Kawagishi Bunzaburo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Kawagishi. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tên người Nhật hiện đại khi viết bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Kawagishi Bunzaburō
Tiểu sử
Sinh


Gunma, Nhật Bản
Binh nghiệp
Phục vụ Cờ của Đế quốc Nhật Bản Đế quốc Nhật Bản
Thuộc War flag of the Imperial Japanese Army.svg Lục quân Đế quốc Nhật Bản
Năm tại ngũ 1903- 1939
Cấp bậc Trung tướng
Chỉ huy Sư đoàn Bộ binh 20 Đế quốc Nhật Bản
Tham chiến Chiến tranh Nga-Nhật
Chiến tranh Trung-Nhật

Kawagishi Bunzaburō (Nhật: 川岸文三郎 (Xuyên Ngạn Văn Tam Lang) sinh ngày 01 tháng 01 năm 1882 mất ngày 16 tháng 6 năm 1957?), là một trung tướng thuộc Đế quốc Nhật Bản, ông tham gia giai đoạn đầu cuộc chiến tranh Trung-Nhật.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ra ở tỉnh Gunma, Kawagishi tốt nghiệp khóa 15 Trường Sĩ quan Lục quân (Đế quốc Nhật Bản) vào năm 1903. Ông phục vụ trong Trung đoàn Bộ binh 3 với cấp trung úy, trong cuộc chiến tranh Nga-Nhật 1904- 1905. Tháng 11 năm 1911, ông tốt nghiệp khóa 23 Đại học Lục quân (Đế quốc Nhật Bản).

Ông làm tham mưu cho Nhật Bản Đồn trú Trung Quốc quân, Bộ Tổng Tham mưu Lục quân Đế quốc Nhật Bản, Trung đoàn Cận vệ 2, đạo quân Quan Đông và Sư đoàn 1 (Đế quốc Nhật Bản); cho đến tháng 2 năm 1924, khi ông được bổ nhiệm làm phụ tá cho hoàng đế Nhật Bản.

Kawagishi xin nghĩ một thời gian ngắn, đến ănm 1929, ông được triệu về lại; làm chỉ huy Trung đoàn Cận vệ 1. Tháng 8 năm 1931, ông được thăng chức thiếu tướng và một lần nữa trở thành phụ tá cho hoàng đế Hirohito cho đến năm 1934.

Từ năm 1935- 1936, ông chỉ huy Lữ đoàn Hỗn hợp Độc lập 11, và cuối năm 1936, ông chỉ huy Sư đoàn 20 đóng tại Hàn Quốc.

Sau khi sự kiện Lư Câu Kiều bùng nổ, Kawagishi cùng với Sư đoàn 20 chuyển tới miền bắc Trung Quốc, tham gia cuộc hành quân đường sắt Bắc Kinh- Hán Khẩu.

Năm 1938, ông trở về Nhật Bản, được thăng chức trung tướng, giữ chức tổng tư lệnh Đông Bộ quân. Đến năm 1939, ông về hưu. Mộ ông đặt tại nghĩa trang Tama ở Fuchū, Tokyo.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dorn, Frank (1974). Chiến trang Trung - Nhật, 1937-41: Từ Lư Câu Kiều đến Trân Châu Cảng. MacMillan. isbn = 0025322001. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]