Jennifer Aniston

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Jennifer Aniston
Jennifer Aniston 2011.jpg
Aniston tại buổi ra mắt phim Horrible Bosses
Tên khai sinh Jennifer Joanna Aniston[1][2]
Sinh 11 tháng 2, 1969 (45 tuổi)
Sherman Oaks, California, Hoa Kỳ
Tên khác Jen. Jenny.
Nghề nghiệp Diễn viên. Nhà sản xuát. Đạo diễn.
Hoạt động 1989–hiện tại
Hôn nhân Brad Pitt (2000–2005)
Trang web http://www.jenniferanistoneurope.com

Jennifer Joanna Aniston (sinh ngày 11 tháng 2 năm 1969) là một diễn viên điện ảnh người Mỹ. Cô trở nên nổi tiếng trong thập niên 1990 với vai diễn Rachel Green trong bộ phim sitcom Friends của Mỹ, vai này giúp cô giành một giải Emmy Award, một Golden Globe Award, và một Screen Actors Guild Award.

Cô là diễn viên chính trong nhiều bộ phim Hollywood. Tuy hầu hết các vai diễn trong phim của cô đều ở thể loại phim hài như Bruce Almighty, Office Space, Rumor Has It, và phim hài lãng mạn như Along Came PollyThe Break-Up, cô cũng xuất hiện trong các thể loại phim khác, như hài-kinh dị Leprechaun và tội phạm Derailed.

Tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Jennifer Aniston sinh tại Sherman Oaks, California, và lớn lên tại Thành phố New York.[3] Cô là con gái của diễn viên John Aniston và nữ diễn viên Nancy Dow.[4] Cha Aniston là một Người Mỹ gốc Hy Lạp, tên khi sinh Yannis Anastassakis trên hòn đảo Crete, Hy Lạp, trong khi mẹ cô là người có tổ tiên là người Italia-Scotland và sinh tại Thành phố New York.[5] Aniston có hai người anh em cùng cha khác mẹ, John Melick (lớn) và Alex Aniston (nhỏ).[3][4] Cha đỡ đầu của Aniston là diễn viên Telly Savalas†, người bạn thân của cha cô.[3][4] Khi còn nhỏ cô sống ở Hy Lạp trong một năm với gia đình, sau đó họ chuyển tới Thành phố New York.[4] Cha cô đã xuất hiện trong các bộ phim truyền hình Days of our Lives, Love of LifeSearch for Tomorrow.[4] Aniston theo học Trường Rudolf Steiner ở New York[6] và tốt nghiệp trường Cao học Âm nhạc và Nghệ thuật và Nghệ thuật trình diễn Fiorello H. LaGuardia tại Manhattan.[3] She worked in Off Broadway productions such as For Dear Life and Dancing on Checker's Grave.[4] Cô đã làm nhiều công việc bán thời gian để kiếm sống, gồm cả nhân viên marketing từ xa và đưa thư bằng xe đạp.[4] Năm 1989, cô tới Los Angeles, California.[7]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Aniston, với Steve Zahn, tại buổi lễ ra mắt phim Management, có vai diễn của cô.

Aniston tới Hollywood và xuất hiện lần đầu trên truyền hình năm 1990, với vai diễn thường xuyên trong loạt phim Molloy tồn tại trong một thời gian ngắn và trong bộ phim Camp Cucamonga.[8] Cô cũng xuất hiện trong Ferris Bueller, một phiên bản làm lại năm 1986 của bộ phim nổi tiếng Ferris Bueller's Day Off.[8] Tuy nhiên, bộ phim này nhanh chóng bị huỷ bỏ.[4] Aniston sau đó xuất hiện trong hai phim truyền hình hài kém thành công khác The EdgeMuddling Through, có vai diễn ngắn trong các phim Quantum Leap, Herman's Head, và Burke's Law.[8] Sau một loạt các bộ phim bị huỷ bỏ, cùng với sự xuất hiện của cô trong bộ phim kinh dị bị chế giễu, Leprechaun,[9] Aniston đã nghĩ tới việc ngừng diễn.[4] Tuy nhiên, các kế hoạch của Aniston đã thay đổi sau khi thử vai cho Friends, một phim sitcom được dự định phát trên NBC từ mùa thu năm 1994–1995.[3][10] Các nhà sản xuất ban đầu chỉ muốn Aniston thử vai cho vai diễn Monica Geller,[10] nhưng Courteney Cox là người hợp nhất với vai Monica. Vì thế, Aniston đóng vai Rachel Green. Cô đóng vai Rachel từ năm 1994 tới khi bộ phim chấm dứt năm 2004.[11][12]

Chương trình là một sự thành công và Aniston, cùng với các bạn diễn, trở nên nổi tiếng.[3] Kiểu tóc của cô ở thời điểm ấy, được gọi là "Rachel", được nhiều người cóp theo.[3][4] Aniston nhận lương một triệu dollar cho mỗi tập trong hai năm cuối thực hiện phim Friends, cũng như năm lần được đề cử giải Emmy (hai cho Vai phụ, ba cho Vai chính),[13][14][15][16] và một lần giành giải cho Diễn viên chính xuất sắc trong một bộ phim hài.[17] Theo Sách kỷ lục thế giới Guiness (2005), Aniston (cùng với các ngôi sao nữ khác) đã trở thành diễn viên phim truyền hình được trả thù lao cao nhất mọi thời đại với khoản tiền 1 triệu dollar cho mỗi tập phim từ năm thứ 10 của Friends.[18]

Jennifer Aniston đã xuất hiện trong nhiều phim thương mại và âm nhạc. Năm 1996, cô xuất hiện trong phim âm nhạc của Tom Petty và The Heartbreakers, "Walls." Aniston cũng xuất hiện trong phim âm nhạc của Melissa Etheridge năm 2001, "I Want To Be In Love." Jennifer Aniston xuất hiện trong một đoạn quảng cáo của Heineken sau này đã bị cấm vì các vấn đề nhãn hiệu. Aniston cũng xuất hiện trong các đoạn phim quảng cáo cho các sản phẩm tóc của L'Oreal. Năm 1994, Microsoft mời Aniston, cùng với các diễn viên trong Friends Matthew Perry, thực hiện một đoạn quảng cáo 30 phút cho hệ điều hành mới của họ, Windows 95.[19] Cô được ca ngợi nhiệt liệt cho vai diễn trong The Object of My Affection (1998), một hài kịch về một cô gái mê một người đàn ông gay,[20] và trong vở kịch kinh phí thấp, The Good Girl, năm 2002 đạo diễn bởi Miguel Arteta, đóng vai một thủ quỹ bình thường ở một thị trấn nhỏ. Vở kịch sau này công diễn ở khá ít nhà hát —tổng cộng dưới 700 lần— thu được $14M tiền bán vé ở Mỹ.[21] Cuối năm 2005, Aniston xuất hiện trong hai bộ phim lớn, DerailedRumor Has It.[22][23]

Ngoài nghề nghiệp là một diễn viên phim truyền hình, Aniston đã gặt hái thành công trong sự nghiệp phim ảnh. Thành công lớn nhất của cô là vai diễn năm 2003 trong bộ phim Bruce Almighty, trong đó cô đóng vai bạn gái của ngôi sao Jim Carrey.[24] Aniston sau đó xuất hiện trong bộ phim năm 2004, Along Came Polly với nam diễn viên chính Ben Stiller.[25] Năm 2006, Aniston xuất hiện trong vở kịch chi phí thấp, Friends with Money, lần đầu diễn tại Sundance Film Festival, và cũng không được diễn lại nhiều.[26] Bộ phim tiếp theo của Aniston, The Break-Up, được giới thiệu ngày 2 tháng 6, thu được xấp xỉ $39.17 triệu trong tuần công chiếu đầu tiên, dù bị giới phê bình tỏ ra lãnh đạm.[27]

Năm 2007, Aniston xuất hiện trong phần Dirt của Courteney Cox Arquette. Aniston đóng vai đối thủ của Arquette là Tina Harrod.[28] Ngoài nghề diễn, Aniston cũng đã đạo diễn một bộ phim ngắn về một phòng cấp cứu trong bệnh viện tên là Room 10, với các diễn viên Robin Wright PennKris Kristofferson;[29] Aniston đã nói rằng cô quan tâm tới việc đạo diễn bởi nữ diễn viên Gwyneth Paltrow, người đã đạo diễn một phim ngắn năm 2006.[30]

Forbes liệt kê Aniston là người phụ nữ giàu thứ 10 trong ngành công nghiệp giải trí năm 2007. Cô đứng sau các nhân vật như Oprah Winfrey, J. K. Rowling, Madonna, Mariah Carey, Celine DionJennifer Lopez và phía trước Britney Spears, Christina AguileraOlsen twins. Tài sản thực của Aniston xấp xỉ $110 triệu.[31] Aniston cũng nằm trong Star Salary Top 10 của tạp chí thương mại The Hollywood Reporter trong năm 2006.[32] Vào tháng 10 năm 2004, theo Forbes Aniston là nhân vật nổi tiếng hàng đầu ngành công nghiệp giải trí.[33] Năm 2008, Aniston đứng thứ 17 trong danh sách Celbrity 100 của Forbes về "thu nhập và danh tiếng."[34] Forbes liệt kê các khoản thu nhập của Aniston là $27 triệu.[35]

Aniston đã xuất hiện trong tập thứ ba của 30 Rock Season 3 của NBC đóng vai bạn cùng phòng cũ thời đại học của Liz Lemon người đã theo đuổi Jack Donaghy.[36]

Aniston đã xuất hiện trong tình trạng khoả thân trong một bộ ảnh trên trang bìa và các trang trong số tháng 1 năm 2009 của tạp chí GQ. Cô nói với tạp chí rằng ở thời điểm hiện tại cô cảm thấy thoải mới hơn so với ở độ tuổi hai mươi hay đầu ba mươi. "Tôi khoẻ hơn. Tâm hồn và cơ thể tôi tĩnh lặng hơn," Aniston nói.[37]

Ngày 25 tháng 12 năm 2008, Marley & Me, trong đó Aniston xuất hiện cùng Owen Wilson, được công chiếu. Nó lập một kỷ lục về số tiền bán vé trong Ngày Giáng sinh với $14.75 triệu. Nó đạt tổng cộng $51.7 triệu tiền vé trong bốn ngày cuối tuần và đứng số #1 về tiền thu từ bán vé, vị trí nó giữ trong hai tuần.[38] Tới ngày 15 tháng 2 năm 2009 tổng doanh thu toàn cầu của nó đạt $161.608.269.[39]

Bộ phim được công chiếu rộng rãi tiếp sau của cô, He's Just Not That into You, ra mắt tháng 2 năm 2009. Bộ phim đoạt doanh thu $27.5 triệu, xếp hạng #1 về tiền bán vé trong tuần lễ đầu tiên.[40] Tuy bộ phim nhận được các nhận xét trái chiều, Aniston cùng với Jennifer Connelly, và Ben Affleck thường được giới phê bình ngợi khen vì khả năng diễn xuất trong phim.[41][42]

Năm 2009, các bộ phim có Aniston đã đạt doanh thu tổng cộng $900.618.847 tại Hoa Kỳ và hơn $1.508.048.564 trên toàn thế giới.[43]

Ngày 16 tháng 7 năm 2009, Aniston được đề cử giải Emmy cho Nữ diễn viên xuất sắc trong một bộ phim truyền hình hài về vai diễn của cô trong 30 Rock.

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Aniston tại Festival Film Quốc tế Toronto năm 2008

Aniston đã hẹn hò với bạn diễn Charlie Schlatter trong bộ phim truyền hình Ferris Bueller năm 1990.[44] Cô bắt đầu quan hệ với Daniel MacDonald năm 1991, kéo dài tới năm 1994 ngay trước khi cô nhận được vai trong phim Friends.[44] She briefly dated musician Adam Duritz in 1995.[44] Từ năm 1995 đến năm 1998, cô có mối tình lãng mạn với diễn viên Tate Donovan[44] và cặp đôi được cho là đã đính hôn.

Năm 1998, cô bắt đầu hẹn hò với tài tử Brad Pitt và lấy anh ngày 29 tháng 7 năm 2000, trong một đám cưới hoang phí tại Malibu.[45] Trong vài năm, cuộc hôn nhân của họ được coi là một thành công khá hiếm tại Hollywood.[4] Tuy nhiên, hai người đã thông báo chia tay ngày 6 tháng 1 năm 2005.[44] Pitt bắt đầu hẹn hò với nữ diễn viên Angelina Jolie, dù Pitt đã bác bỏ việc lừa dối Aniston. Pitt và Aniston đã cùng xuất hiện công khai sau khi thông báo sự chia tay, thậm chí tại một bữa tiệc đêm mừng sinh nhật của Aniston, và các bạn bè của hai người đã nói rằng họ đang hoà giải.[46] Tuy nhiên, Aniston đã đâm đơn ly dị ngày 25 tháng 3 năm 2005.[2] Vụ ly dị được xử xong ngày 2 tháng 10 năm 2005.[47] Báo chí nói rằng cuộc chia tay có nguyên nhân bởi Aniston từ chối có con với Pitt. Aniston đã bác bỏ rằng đó là nguyên nhân sự chia tay của họ trong một cuộc phỏng vấn tháng 8 năm 2005 của tạp chí Vanity Fair, nói rằng,

“ ...Tôi luôn muốn có con, và tôi sẽ không bao giờ đổi việc đó lấy sự nghiệp. ”

Aniston tiết lộ rằng cuộc ly hôn của cô khiến cô gần gũi hơn với mẹ mình, Nancy, cô đã có thái độ ghẻ lạnh bà trong gần một thập kỷ. Ban đầu họ trở nên xa lánh nhau khi Nancy nói về con gái trên một show truyền hình và sau này viết một cuốn sách có tựa đề, From Mother and Daughter to Friends: A Memoir (1999).[48][49] Aniston cũng nói rằng cô bị sốc mạnh sau cái chết của bác sĩ trị liệu từ lâu của mình, người giúp cô cảm thấy cuộc chia tay với Pitt trở nên dễ chịu hơn.[30] Aniston nói mối quan hệ của cô với Pitt, mà cô không cảm thấy hối tiếc, là

“ Bảy năm đầy đủ cùng nhau" và rằng "Đó là một mối quan hệ đẹp và phức tạp."[50] ”

Sau cuộc ly dị, Aniston bắt đầu quan hệ với diễn viên Vince Vaughn, bạn diễn của cô trong phim The Break Up.[44] Những rắc rối trong mối quan hệ được thông báo vào tháng 9 năm 2006, sau đó là một lời xác nhận chia tay vào tháng 12 năm ấy.[44] Cô có hẹn hò với người mẫu nam Paul Sculfor trong vài tháng năm 2007.[44] Tháng 2 năm 2008, cô bắt đầu hẹn hò với ca sĩ John Mayer.[44] Hai người chia tay vào tháng 8, nhưng nối lại quan hệ vào tháng 10 trước khi chia tay lần nữa vào tháng 3 năm 2009.[44] Aniston có một cuộc ăn chơi Gerard Butler tháng 8 năm 2008, và tái hợp trong phim "The Bounty" tháng 6 năm 2009. Những lời đồn đại rằng hai người không chỉ là những người bạn khi Butler và Aniston bị trông thấy đang tay trong tay bên nhau, và điều này được xác định khi họ dừng lại hôn nhau và nắm tay.[51]

Aniston từng có hai septoplasties để sửa vách ngăn lệch của cô —khi nó bị làm sai một lần năm 1994 và lần thứ hai vào tháng 1 năm 2007. Septoplasty là cuộc phẫu thuật giúp làm giảm một điều kiện thông thường có thể dẫn tới khó thở và gặp rắc rối khi ngủ.[52]

Cô là mẹ đỡ đầu của Coco Riley Arquette, con gái của những người bạn thân của cô, diễn viên Courteney Cox ArquetteDavid Arquette. Aniston cũng có quan hệ thân thiết với cựu bạn diễn trong phim Friends, Matthew Perry.

Từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Aniston là người ủng hộ cho nhiều quỹ từ thiện. Cô là người hỗ trợ cho Friends of El Faro, một tổ chức phi lợi nhuận thường dân giúp gây quỹ cho Casa Hogar Sion—một trại mồ côi tại Tijuana, Mexico và đã xuất hiện trong nhiều chương trình quảng cáo thương mại trên TV cho St. Jude's Children's Research Hospital mà cô là một nhà tài trợ chính. Cô cũng một lần xuất hiện với tư cách khách mời trên Oprah's Big Give show để ủng hộ cho sự nghiệp và giúp đỡ bằng tiền mặt. Aniston đã tổ chức Stand Up to Cancer show tháng 9 năm 2008. Trong chiến dịch "It Can't Wait" để giải phóng Myanma, Aniston đã đạo diễn và đóng trong một video. Ngày 14 tháng 4 năm 2007, Aniston nhận được Giải Vanguard của GLAAD vì những đóng góp của cô làm gia tăng tầm nhìn và thấu hiểu với người đồng tính nữ, người đồng tính nam, người lưỡng tính và cộng đồng chuyển giới.

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

[[Tập tin:JenniferAnistonWave08TIFF.jpg|nhỏ|phải|Aniston tại Liên hoan Phim Quốc tế Toronto 2008

Phim
Năm Phim Vai Ghi chú
1993 Leprechaun Tory Reding Phim truyện đầu tiên
1996 She's the One Renee Fitzpatrick
Dream for an Insomniac Allison
1997 'Til There was You Debbie
Picture Perfect Kate Mosely
1998 The Thin Pink Line Clove
Waiting for Woody Herself Phim ngắn
The Object of My Affection Nina Borowski
1999 Office Space Joanna
The Iron Giant Annie Hughes Chỉ lồng tiếng
2001 Rock Star Emily Poule
2002 The Good Girl Justine Last Giành một Teen Choice Award

Được đề cử cho một Independent Spirit Award.

Được đề cử cho một OFCS Award

Được đề cử cho một Golden Satellite Award

Được đề cử cho một Teen Choice Award

2003 Bruce Almighty Grace Connelly

Được đề cử cho một MTV Movie Award cùng với Jim Carrey

Được đề cử cho một Teen Choice Award

Abby Singer Herself Cameo
2004 Along Came Polly Polly Prince Được đề cử cho một MTV Movie Award cùng với Ben Stiller
2005 Derailed Lucinda Harris
Rumor Has It... Sarah Huttinger
2006 Friends with Money Olivia
The Break-Up Brooke Meyers Giành một Teen Choice Award

Giành một People's Choice Award

2008 Management Sue Claussen 7 tháng 9 năm 2008 (Toronto Film Festival)

Ngày ra mắt: 15 tháng 5 năm 2009

Marley & Me Jenny Grogan Doanh thu bán vé ngày Giáng sinh kỷ lục với $14.75 triệu[38]

Được đề cử Kid's Choice Award

Giành một Teen Choice Award

2009 He's Just Not That into You Beth Murphy Được đề cử cho Teen Choice Award
Love Happens Eloise Sẽ được ra mắt ngày 18 tháng 9 năm 2009[53]
The Bounty Hunter Casidy Daley Đang quay
2010 The Baster Kassie Hậu kỳ
Pumas TBA Tiền sản xuất
The Goree Girls TBA Tiền sản xuất
2011 Just Go with It Katherine Murphy
Horrible Bosses Tiến sĩ Julia Harris
Truyền hình
Năm Tên Vai Ghi chú
1990 Molloy Courtney Vai chính (6 tập)[54]
1990 Camp Cucamonga Ava Schector Phim truyền hình
19901991 Ferris Bueller Jeannie Bueller Vai chính
19921993 The Edge Various characters Main role
1994 Muddling Through Madeline Drego Cooper Main role
19942004 Friends Rachel Green Giành Golden Globe (2003)

Giành Primetime Emmy Award (2002)

Giành Screen Actors Guild (1996)

Giành Logie Award (2004)

Giành 3 Teen Choice Awards (2002-2004)

Guest appearances
Năm Tên Vai Ghi chú
1992 Quantum Leap Kiki Wilson "Nowhere to Run" (Năm 5, Tập 4)
19921993 Herman's Head Suzie Brooks
  • "Twisted Sister" (Năm 1, Tập 25)
  • "Jay Is for Jealousy" (Năm 3, Tập 8)
1994 Burke's Law Linda Campbell "Who Killed the Beauty Queen?" (Năm 1, Tập 4)
1998 Partners CPA Suzanne "Follow the Clams?" (Năm 1, Tập 17)
1998 Disney's Hercules Galatea (Lồng tiếng) "Dream Date" (Năm 1, Tập 27)
1999 South Park Mrs. Stevens - Choir Teacher (Lồng tiếng) "Rainforest Schmainforest" (Năm 3, Tập 1)
2003 Freedom: A History of Us Jessie Benton "Wake Up America " (Năm 1, Tập 4)
King of the Hill Pepperoni Sue/Stephanie (Lồng tiếng) "Queasy Rider" (Năm 7, Tập 13)
2007 Dirt Tina Harrod "Ita Missa Est " (Năm 1, Tập 13)
2008 30 Rock[55] Claire Harper "The One With the Cast of Night Court" (Năm 3, Tập 3)

Đạo diễn[sửa | sửa mã nguồn]


Năm Tên Ghi chú
2006 Room 10 Phim ngắn

Nhà sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]


Năm Tên Ghi chú
2008 Management Nhà sản xuất điều hành
2010 The Baster Nhà sản xuất điều hành
The Goree Girls Tiền sản xuất

Các công việc khác của Jennifer Aniston

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Jennifer Aniston đã giành nhiều giải thưởng trong sự nghiệp, cho cả các tác phẩm truyền hình và phim ảnh. Đây là một danh sách đầy đủ các giải thưởng cô đã có được.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Transcripts”. CNN.com. 
  2. ^ a ă Silverman, Stephen M. (25 tháng 3 năm 2005). “Jennifer Files for Divorce from Brad”. People. Truy cập 15 tháng 7, 2008. 
  3. ^ a ă â b c d đ “Hello Magazine Profile - Jennifer Aniston”. Hello Magazine. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h “Jennifer Aniston Biography”. People. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008. 
  5. ^ “Ancestry 603”. SDGENEALOGY.ORG. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2008. 
  6. ^ Fussman, Cal (1 tháng 10 năm 2002). “A Woman We Love: Jennifer Aniston”. Esquire. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  7. ^ “Biography of Jennifer Aniston”. Tiscali. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  8. ^ a ă â “Hello Magazine Filmography - Jennifer Aniston”. Hello Magazine. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  9. ^ Canby, Vincent (9 tháng 1 năm 1993). “Leprechaun Review”. New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  10. ^ a ă "E! True Hollywood Story: Friends". E! True Hollywood Story. E!. 19 tháng 11 năm 2006. Tập 15, mùa 10.
  11. ^ "The Pilot". Marta Kauffman, David Crane, and Kevin S. Bright. Friends. NBC. 22 tháng 9 năm 1994. Tập 1, mùa 1. 30 phút.
  12. ^ "The Last One". Friends. NBC. 6 tháng 5 năm 2004. Tập 17 and 18, mùa 10.
  13. ^ “IMDB: Emmy Awards 2000”. IMDB.com. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  14. ^ “IMDB: Emmy Awards 2001”. IMDB.com. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  15. ^ “2003 Emmy Award Comedy Nominations”. Emmy Awards Online. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  16. ^ “2004 Emmy Award Comedy Nominations”. Emmy Awards Online. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  17. ^ Silverman, Stephen M. (22 tháng 9 năm 2002). “Emmy Awards Make New Best 'Friends'”. People. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  18. ^ Guinness World Records 2005: Special 50th Anniversary Edition. Guinness. 23 tháng 8 năm 2004. tr. 288. ISBN 1892051222. 
  19. ^ Elliott, Stuart (31 tháng 7 năm 1995). “The Media Business: Advertising; Haven't heard of Windows 95? Where have you been hiding?”. New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  20. ^ Maslin, Janet (17 tháng 4 năm 1998). “The Object of My Affection Review”. New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  21. ^ Schwarzbaum, Lisa (7 tháng 8 năm 2002). “The Good Girl Review”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  22. ^ Chang, Justin (5 tháng 11 năm 2005). “Derailed Review”. Variety. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  23. ^ Ebert, Roger (23 tháng 12 năm 2005). “Rumor Has It Review”. Chicago Sun-Times. Roger Ebert.com. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  24. ^ Koehler, Robert (23 tháng 5 năm 2003). “Bruce Almighty Review”. Variety. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  25. ^ Papamichael, Stella. “BBC Films - Along Came Polly Review”. BBC. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  26. ^ Travers, Peter (4 tháng 4 năm 2006). “Friends With Money Review”. Rolling Stone. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  27. ^ “Box Office Mojo”. The Break-Up's opening weekend gross. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2006.  Đã bỏ qua tham số không rõ |dateformat= (trợ giúp)
  28. ^ “TVSquad.com”. Jennifer Aniston to guest star on Dirt. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2007.  Đã bỏ qua tham số không rõ |dateformat= (trợ giúp)
  29. ^ “And She Directs Too, Jennifer Aniton Marks Directing Debut With Short Film For Glamour Reel Moments”. CBS News. 17 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  30. ^ a ă Van Meter, Jonathan (tháng 3 năm 2006). “Jennifer Aniston: A Profile in Courage”. Style.com. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  31. ^ “Forbes.com”. In Pictures: The Richest 20 Women In Entertainment. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2007.  Đã bỏ qua tham số không rõ |dateformat= (trợ giúp)
  32. ^ “Hollywood.com”. Nicole Kidman Tops Hollywood Earners List at Hollywood.com. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2007.  Đã bỏ qua tham số không rõ |dateformat= (trợ giúp)
  33. ^ “Fab Tab Cover Stars”. Forbes. 2 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  34. ^ “Forbes Celebrity 100 Has a Big 'O'”. Celebuzz.com. 12 tháng 6 năm 2008. 
  35. ^ “The Celebrity 100”. Forbes. 12 tháng 6 năm 2008. 
  36. ^ Moore, Frazier (29 tháng 8 năm 2008). “Jennifer Aniston will make a return visit to NBC”. The Associated Press. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2008. 
  37. ^ “Actress Jennifer Aniston appears naked in GQ magazine”. peoplestar.co.uk. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2008. 
  38. ^ a ă Wethcer, Barry (26 tháng 12 năm 2008). “‘Marley & Me’ sets Christmas Day record”. MSNBC. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008. 
  39. ^ “Marley and Me (2008)”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008. 
  40. ^ http://web.archive.org/20090211072842/www.hollywoodreporter.com/hr/content_display/news/e3ib2336cb7507211a2e4389b8078d6194b
  41. ^ “He's Just Not That Into You”. Metacritic.com. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008. 
  42. ^ Cooper, Jackie K. “Jennifer Aniston and Ben Affleck in "He's Just Not That In To You"”. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008. 
  43. ^ “Jennifer Aniston”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008. 
  44. ^ a ă â b c d đ e ê g “Jennifer Aniston Biography”. Movies Yahoo!. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008. 
  45. ^ “Brad Pitt Biography”. People. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008. 
  46. ^ “Brad & Jen Reunite for Her Birthday”. People. 17 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008. 
  47. ^ Kappes, Serena (30 tháng 9 năm 2005). “Brad & Jen Finalize Divorce”. People. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008. 
  48. ^ “The Unsinkable Jennifer Aniston”. Vanity Fair. Tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2008. 
  49. ^ Laurence, Charles (15 tháng 12 năm 2006). “Not even friends...”. Los Angeles National Post. 
  50. ^ “Daily Times”. Aniston just wants to make Friends with Pitt. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2006.  Đã bỏ qua tham số không rõ |dateformat= (trợ giúp)
  51. ^ “EXCLUSIVE: Jen Aniston and Gerard Butler Kissing On Set!”. 
  52. ^ “Jen Gets a Nose Job”. Us Magazine. 24 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2008. 
  53. ^ “BRAND NEW DAY (FORMERLY TRAVELING)”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008. 
  54. ^ LYNN HIRSCHBERG (21). “The Screens Issue. Screens Goddess”. NYTimes.com. Truy cập 9 tháng 8 năm 2009. 
  55. ^ Goldstein, Andew M. (14 tháng 9 năm 2008). “‘30 Rock’ Snags Martin, Maybe Oprah”. New York. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh báo: Từ khóa xếp mặc định “Aniston,Jennifer” ghi đè từ khóa trước, “Aniston, Jennifer”.