Lavochkin La-11

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lavochkin La-11
Kiểu Máy bay tiêm kích
Hãng sản xuất Lavochkin
Chuyến bay đầu tiên tháng 6-1947
Được giới thiệu 1947
Hãng sử dụng chính Flag of the Soviet Union.svg Không quân Xô Viết
Được chế tạo 1947-1951
Số lượng được sản xuất 1.182
Được phát triển từ Lavochkin La-9

Lavochkin La-11 (tên ký hiệu của NATO: Fang) là một máy bay tiêm kích động cơ piston tầm xa của Liên Xô sau Chiến tranh Thế giới II.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những khuyến cáo từ các thử nghiệm cấp nhà nước của Lavochkin La-130 (nguyên mẫu của Lavochkin La-9) là cần phát triển hơn nữa để có thể trở thành một máy bay tiêm kích hộ tống tầm xa hiệu quả. Và nguyên mẫu sau có tên gọi La-134 (đôi khi cũng được gọi là La-9M) đã được cải tiến tăng khả năng mang nhiên liệu. Vũ khí giảm xuống còn ba khẩu pháo. Nguyên mẫu này bay vào tháng 5 năm 1947. Nguyên mẫu thứ hai là La-134D có khả năng chứa nhiên liệu cao hơn, thêm 275 lít (73 gallon) trong các thùng nhiên liệu ở cánh và thùng nhiên liệu phụ. Máy bay được trang bị loại lốp lớn để điều tiết trọng lượng gia tăng và tính tiện nghi cho các chuyến bay dài như ghế ngồi phải được lót thêm vật liệu mềm, nơi cất vũ khí và chỗ đi vệ sinh. Ngoài ra, một bộ dẫn đường bằng radio cũng được lắp đặt. Với những sửa đổi đó, hiệu suất chiến đấu của máy bay khi đầy nhiên liệu trở nên kém hơn. Tuy nhiên, máy bay chỉ có thể hoạt động hiệu quả trên độ cao dưới 7.000 m (23.000 ft). Máy bay tiêm kích mới, có tên gọi chính thức là La-11 bắt đầu sản xuất vào năm 1947. Đến khi kết thúc sản xuất vào năm 1951, tổng cộng đã có 1.182 chiếc được chế tạo.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Những tài liệu chứng minh La-11 được sử dụng trong không chiến lần đầu vào ngày 8 tháng 4-1950, khi La-11 bắn hạ một chiếc PB4Y-2 Privateer phía trên Biển Baltic làm thiệt mạng phi hành đoàn gồm 10 người. Sau đó cùng năm, La-11 tiếp tục bắn rơi một chiếc Lockheed P2V Neptune. Tháng 7-1950, La-11 được sử dụng để thực hiện nhiệm vụ tuần tra chiến đấu trên không tại Bắc Triều Tiên. Mục tiêu chính của La-11 trong Chiến tranh Triều Tiên là những chiếc máy bay ném bom ban đêm Douglas A-26 Invader, mặc dù La-11 cũng đã nhiều lần giao tranh với những chiếc North American P-51 Mustang. Người ta đã thử dùng La-11 để ngăn chặn máy bay ném bom Boeing B-29 Superfortress nhưng thực tế đã chứng minh không hiệu quả. La-11 mất đến 26 phút để đạt đến độ cao bay thông thường của B-29 và La-11 chỉ có lợi thế tốc độ hơn có 20 km/h (12 mph), do đó B-29 đã dễ dàng tránh được những cuộc công bổ nhào của La-11.

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Thông số kỹ thuật (La-11)[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc điểm riêng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phi đoàn: 1
  • Chiều dài: 8.62 m (28 ft 3 in)
  • Sải cánh: 9.80 m (32 ft 2 in)
  • Chiều cao: 3.47 m (11 ft 5 in)
  • Diện tích cánh: 17.6 m² (189 ft²)
  • Trọng lượng rỗng: 2.770 kg (6.107 lb)
  • Trọng lượng cất cánh: 3.730 kg (8.223 lb)
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: 3.996 kg (8.810 lb)
  • Động cơ: 1× Shvetsov ASh-82FN, 1.380 kW (1.850 hp)

Hiệu suất bay[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Notes
Biblliography
  • Gordon, Yefim. Lavochkin's Piston-Engined Fighters (Red Star Volume 10). Earl Shilton, Leicester, UK: Midland Publishing Ltd., 2003. ISBN 1-85780-151-2.
  • Kopenhagen, W (ed.), Das große Flugzeug-Typenbuch (in German). Transpress, 1987, ISBN 3-344-00162-0

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay có tính năng tương đương[sửa | sửa mã nguồn]

P-51 Mustang

Trình tự thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]