luận còn có sự tham gia của những người theo chủ nghĩa dân tộc, nhà văn thần bí, và nhà nghiên cứu không chuyên.

Trong phân kỳ khảo cổ và sử học Nhật Bản, thời kỳ thế kỷ 2-3 của Nữ vương Himiko là giữa thời Yayoi muộn và đầu thời Kofun. Kofun (古墳 "cổ phần") là gò mộ đặc hữu hình lỗ khóa, và "Ngụy chí" chú thích rằng "một gò lớn được dựng lên, đường kính hơn 100 bộ" về ngôi mộ của Himiko, có thể là ghi chép cổ nhất về một kofun. Khai quật khảo cổ học các di chỉ thời Yayoi và Kofun, đáng chú ý là di chỉ Yoshinogari, đã phát hiện một gương đồng kiểu Trung Quốc, gọi là shinju-kyo (神獣鏡 "Thần vật cảnh"). Các học giả như Walter Edwards (1998, 1999) liên hệ các shinju-kyo với "100 gương đồng" mà Ngụy chí (tr. Tsunoda 1951:15) ghi lại Hoàng đế Tào Duệ đã tặng cho Nữ vương Himiko.

Các ghi chép thời cổ Trung Quốc về Himiko và xã hội Yamatai của bà vẫn còn là một cái gì đó bí ẩn. Theo những cách giải thích khác nhau, vị Nữ vương Nhật Bản này có thể là bằng chứng cho công xã nguyên thủy (Marxist), các nữ pháp sư nằm quyền thời Jōmon, Nhật Bản xâm lược Triều Tiên (Akima 1993), Triều Tiên xâm lược Nhật Bản (Namio Egami's "thuyết kỵ sĩ"), hệ thống hoàng gia bắt đầu với hệ thống song quyền của một nữ tư tế và một triều đình của đàn ông (Mori 1979), "cách mạng phụ quyền" thay thế cho các vị nữ thần và nữ tư tế bằng các bản sao là nam (Ellwood 1990), hay một vị cố vấn pháp sư cho liên bang các tộc trưởng người Wa "với sứ thần Trung Quốc thì giống một vị nữ vương nắm quyền thống trị " (Matsumoto 1983).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]