Lee Young Ae

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Lee.
Lee Young Ae
이영애

Lee Young Ae
Sinh 31 tháng 1, 1971 (43 tuổi)
Seoul, Hàn Quốc
Học vị Đại học Hanyang
(B.A. ngành Văn học Đức)
Đại học ChungAng[1]
(M.A. ngành Kịch nghệ và Điện ảnh)
Công việc Diễn viên, người mẫu
Doanh nghiệp Storm S Company
Chiều cao

1,65 m (5 ft 5 in)

[1]
Vợ (hoặc chồng) Jeong Ho-young (2009 - nay)
Website
Lee Young Ae
Lee Young Ae
Hangul 이영애
Hanja (Hán tự)
Hán-Việt Lý Anh Ái
Romaja quốc ngữ I Yeong-ae
McCune-Reischauer I Yŏng-ae

Lee Young-Ae (sinh ngày 31 tháng 1 năm 1971) là một nữ diễn viên Hàn Quốc, còn được biết đến với biệt danh là "Quý bà Oxy" (Oxygen Lady) hay Asia Sweetheart.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Lee giành được sự chú ý và lòng yêu mến của đông đảo khán giả tại các nước Châu Á sau vai chính trong bộ phim truyền hình nổi tiếng Dae Jang Geum. Theo các thống kê về lượng khán giả xem truyền hình, tập cuối của phim Dae Jang Geum đã thu hút gần như một nửa dân số Hồng Kông ngồi ở nhà để xem.[2]

Năm 2005, tại Liên hoan phim Rồng Xanh, cô được tặng giải thưởng Nữ diễn viên xuất sắc nhất.

Năm 2006, cô ký một hợp đồng hai năm với LG Electronics, một công ty điện tử Hàn Quốc, để là người phát ngôn cho tất cả các sản phẩm của LG Electronics. Với hợp đồng này, cô sẽ tham dự các tour quảng cáo bán hàng xung quanh các nước châu Á (nhưng không giới hạn) gồm: Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia, Singapore và Indonesia.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 24 tháng 8 năm 2009, Lee Young-ae đã kết hôn với Jeong Ho-young, một doanh nhân người Mỹ gốc Hàn. Đám cưới được tổ chức tại Hawaii.[3] Vào ngày 20/2 năm 2011, Lee đã sinh đôi một trai một gái tại bệnh viện Jeil, tỉnh Junggu, Seoul.[4]

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sympathy for Lady Vengeance (2005)
  • One Fine Spring Day (2001)
  • Last Present aka The Gift (2001)
  • Joint Security Area (2000)
  • First Kiss (1998)
  • Inch'Allah (1997)

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dae Jang Geum (MBC, 2003)
  • Fireworks (SBS, 2000)
  • Invitation (KBS2, 1999)
  • Mighty Waves (SBS, 1999)
  • Food Table of Contents (MBC, 1998)
  • Advocate (MBC, 1998)
  • I Survive Reason (MBC, 1997)
  • Medical Brothers (MBC, 1997)
  • Their Embrace (MBC, 1996)
  • Papa (KBS2, 1996)
  • Love and Marriage (MBC, 1995)
  • West Palace (KBS2, 1995)
  • Asphalt Man (SBS, 1995)
  • How is Your Husband (SBS, 1993)

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1994 SBS Drama Awards, Best New Actress
  • 1995 KBS Drama Awards, Popularity Prize
  • 1996 MBC Drama Awards, Outstanding Actress
  • 1997 SBS Drama Awards, Best Actress
  • 1998 SBS Drama Awards, Best Actress
  • 1999 KBS Drama Awards, Popularity Prize
  • 2001 Korea Movie & Music Awards, Photogenic Prize for Actress
  • 2001 Pusan Film Critics Awards, Best Actress (One Fine Spring Day)
  • 2003 MBC Drama Awards, Grand Prize
  • 2005 International Film Festival of Catalunya, Best Actress (Sympathy For Lady Vengeance)
  • 2005 Blue Dragon film award, Best Actress (Sympathy For Lady Vengeance)
  • 2006 Baeksang award, Best Actress (Sympathy For Lady Vengeance)
  • 2006 Cinemanila International Film Festival Best Actress: Lee Young-ae for Sympathy for Lady Vengeance (South Korea)[5]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă 이영애. Nate Profile.
  2. ^ “《大長今》熱播台灣創下韓劇收視率新高”. Chinese.chosun.com. 22 tháng 7 năm 2004. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2010. 
  3. ^ “Actress Lee Young-ae Secretly Married in U.S”. The Chosun Ilbo. 26 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2010. 
  4. ^ “Lee Young Ae gives birth to twins”. allkpop.com. 20 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2011. 
  5. ^ http://www.cinemanila.org.ph/

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]