Magnus Carlsen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Magnus Carlsen
Magnus Carlsen (2012) cropped.jpg
Carlsen năm 2012
Tên khai sinh Sven Magnus Øen Carlsen
Quốc gia Na Uy
Ngày sinh 30 tháng 11, 1990 (23 tuổi)
Nơi sinh Tønsberg, Vestfold, Norway
Thành tích
Danh hiệu Đại kiện tướng (2004)
Vô địch nam 2013
Hệ số Elo 2870 Hạng 1 (9.2014)
Cao nhất 2882 (5.2014)

Sven Magnus Øen Carlsen (sinh ngày 30 tháng 11 năm 1990) là một Đại kiện tướng cờ vua người Na Uy, đương kim Vô địch Thế giới và là kỳ thủ số 1 thế giới theo bảng xếp hạng của FIDE. Elo cao nhất mà anh từng đạt được là 2882, cao nhất trong lịch sử cờ vua thế giới.

Được biết đến như một thần đồng cờ vua, vào năm 2004, Carlsen trở thành Đại kiện tướng khi mới 13 tuổi, 148 ngày. Điều này khiến anh trở thành Đại kiện tướng trẻ thứ hai trong lịch sử cờ vua thế giới tại thời điểm đó (sau Sergey Karjakin – 12 tuổi, 210 ngày). Kỉ lục này sau này bị phá bởi Parimarjan Negi (13 tuổi, 143 ngày). Vào ngày 1 tháng 1 năm 2010, khi 19 tuổi, 32 ngày, anh trở thành kỳ thủ số 1 thế giới trẻ nhất trong lịch sử. Vào tháng 1 năm 2013, Carlsen đạt mức Elo 2861 – cao nhất trong lịch sử. Vào tháng 11, năm 2013, Carlsen đánh bại Viswanathan Anand trong trận đấu tranh chức Vô địch Cờ vua Thế Giới 2013 và trở thành nhà Vô địch Cờ vua Thế giới.

Khi còn là một cậu bé, Carlsen được biết đến với phong cách chơi tấn công nhưng sau này Carlsen đã phát triển lối chơi của mình để trở nên cân bằng hơn. Anh không tập trung vào việc chuẩn bị cho khai cuộc như những kỳ thủ hàng đầu khác và đa dạng trong cách khai cuộc, khiến cho các đối thủ cảm thấy khó khăn thi đấu với anh. Sự tinh thông về cờ vị trí (positional play) và chiến lược cùng kỹ năng tàn cuộc xuất chúng khiến anh được nhiều người liên tưởng và so sánh với các Cựu Vô địch Cờ vua Thế giới như José Raúl Capablanca, Vasily Smyslov, và Anatoly Karpov.

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Carlsen thi đấu đồng loạtMolde vào tháng 7 năm 2004

Carlsen sinh ra ở Tønsberg, Na Uy vào ngày 30 tháng 11 năm 1990, là con của Sigrun Øen và Henrik Albert Carlsen – đều là kỹ sư. Gia đình cậu sống một năm ở Espoo, Phần Lan, sau đó chuyển đến Brussels, Bỉ rồi trở về Na Uy vào năm 1998 và định cư ở Lommedalen, Bærum. Sau đó họ chuyển đến Haslum.[1] Carlsen bộc lộ năng khiếu với những thử thách trí tuệ: khi mới 2 tuổi, cậu có thể giải trò chơi xếp hình 50 miếng, khi 4 tuổi, cậu chơi Lego với hướng dẫn dành cho trẻ em từ 10-14 tuổi.[2] Carlsen được bố dạy chơi cờ vua năm 5 tuổi mặc dù cậu không thấy hứng thú với cờ vua.[3] Cuốn sách đầu tiên mà cậu đọc là của Bent Larsen: Find the Plan.[4] Carlsen tự phát triển các kỹ năng cờ vua của mình bằng cách chơi cờ vua một mình hàng giờ liền – di chuyển các quân cờ trên bàn cờ, tìm các đòn phối hợp và chơi lại các trận đấu hoặc một thế trận nào đó được bố mình dạy. Cậu tham dự giải đấu đầu tiên – hạng đấu trẻ nhất của Giải Vô địch Cờ vua Na Uy 1999 – khi 8 tuổi 7 tháng, đạt 6½/11 điểm.[5]

Carlsen sau đó được huấn luyện tại Trường Trung học Thể thao Chuyên nghiệp Na Uy (Norwegian College of Elite Sport) bởi kỳ thủ hàng đầu quốc gia, Đại kiện tướng Simen Agdestein.[6] Vào năm 2000, Agdestein giới thiệu Carlsen với Torbjørn Ringdal Hansen, một Kiện tướng Quốc tế (IM) và cựu vô địch trẻ của Na Uy. Họ bắt đầu tập luyện hàng tuần vào tháng 3. Carlsen thăng tiến rất nhanh với Hansen, giành được hơn một nghìn điểm elo trong vòng chưa đầy một năm. Giải đấu đánh dấu bước ngoặt của cậu là Giải Vô địch Cờ vua Na Uy trẻ vào tháng 9, năm 2000, khi Carlsen dành được 3½/5 trước các kỳ thủ trẻ hàng đầu Na Uy và Rating Performance (PR) khoảng 2000.[7] Ngoài việc chơi cờ mà Carlsen học từ 3 đến 4 tiếng mỗi ngày, cậu thích chơi bóng đá, trượt tuyết và đọc truyện tranh Donald Duck [8]

Từ mùa thu năm 2000 đến cuối năm 2002, Carlsen chơi khoảng 300 giải đấu tính elo, vài giải cờ chớp và một vài giải đấu nhỏ khác.[9] Cậu đạt 3 chuẩn Kiện tướng Quốc tế gần như liên tiếp: lần đầu vào tháng 1 năm 2003 tại giải Gausdall Troll Masters (7/10 điểm, 2345 PR); lần thứ hai vào tháng 6 năm 2003 tại giải Salongernas IM ở Stockholm (6/9, 2470 PR); lần thứ ba vào tháng 7 năm 2003 tại Cúp Politiken ở Copenhagen (8/11, 2503 PR). Cậu được chính thức phong là Kiện tướng Quốc tế vào ngày 20 tháng 8 năm 2003.[10] Sau khi học xong tiểu học, Carlsen nghỉ một năm để tham dự các giải đấu quốc tế tổ chức ở Châu Âu trong suốt mùa thu năm 2003.[11] Cùng năm đó, cậu đồng hạng 3 tại giải Vô địch U14 châu Âu.[12]

Sự nghiệp Cờ vua[sửa | sửa mã nguồn]

Carlsen vs. Ernst, 2004
Chess zhor 26.png
Chess zver 26.png
Chess l44.png Chess d44.png Chess l44.png Chess rdd44.png Chess l44.png Chess rdd44.png Chess kdl44.png Chess d44.png
Chess pdd44.png Chess pdl44.png Chess d44.png Chess l44.png Chess bdd44.png Chess pdl44.png Chess pdd44.png Chess l44.png
Chess l44.png Chess d44.png Chess l44.png Chess d44.png Chess pdl44.png Chess ndd44.png Chess l44.png Chess pdd44.png
Chess qdd44.png Chess l44.png Chess pdd44.png Chess l44.png Chess nld44.png Chess l44.png Chess d44.png Chess pll44.png
Chess l44.png Chess d44.png Chess l44.png Chess pld44.png Chess l44.png Chess bld44.png Chess l44.png Chess d44.png
Chess d44.png Chess l44.png Chess d44.png Chess l44.png Chess d44.png Chess l44.png Chess d44.png Chess l44.png
Chess pll44.png Chess pld44.png Chess pll44.png Chess d44.png Chess qll44.png Chess pld44.png Chess pll44.png Chess d44.png
Chess d44.png Chess kll44.png Chess d44.png Chess rll44.png Chess d44.png Chess l44.png Chess d44.png Chess rll44.png
Chess zver 26.png
Chess zhor 26.png
Thế trận sau 17…c5. Trận đấu tiếp tục với 18.Ng6 fxg6 19.Qxe6+ Kh8 20.hxg6 Ng8 21.Bxh6 gxh6 22.Rxh6+ Nxh6 23.Qxe7 Nf7 24.gxf7 Kg7 25.Rd3 Rd6 26.Rg3+ Rg6 27.Qe5+ Kxf7 28.Qf5+ Rf6 29.Qd7#

2004[sửa | sửa mã nguồn]

Carlsen gây chú ý sau khi chiến thắng tại nhóm C ở Giải Cờ vua Corus tại Wijk aan Zee. Carlsen giành được 10½/13 điểm, chỉ thua một trận trước kỳ thủ có hệ số elo cao nhất nhóm C, Duško Pavasovič).[13] Nhờ đó, cậu đạt chuẩn Đại kiện tướng (chuẩn GM) lần đầu tiên và đạt mức performance rating là 2702. Đặc biệt đáng chú ý là chiến thắng trước Sipke Ernst ở vòng áp chót, khi Carlsen thí quân để chiếu hết chỉ trong vòng 29 nước.[14] 23 nước đầu tiên được lặp lại từ trận đấu Almagro Llanas–Gustafsson, Madrid 2003 (trận đấu kết thúc với kết quả hòa) – nhưng sự sáng tạo và tinh tế của Carlsen đã biến nó trở thành một trận thắng.

Chiến thắng của Carlsen tại nhóm C giúp cậu có một suất chơi tại nhóm B năm 2005. Điều này khiến Lubomir Kavalek, trong bài viết cho Washington Post, đã đặt cho Carlsen biệt danh "Mozart của Cờ vua". Agdestein cũng nói rằng Carlsen có một trí nhớ xuất sắc và chơi rất nhiều cách khai cuộc lạ.[15]

Tài năng của Carlsen đã làm cho Microsoft chú ý và Microsoft trở thành nhà tài trợ cho cậu.[16]

Carlsen đạt chuẩn GM thứ hai ở Moscow Aeroflot Open vào tháng 2. Vào ngày 17 tháng 3, tại giải cờ chớpReykjavík, Iceland, Carlsen đánh bại cựu vô địch thế giới Anatoly Karpov. Giải cờ chớp này là giải sơ loại của giải cờ nhanh knock-out sau đó một ngày.

Tại vòng sau, Carlsen được xếp cặp với Garry Kasparov, kỳ thủ số một thế giới khi đó. Carlsen hòa trận đầu và thua trận thứ hai, do đó bị loại khỏi giải đấu.[17]

Tại giải Vô địch Cờ vua Dubai mở rộng, tổ chức từ ngày 18 đến 28 tháng 4, Carlsen đạt chuẩn GM thứ 3 và cũng là chuẩn GM cuối cùng. Cậu trở thành GM trẻ nhất thế giới lúc bấy giờ và GM trẻ thứ hai trong lịch sử cờ vua (sau Sergey Karjakin, đạt GM khi mới 12 tuổi 7 tháng),[18] mặc dù kỉ lục của cậu bị vượt qua sau này bởi Parimarjan Negi.[19] Carlsen tham dự Giải Vô địch Cờ vua Thế giới do FIDE tổ chức (FIDE World Chess Championship), qua đó trở thành kỳ thủ trẻ nhất từng tham dự giải, nhưng bị Levon Aronian loại ngay ở vòng 1.[20]

Vào tháng 7, Carlsen và Berge Østenstad (đương kim vô địch Na Uy lúc bấy giờ) đứng đồng hạng nhất tại giải Vô địch Cờ vua Na Uy với 7/9 điểm. Do đó cả hai phải đấu thêm 2 ván cờ để quyết định nhà vô địch. Cả 2 ván đều hòa và Østenstad trở thành nhà vô địch vì có chỉ số phụ cao hơn trong giải đấu.[21]

2005[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Giải Smartfish Chess Masters tại Drammen International Chess Festival 2004–05, Carlsen đánh bại Alexei Shirov – hạng 10 [22] thế giới.[23] Tại bán kết giải cờ nhanh Ciudad de León vào tháng 6, Carlsen chơi 4 ván với Viswanathan Anand – hạng 2 thế giới lúc bấy giờ và là nhà vô địch cờ nhanh thế giới năm 2003.[24] Anand thắng 3-1.[25]

Tại Giải Vô địch Cờ vua Na Uy, Carlsen một lần nữa đồng hạng nhất, nhưng lần này là với huấn luyện viên của mình Simen Agdestein. Một trận đấu play-off giữa hai kỳ thủ đã được sắp xếp trong khoảng từ ngày 7 đến 10 tháng 11. Lần này Carlsen có chỉ số phụ tốt hơn. Tuy vậy, điều luật người có chỉ số phụ tốt hơn sẽ trở thành nhà vô địch nếu hòa trận play-off đã bị chỉ trích mạnh mẽ. Agdestein thắng trận đầu, Carlsen thắng trận thứ hai – do đó cả hai bước vào loạt đấu cờ nhanh cho đến khi tìm ra người thắng cuộc. Carlsen thắng ván cờ nhanh đầu tiên, Agdestein thắng ván thứ hai. Sau đó là 3 ván hòa liên tiếp. Agdestein thắng ván thứ 6 và trở thành nhà vô địch.[26]

Carlsen tại Warsaw, 2005

Cuối năm 2005, Carlsen tham dự World Cup tại Khanty-Mansiysk, Nga. Đây là giải đấu có hình thức đấu loại trực tiếp. Carlsen đã gây bất ngờ khi đánh bại kỳ thủ hạng 44 thế giới Zurab Azmaiparashvili ở vòng 1, hạ gục Farrukh AmonatovIvan Cheparinov để vào vòng 16 người. Tại đây, Carlsen thất bại trước Evgeny Bareev,[27] nhưng sau đó thắng Joël LautierVladimir Malakhov rồi thua Gata Kamsky. Chung cuộc, Carlsen kết thúc ở vị trí thứ 10 và trở thành kỳ thủ trẻ nhất được tham dự Giải Candidates - giải đấu chọn ra người thách đấu nhà đương kim vô địch thế giới.[28] Vào tháng 10, cậu dành vị trí thứ nhất tại Giải Tưởng niệm Arnold Eikrem ở Gausdall với 8/9 điểm và mức PR là 2792.[29]

2006[sửa | sửa mã nguồn]

Carlsen dành được một suất đấu chính thức tại Giải Corus B sau khi vô địch nhóm C. Cậu đồng hạng nhất với Alexander Motylev với 9/13 điểm (+6 -1 =6). Điều này giúp cậu có một suất đấu tại giải Corus A năm 2007.[30]

Carlsen đã gần như chiến thắng Giải Vô địch Cờ vua Na Uy, nhưng trận thua vòng cuối trước Berge Østenstad khiến cậu phải đồng hạng nhất với Agdestein. Điều đó khiến Carlsen không thể phá kỉ lục là Nhà Vô địch Cờ vua Na Uy trẻ nhất của chính Agdestein.[31] Tuy vậy, ở trận đấu play-off tổ chức từ ngày 19 đến 21 tháng 9, Carlsen giành chiến thắng 3-1. Sau 2 ván hòa cờ tiêu chuẩn, Carlsen thắng cả 2 trận cờ nhanh và trở thành nhà vô địch cờ vua Na Uy.[32]

Carlsen vô địch Giải Cờ chớp Glitnir [33] ở Iceland. Cậu thắng Anand 2-0 ở bán kết và thắng cùng tỉ số ở trận chung kết.[34] Cậu đạt 6/8 điểm ở Olympiad Cờ vua thứ 37 và đạt mức PR là 2820.[35]

Ở Giải Cờ vua Midnight Sun, Carlsen về thứ hai sau Sergei Shipov.[36]Giải Cờ vua Biel, câu về thứ hai, đánh bại nhà vô địch của giải đấu Alexander Morozevich 2 lần.[37]

Tại Giải Cờ vua NH tổ chức ở Amsterdam vào tháng 8, Carlsen tham dự một trận đấu đồng đội với khai cuộc là hệ thống Scheveningen giữa hai đội "Kỳ cựu" ("Experience") vs. "Ngôi sao đang lên" ("Rising Stars"). Đội "Ngôi sao đang lên" thắng 28-22, trong đó Carlsen đạt kết quả tốt nhất đội với 6½/10 điểm và 2700 PR, do đó dành quyền tham dự Giải Cờ vua Amber năm 2007.[38]

Với số điểm 7½/15, Carlsen đứng thứ 8/16 tại Giải Vô địch Cờ chớp Thế giớiRishon LeZion, Israel.[39] Tại Giải Cờ nhanh Rencontres nationales et internationales d'échecsCap d'Agde, Pháp, cậu vào đến bán kết nhưng thất bại trước Sergey Karjakin.[40] Vào tháng 11, Carlsen đồng hạng 8/10 tại Giải Tưởng niệm Mikhail TalMoscow với 2 trận thua và 7 hòa. Cậu về đích ở vị trí 9/18 ở giải cờ chớp sau đó (Anand vô địch).[41]

2007[sửa | sửa mã nguồn]

Carlsen đấu với Levon Aronian tại Linares 2007

Tham dự Giải Corus A lần đầu, Carlsen xếp cuối cùng với 9 hòa và 4 thua, dành 4½/13 điểm.[42] Tại giải đấu danh giá Linares, Carlsen được đấu với các kỳ thủ hàng đầu thế giới: Veselin Topalov, Viswanathan Anand, Peter Svidler, Alexander Morozevich, Levon Aronian, Peter Leko, và Vassily Ivanchuk. Mặc dù có hệ số elo thấp hơn hẳn, anh kết thúc giải đấu ở vị trí thứ hai với hệ số phụ 7½/14, đạt thành tích 4 thắng, 7 hòa và 3 thua, đạt mức 2778 PR.[43]

Carlsen lần đầu tham dự Giải Cờ tưởng và Cờ nhanh Melody Amber tại Monte Carlo vào tháng 3. Sau 11 vòng, anh đạt kết quả 8 hòa - 3 thua ở hạng mục thi đấu cờ tưởng và 3 thắng, 7 hòa, 1 thua ở nội dung cờ nhanh. Qua đó, anh xếp hạng 9 cờ tưởng và hạng 2 cờ nhanh (sau Anand), đạt hạng 8 chung cuộc.[44]

Từ tháng 5 đếntháng 6, anh tham dự Giải Candidates để chọn ra người thách đấu với đương kim vô địch FIDE Anand và gặp Levon Aronian trong một trận đấu cờ tiêu chuẩn 6 ván. Trận đấu kết thúc với kết quả hòa sau khi Carlsen bị dẫn trước 2 lần (+2 -2 =2). Trận đấu playoff cờ nhanh 4 ván cũng kết thúc với kết quả hòa (+1 -1 =2) (Carlsen thắng ván cuối). Tuy nhiên, Aronian đã loại Carlsen ra khỏi giải đấu sau khi thắng cả 2 ván cờ chớp.[45]

Từ tháng 7 đến tháng 8, Carlsen vô địch Giải Cờ vua Biel với 6/10 điểm và 2753 PR. Anh đồng hạng nhất với Alexander Onischuk nên họ phải chơi một trận đấu để phân định nhà vô địch. Sau khi hòa cả 2 ván cờ nhanh và 2 ván cờ chớp, Carlsen thắng trận Armageddon.[46] Ngay sau khi tham dự Giải Biel, Carlsen tham dự giải cờ mở Artic Chess Challenge tại Tromsø, nhưng vị trí thứ 4 với +5 =4 là một màn trình diễn dưới phong độ. Ở vòng 1, Carlsen phải bất ngờ chấp nhận một trận hòa trước bạn cùng lớp Brede Hagen (elo 2034)[47] ở thế thua.[48] Trận đấu gây sự chú ý của Carlsen là trận thắng vòng 6 trước chính cha của mình, Henrik Carlsen.[49]

Carlsen vào đến bán kết World Cup vào tháng 12 sau khi đánh bại Michael Adams ở vòng 16 người và Ivan Cheparinov ở tứ kết. Ở bán kết, anh bị loại bởi nhà vô địch giải đấu Gata Kamsky với tỉ số chung cuộc, ½–1½.[50]

2008[sửa | sửa mã nguồn]

Carlsen năm 2008

Tại Giải Corus A, Carlsen dành 8/13 điểm, đạt 2830 PR. Carlsen thắng 5 trận, thua 2 và hòa 6, đồng hạng nhất với Levon Aronian.[51] Tại Giải Cờ vua Linares, Carlsen tiếp tục có 2800+ PR, dành 8/14 điểm. Anh kết thúc giải ở vị trí thứ 2, ½ điểm sau đương kim vô địch thế giới Viswanathan Anand.[52]

Vào tháng 3, Carlsen lần thứ hai tham dự Giải Cờ tưởng và Cờ nhanh Melody Amber, được tổ chức lần đầu tiên tại Nice. Sau 11 vòng, anh đạt kết quả +4 -2 =4 ở nội dung cờ tưởng và +3 -2 =6 ở nội dung cờ nhanh. Kết thúc giải đấu, anh đứng ở vị trí thứ 5 cờ tưởng, thứ 3 cờ nhanh và đồng hạng 2 chung cuộc.[53]

Carlsen là một trong 21 kỳ thủ trong hệ thống 6 giải đấu FIDE Grand Prix 2008 – 2009. Tại giải đấu đầu tiên ở Baku, Azerbaijan, anh đồng hạng nhất với 2800 PR. Carlsen sau đó đã rút lui khỏi hệ thống giải Grand Prix mặc dù đã có những thành công ban đầu. Anh phê phán cách FIDE đã "thay đổi các điều lệ đột ngột ngay giữa giải vô địch thế giới".[54]

Carlsen thắng một trận cờ nhanh với Peter Leko tổ chức ở Miskolc, Hungary với tỉ số 5 – 3.[55] Vào tháng 6, Carlsen thắng giải đấu tổ chức hàng năm Aerosvit – loại 19,[56], kết thúc giải với thành tích bất bại 8/11 điểm với mức 2877 PR – mức PR tốt nhất của anh tính đến thời điểm đó.[57]. Tham dự giải đấu loại 18 Biel, Carlsen về vị trí thứ 3 với 6/10 với mức PR 2740.[58]

Tại Giải Vô địch Cờ nhanh Thế giới tổ chức tại Mainz, Carlsen về vị trí thứ 2 sau khi thua đương kim vô địch Anand 3 – 1 ở trận chung kết.[59] Tại vòng bảng, Carlsen dành 1½–½ trước Judit Polgár, 1 – 1 trước Anand và 1 – 1 trước Alexander Morozevich.[60] Tại giải đấu loại 22 Bilbao Masters, Carlsen đồng hạng 2 với mức PR 2768.[61]

2009[sửa | sửa mã nguồn]

Tham dự nhóm A của Giải Corus, Carlsen đồng hạng 5 với mức 2739 PR.[62] Tại Giải cờ vua Linares, Carlsen đồng hạng 3 với mức 2777 PR.[63] Carlsen đồng hạng 2 với Veselin Topalov tại Giải M-Tel Masters (loại 21) ở Sofia, Bulgaria. Anh thua nhà vô địch của giải Alexei Shirov ở trận đấu cuối cùng và bị bật khỏi vị trí thứ nhất.[64]

Carlsen vô địch giải đấu loại 21 Pearl Spring, cao hơn người về nhì Topalov (kỳ thủ số 1 thế giới thời điểm đó) 2½ điểm. Anh bất bại với tỉ số 8/10, thắng mọi ván cầm trắng (trước Topalov, Vương Nguyệt, Leko, Radjabov và Jakovenko) và cũng thắng Jakovenko khi cầm đen. Anh đạt mức 3002 PR – cao nhất trong lịch sử cờ vua.[65] Nhà thống kê cờ vua Jeff Sonas tuyên bố rằng đây là một trong 20 mức PR cao nhất mọi thời đại và mức PR cao nhất bởi một kỳ thủ tuổi teen.[66]

Tại Giải Tưởng niệm Tal từ ngày 5 đến 14 tháng 11, Carlsen bắt đầu với 7 trận hòa liên tiếp nhưng kết thúc với 2 chiến thắng trước Ruslan PonomariovPeter Leko. Kết quả này giúp Carlsen đồng hạng 2 với Vassily Ivanchuk, sau Vladimir Kramnik.[67][68] Sau Giải Tưởng niệm Tal, Carlsen thắng Giải Vô địch Cờ chớp Thế giới, tổ chức từ ngày 16 đến 18 tháng 11 tại Moscow, Nga. Anh đạt kết quả 28 thắng, 6 hòa và 8 thua – hơn Anand, người về nhì 3 điểm.[69]

Carlsen tại Giải Vô địch Cờ chớp Thế giới 2009

Carlsen dự Giải London Chess Classic với tư cách là hạt giống hàng đầu cùng với Kramnik, Hikaru Nakamura, Michael Adams, Nigel Short, Ni Hua, Luke McShaneDavid Howell. Anh đánh bại Kramnik ở vòng 1 và vô địch giải đấu với 13/21 điểm (một trận thắng được 3 điểm, hòa được 1 điểm, nếu tính theo hệ thống tính điểm bình thường thì anh đạt 5/7 điểm) và mức 2844 PR, nhiều hơn Kramnik 1 điểm. Chức vô địch này đã giúp anh vươn lên đứng đầu bảng xếp hạng FIDE, vượt qua Veselin Topalov.[70]

Dựa trên mức elo trung bình của anh từ tháng 7 năm 2009 đến tháng 1 năm 2010, Carlsen đủ tiêu chuẩn dự Giải Candidates – giải đấu quyết định ra người thách đấu đương kim vô địch thế giới Viswanathan Anand vào năm 2012. Tuy nhiên, vào tháng 11 năm 2010, Carlsen tuyên bố anh sẽ rút lui khỏi Giải Candidates. Carlsen cho rằng quá trình 2008 – 2012 là "không đủ hiện đại và công bằng" và viết rằng "Lợi thế của đương kim vô địch thế giới; chu kỳ 5 năm; những thay đổi trong quá trình đó (tạo nên một thể loại mới mà chưa có một nhà vô địch thế giới nào từng trải qua từ Kasparov); hệ thống xếp hạng gây bối rối cũng như những trận đấu tay đôi tẻ nhạt không ngớt khiến cho giải đấu này không còn hứng thú nữa."[71]

Khoảng đầu năm 2009, Carlsen luyện tập với cựu Vô địch Thế giới Garry Kasparov.[72] Vào tháng 9, sự hợp tác này của họ mới được công khai bởi một tờ báo Na Uy.[73][74] Trả lời một câu hỏi trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Time vào tháng 12 năm 2009 về việc có sử dụng máy tính khi luyện cờ không, Carlsen giải thích rằng anh không dùng bàn cờ khi đang tự nghiên cứu cờ.[75]

2010[sửa | sửa mã nguồn]

Carlsen vô địch Giải Corus diễn ra từ ngày 16 – 31 tháng 1 với 8½ điểm. Trận thua vòng 9 trước Kramnik đã chấm dứt chuỗi 36 trận bất bại.[76] Carlsen phải chiến đấu rất vất vả ở vòng cuối trước Fabio Caruana nhưng cuối cùng hòa được ván cờ, giúp anh nhiều hơn người đứng thứ hai Kramnik và Shirov nửa điểm.[77]

Vào tháng 3, Carlsen chính thức chia tay huấn luyện viên Kasparov,[78] tuy vậy, Carlsen lại trả lời phỏng vấn tờ tạp chí Đức "Der Spiegel" rằng họ vẫn giữ liên lạc và anh vẫn tiếp tục tham gia các kỳ luyện tập cùng Kasparov.[79] Vào năm 2011, Carlsen phát biểu: "Nhờ Kasparov, tôi đã bắt đầu hiểu được các loại thế trận tốt hơn. ... Kasparov giúp tôi nhìn nhận rõ ràng hơn qua những sự trợ giúp thiết thực."[80] Vào năm 2012, khi được hỏi về những gì mà mình học được khi làm việc với Kasparov, Carlsen trả lời: "Thế trận phức tạp. Đó là điều quan trọng nhất."[81]

Carlsen đồng hạng nhất với Ivanchuk tại Giải Cờ tưởng và Cờ nhanh Amber. Dành 6½/11 điểm ở nội dung cờ tưởng và 8/11 điểm ở nội dung cờ nhanh, Carlsen dành tổng cộng 14½/22 điểm.[82] Vào tháng 5, việc Carlsen giúp Anand chuẩn bị cho trận Vô địch Cờ vua Thế giới 2010 trước kỳ thủ thách đấu Veselin Topalov (Anand thắng 6½–5½ để giữ ngôi vô địch) được tiết lộ. Carlsen cũng giúp Anand chuẩn bị cho trận Vô địch Cờ vua Thế giới 20072008.[83]

Carlsen tham dự Giải Bazna Kings ở Romania từ 14 – 25 tháng 6. Giải đấu tổ chức theo thể thức vòng tròn, bao gồm Vương Nguyệt, Boris Gelfand, cựu vô địch FIDE Ruslan Ponomariov, Teimour RadjabovLiviu-Dieter Nisipeanu. Anh kết thúc giải với 7½/10 điểm và 2918 PR, vô địch giải với 2 điểm nhiều hơn người về nhì Radjabov và Gelfand.[84] Carlsen sau đó tham dự giải cờ nhanh từ ngày 28 đến 30 tháng 8 tại Giải Arctic Securities Chess Stars ở Kristiansund, Na Uy. Giải đấu bao gồm đương kim vô địch thế giới Viswanathan Anand, kỳ thủ nữ số 1 thế giới Judit PolgarJon Ludvig Hammer. Tại vòng bảng, Carlsen dành 3½/6 điểm để vào chơi trận chung kết, đứng thứ hai sau Anand.[85] Tại trận chung kết, Carlsen đánh bại Anand 1½–½ để vô địch.[86]

Tuy nhiên, Carlsen lại phải trải qua 2 thất bại ở 2 giải đấu kế tiếp. Tại Olympiad Cờ vua thứ 39 từ 19 tháng 9 đến 4 tháng 10, anh đạt 4½/8 điểm, thua 3 ván trước Baadur Jobava, Michael AdamsSanan Sjugirov; bao gồm cả trận thua đầu tiên với quân đen trong hơn một năm qua.[87] Đội Na Uy của anh đứng thứ 51/149 đội.[88]

Giải đấu tiếp theo của Carlsen là Giải Cờ vua Bilbao từ ngày 9 đến 15 tháng 10 mà anh đủ tiêu chuẩn tham dự sau khi thắng 3/4 Grand Slam Cờ vua năm 2009 (2009 Nanjing Pearl Spring, 2010 Corus, 2010 Bazna Kings). Cùng tham dự với Carlsen là đương kim vô địch thế giới Anand và 2 người có điểm cao nhất từ vòng sơ khảo tổ chức ở Shanghai vào tháng 9: Kramnik và Shirov.[89][90] Elo trung bình của giải là 2789 khiến đây trở thành chung kết Grand Slam cờ vua mạnh nhất trong lịch sử. Tại vòng 1, Carlsen thua Kramnik khi cầm đen – trận thứ 2 liên tiếp thua trước Kramnik khiến ngôi vị số 1 thế giới bị lung lay dữ dội. Ở vòng 2, Carlsen tiếp tục thua khi cầm trắng trước Anand – trận thua khi cầm trắng đầu tiên kể từ tháng 1 năm 2010. Carlsen trở lại ở phần sau của giải với 1 thắng trước Shirov và kết thúc với 2½/6 điểm. Kramnik vô địch giải với 4/6.[91] Carlsen kết thúc giải với elo 2802, kém hơn elo 2804 của Anand và mất ngôi số 1 trên bảng xếp hạng của FIDE. Phong độ giảm sút này đã dấy lên những câu hỏi về những hoạt động của Carlsen ngoài cờ vua, như làm người mẫu cho G-Star Raw, khiến anh bị phân tâm khi thi đấu.[92] Tuy nhiên, Carlsen cho rằng điều đó thì không ảnh hưởng trực tiếp đến phong độ của anh.[93]

Giải đấu tiếp theo của Carlsen là Giải Cờ vua Pearl Spring từ ngày 19 đến 30 tháng 10 tại Nanjing, Trung Quốc. Cùng tham gia giải đấu này có Anand, Topalov, Vugar Gashimov, Yue và Étienne Bacrot.[94] Đây là giải đấu duy nhất vào năm 2010 quy tụ 3 kỳ thủ hàng đầu thế giới lúc bấy giờ: Anand, Carlsen và Topalov và cũng là giải đầu tiên trong lịch sử quy tụ 3 kỳ thủ có mức elo trên 2800. Với các trận thắng trước Bacrot, Yue và Topalov khi cầm trắng, Carlsen sớm vươn lên dẫn đầu, kéo dài mạch trận thắng của mình khi cầm trắng tại Nanjing lên con số 8 trận. Chuỗi trận này chỉ bị dừng lại bởi trận hòa trước Anand ở vòng 7. Tuy nhiên ở vòng áp chót, Carlsen đã củng cố vị trí đứng đầu của mình khi cầm đen đánh bại Topalov. Đây là trận thắng thứ hai của anh trong giải trước cựu số 1 thế giới. Carlsen kết thúc giải với 7/10 điểm (2903 PR) – 1 điểm nhiều hơn á quân Anand.[95]

Carlsen tại Giải London Chess Classic 2010

Tại Giải vô địch Cờ chớp thế giới tổ chức tại Moscow từ ngày 16 đến 18 tháng 11, Carlsen tham dự với tư cách là đương kim vô địch và phải bảo vệ chức vô địch dành được vào năm 2009. Với số điểm 23½/38, anh đứng ở vị trí thứ 3 sau Rajabov và nhà vô địch Levon Aronian.[96] Sau giải đấu, Carlsen chơi một trận đấu riêng gồm 40 ván cờ chớp với Hikaru Nakamura,[97] giành chiến thắng với tỉ số 23½–16½.[98]

Carlsen vô địch Giải London Chess Classic diễn ra từ ngày 8 đến 15 tháng 12 với sự góp mặt của đương kim vô địch thế giới Anand, Vladimir Kramnik, Nakamura và các kỳ thủ người Anh Adams, Nigel Short, David Howell và Luke McShane. Carlsen có một khởi đầu khá vất vả, thua McShane và Anand ở vòng 1 và 3 nhưng thắng Adams và Nakamura khi cầm trắng ở vòng 2 và 4. Anh vươn lên dẫn đầu giải với chiến thắng trước Howell ở vòng 5 và trụ vững ở ngôi đầu sau trận hòa vất vả trước Kramnik ở vòng 6 trước khi đánh bại Short ở vòng cuối. Vì thể thức của giải đáu là 3 điểm cho 1 trận thắng, thành tích +4 -2 =1 của Carlsen giúp anh vượt lên trên Anand và McShane (+2 =5 -0).[99]

2011[sửa | sửa mã nguồn]

Carlsen tham dự Giải Cờ vua Tata Steel (Corus) nhóm A từ ngày 14 đến 30 tháng 1 tại Wijk aan Zee cùng với đương kim vô địch thế giới Viswanathan Anand, Levon Aronian, cựu vô địch thế giới Vladimir Kramnik, Alexander Grischuk, Hikaru Nakamura và cựu vô địch FIDE Ruslan Ponomariov và các kỳ thủ hàng đầu khác. Mặc dù thua 2 ván khi cầm trắng trước Anish Giri và đương kim vô địch Nga Ian Nepomniachtchi, Carlsen kết thúc giải với 8/13 điểm, bao gồm trận thắng trước Kramnik và nhà vô địch giải Nakamura.[100] Mặc dù màn trình diễn của Carlsen giúp anh tăng elo từ 2814 lên 2815 nhưng như vậy là chưa đủ để vượt qua Anand bởi số điểm 8½/13 của Anand giúp elo của Anand tăng lên 2817 – số 1 thế giới theo bảng xếp hạng FIDE tháng 3 năm 2011.[101]

Chức vô địch đầu tiên trong năm của Carlsen là ở Giải Bazna Kings (thể thức vòng tròn) tổ chức ở Medias từ 11 – 21 tháng 6. Carlsen kết thúc giải với 6½/10 điểm, bằng với Sergey Karjakin nhưng vô địch nhờ chỉ số phụ tốt hơn. Carlsen thắng Nakamura, Nispeanu và Ivanchuk khi cầm trẳng, đồng thời hòa tất cả các trận còn lại.[102]

Vòng Chung kết Grand Slam Cờ vua được tổ chức theo thể thức vòng tròn 2 lượt với 6 kỳ thủ tại São Paulo (từ ngày 25 tháng 9 đến ngày 1 tháng 10) và Bilbao (từ ngày 5 đến 11 tháng 10). Mặc dù Carlsen có khởi đầu chậm, bao gồm trận thua trước kỳ thủ elo thấp nhất Vallejo Pons, anh kết thúc giải với +3 -1 =6, bằng điểm với Ivanchuk (+4 -3 =3) (3 điểm cho 1 trận thắng). Carlsen sau đó thắng trận cờ chớp tiebreak trước Ivanchuk. Các kỳ thủ khác là Anand, Aronian, Nakamura và Vallejo Pons.[103]

Một chức vô địch khác là ở Giải Tưởng niệm Tal tổ chức ở Moscow từ ngày 16 đến 25 tháng 11 với thể thức vòng tròn – 10 kỳ thủ. Carlsen thắng 2 ván trước Gelfand và Nakamura và hòa tất cả các ván còn lại. Mặc dù anh bằng điểm với Aronian, anh xếp trước bởi có chỉ số phụ tốt hơn (nhiều ván cầm đen hơn); Carlsen cầm đen 5 ván trong khi Aronian chỉ cầm đen 4 ván.[104]

Tại Giải London Chess Classic tổ chức từ ngày 3 đến 12 tháng 12, chuỗi giải vô địch của Carlsen đã phải dừng lại khi anh chỉ về thứ 3, sau Kramnik và Nakamura. Carlsen thắng 3 trận và hòa 5. Mặc dù không vô địch giải đấu nhưng Carlsen kiếm thêm được elo, vươn lên mức cao nhất trong sự nghiệp lúc bấy giờ là 2835.[105]

2012[sửa | sửa mã nguồn]

Carlsen tại Giải Cờ vua Tata Steel 2012

Tại Giải Cờ vua Tata Steel tổ chức từ ngày 14 đến 29 tháng 1 tại Wijk aan Zee, Carlsen đồng hạng 2 với Radjabov và Caruana (8/13 điểm), sau Aronian. Carlsen đánh bại Gashimov, Aronian, Gelfand và Topalov nhưng thua trước Karjakin.[106] Ở nội dung cờ chớp tại Giải Tưởng niệm Tal, Moscow (7 tháng 6), Carlsen đồng hạng nhất với Morozevich. Ở nội dung cờ tiêu chuẩn (nội dung chính) tại giải đấu này (loại 22) với thể thức vòng tròn 10 người, anh thắng 2 ván và hòa 7. Anh đồng hạng nhất tại giải, cao hơn Radjabov và Caruana.[107]

Carlsen về thứ 2 tại Giải Biel với 18 điểm (3 điểm cho 1 trận thắng, hòa được 1 điểm), chỉ 1 điểm sau Wang Hao. Giống như Giải Tưởng niệm Tal trước đó, Carlsen kết thúc giải mà không thua trận nào (+4 -0 =6). Anh cũng đánh bại nhà vô địch Hao ở cả 2 ván gặp Hao. Tại giải cờ chớp biểu diễn ở Biel trước giải đấu chính thức, Carlsen bị loại ngay vòng 1 (+1 -2 =0) bởi Étienne Bacrot. Bacrot cũng lấy đi của Carlsen một trận thắng tại giải đấu chính thức khi hòa Carlsen ở vòng cuối. Nếu tính theo hệ thống tính điểm cổ điển (1-½-0), anh đã vô địch giải với 7/10 điểm.[108]

Vòng Chung kết Grand Slam Cờ vua một lần nữa được tổ chức ở São Paulo và Bilbao theo thể thức vòng tròn 2 lượt với 6 kỳ thủ. Carlsen bắt đầu giải với 1 trận thua trước Caruana nhưng sau 3 trận thắng vòng 2 (tổ chức ở Bilbao), Carlsen kết thúc với +4 -1 =5, đồng hạng nhất với Caruana, cao hơn Aronian, Karjakin và Anand. Carlsen vô địch giải khi thắng cả 2 trận tiebreak trước Caruana.[109]

Từ 24 – 25 tháng 11, Carlsen tham dự lễ hội cờ vua Segunda Gran Fiesta Internacional de Ajedrez tại Mexico. Carlsen tham dự một trận đấu online với các khán giả (đội "Thế giới") và thắng (cầm trắng). Sau đó anh tham dự giải đấu biểu diễn Cuadrangular UNAM theo thể thức đấu loại trực tiếp. Carlsen đánh bại Lázaro Bruzón 1½–½, qua đó lọt vào trận chung kết để gặp Judit Polgár, người đánh bại Manuel León Hoyos 1½–½. Carlsen thua trận đầu nhưng thắng trận thứ 2 và đánh bại Polgár 2-0 ở trận tiebreak.[110][111]

Carlsen vô địch Giải London Chess Classic vào tháng 12 với 5 trận thắng (trước McShane, Aronian, Gawain Jones, Adams và Judit Polgár) và 3 hòa (trước Kramnik, Nakamura và Anand).[112] Chức vô địch này là chức vô địch giải đấu lần thứ 3 trong vòng 4 năm của Carlsen, giúp elo của anh tăng từ 2848 lên 2861, phá kỉ lục 13 năm của Kasparov – 2851.[112][113] Nếu xét theo mức PR, đây là một trong những mức PR tốt nhất trong lịch sử cờ vua – PR 2994.[114]

2013[sửa | sửa mã nguồn]

Carlsen đang chơi trong trận thứ bảy tại trận đấu Tata Steel ở Wijk aan Zee, 2013

Carlsen tham dự Giải Cờ vua Tata Steel lần thứ 75 tổ chức từ ngày 11 đến 27 tháng 1 tại Wijk aan Zee. Anh vô địch giải 10/13 điểm (+7 -0 =6), hơn người về thứ hai Aronian 1½ điểm.[115] Vào 1 tháng 2, GM người Đan Mạch Peter Heine Nielse tham gia đội trợ tá giúp Carlsen chuẩn bị cho Giải Candidates vào tháng 3. Trước đó, Nielsen thuộc đội của Viswanathan Anand.[116]

Carlsen tham dự Giải Candidates 2013 diễn ra ở London từ ngày 15 tháng 3 đến ngày 1 tháng 4. Anh kết thúc giải với thành tích +5 -2 =7 và vô địch giải nhờ hơn Kramnik chỉ số phụ. Do đó, anh dành quyền thách đấu Anand cho chức vô địch thế giới.[117]

Vào tháng 5, Carlsen tham dự Giải Cờ vua Norway. Anh về thứ 2, đạt 5½/9 điểm (+3 -1 =5), nửa điểm sau Sergey Karjakin.[118]

Carlsen tham dự Giải Tưởng niệm Tal từ ngày 12 đến 23 tháng 6. Anh về thứ 2 với 5½/9 điểm, nửa điểm sau Boris Gelfand. Carlsen kết thúc giải với +3 -1 =5, thua Caruana nhưng đánh bại Anand, Kramnik và Nakamura.[119] Cũng trong tháng 6, Carlsen chơi một trận cờ nhanh 4 ván với Borki Predojević và thắng 2½–1½.[120]

Tại Cúp Sinquefield tổ chức vào tháng 9, Carlsen vô địch với +3 -0 =3, hơn người về nhì Nakamura 1 điểm.[121]

Trận đấu Vô địch Thế giới 2013[sửa | sửa mã nguồn]

Carlsen là người thách đấu đương kim vô địch thế giới Anand tại Chennai, Ấn Độ từ ngày 9 đến 22 tháng 11. Carlsen thắng trận vói tỉ số 6½ - 3½ khi thắng ván thứ 5, 6, 9 và hòa các ván còn lại. Do đó Carlsen trở thành nhà vô địch thế giới mới.[122]

2014[sửa | sửa mã nguồn]

Từ 29 tháng 1 đến 4 tháng 2, Carlsen tham dự Giải Cờ vua Zurich, thắng nội dung cờ chớp (+2 -1 =2) và nội dung cờ tiêu chuẩn (+3 -0 =2). Anh thi đấu không được tốt ở nội dung cờ nhanh (+1 -2 =2) (tính vào bảng xếp hạng chung) nhưng như vậy là đủ để vô địch giải. Các kỳ thủ khác tham dự giải là Aronian, Nakamura, Caruana, Gelfand và Anand.[123] Sau giải này, anh phá kỉ lục mức Elo cao nhất do chính mình lập được năm 2013 với mức Elo mới 2881.[124]

Carlsen chuẩn bị tham dự Giải Cờ vua Norway 2014 được tổ chức theo thể thức vòng tròn với 10 kỳ thủ từ 2 tháng 6 đến 13 tháng 6. Các kỳ thủ khác được xác nhận sẽ tham dự bao gồm Aronian, Caruana, Topalov, Karjakin và Svidler. 4 cái tên khác sẽ được công bố sau.[125]

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Carlsen giành Oscar Cờ vua vào các năm 2009, 2010, 2011 và 2012. Oscar Cờ vua được tạp chí cờ vua Nga "64" trao cho kỳ thủ xuất sắc nhất năm thông qua các phiếu bầu từ những nhà phê bình cờ vua, phóng viên và tác giả.[126][127] Tờ báo Na Uy "Verdens Gang" đã trao tặng danh hiệu Årets navn ("Người của năm") cho Carlsen 2 lần, vào năm 2009[128] và 2013.[129] VG cũng trao tặng anh danh hiệu "Vận động viên của năm" vào năm 2009.[130] Trong cùng năm đó, anh được trao tặng danh hiệu Folkets Idrettspris – một danh hiệu do các độc giả tờ Dagbladet bình chọn.[131] Vào năm 2011, anh được trao giải thưởng Peer Gynt, một giải thưởng của Na Uy nhằm vinh danh người hoặc tổ chức đã có những thành tích xuất sắc và vượt trội trong năm vừa qua.[132] Năm 2012, anh tiếp tục được trao tặng giải "Folkets Idrettspris".[133] Năm 2013, tạp chí Time vinh danh Carlsen là một trong 100 người ảnh hưởng nhất đến thế giới.[134]

Phong cách thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Khi còn bé, Carlsen có phong cách thi đấu dữ dội và mạnh mẽ,[135][136] và theo Agdestein, phong cách chơi của anh được miêu tả là "không sợ hãi, luôn sẵn sàng thí quân để hoạt động".[137] Khi trưởng thành, Carlsen nhận ra rằng phong cách chơi mạo hiểm này không còn phù hợp ở đẳng cấp thế giới nữa. Khi tham dự các giải đấu hàng đầu, anh luôn vất vả trước các kỳ thủ mạnh và gặp rất nhiều khó khăn sau khai cuộc. Để có thể tiếp tục, phong cách của Carlsen trở nên ôn hòa hơn, có khả năng xử lý tốt tất cả các loại thế trận. Khi khai cuộc, Carlsen thường mở đầu với 1.d4 và 1.e4 cũng như 1.c4 và 1.Mf3 khiến cho các đối thủ rất khó đối phó với anh.[138][139] Evgeny Sveshnikov đã từng phê bình cách chơi khai cuộc của Carlsen, trả lời trong một cuộc phỏng vấn năm 2013 rằng nếu không có một sự tiếp cận "khoa học" để chuẩn bị, "tương lai của anh ta không hề hứa hẹn".[140]

Carlsen được biết đến là không hề hứng thú với việc chuẩn bị khai cuộc; sở trường của anh là ở trung cuộc, khi mà anh có khả năng vượt qua rất nhiều đối thủ bằng sự hiểu biết về thế trận. … Mục đích của Carlsen là tránh các sự khủng hoảng, xung đột sớm trong trận đấu. Anh luôn luôn hướng đến trung cuộc bằng sự tiếp cận mang tính chiến lược.

Jan Timman, 2012[141]

Gary Kasparov, người huấn luyện Carlsen từ 2009 đến 2010 nói rằng Carlsen có phong cách nặng về chiến lược và thế trận giống với các cựu vô địch thế giới như Anatoly Karpov, José Raúl CapablancaVasily Smyslov hơn là về chiến thuật như Alexander Alekhine, Mikhail Tal và chính bản thân Kasparov.[142] Tuy nhiên, theo Carlsen, anh không thiên về loại phong cách thi đấu nào cả.[80] Vào năm 2013, Kasparov cho rằng "Carlsen là sự tổng hợp của Karpov và Bobby Fischer. Anh tìm cách đạt được thế trận tốt hơn và không bao giờ để tuột mất. Điều đó khiến các đối thủ cảm thấy mệt mỏi và kiệt sức."[143] Anand đã từng phát biểu về Carlsen: "Các ý tưởng lớn xuất hiện trong đầu anh ta một cách rất tự nhiên. Anh ta cũng rất linh hoạt. Anh ta biết mọi loại cấu trúc và có thể chơi gần như bất kỳ thế trận nào. … Magnus quả thật có thể làm bất cứ việc gì."[144] Kasparov bày tỏ quan điểm tương tự: "Carlsen có khả năng đánh giá chính xác mọi loại thế trận, điều mà trước đó chỉ có Karpov mới dám khoe khoang."[145] Trong một cuộc phỏng vấn năm 2012, Vladimir Kramnik cho rằng rất nhiều thành công của Carlsen trước các kỳ thủ hàng đầu đến từ "nền tảng thể lực tuyệt vời" và khả năng tránh "sai sót tâm lý", khiến cho Carlsen có thể duy trì thi đấu ở mức độ cao qua các trận đấu dài hơi và đến tận cuối các giải đấu, khi mà các kỳ thủ khác đều đã cảm thấy mệt mỏi.[146]

Kỹ năng tàn cuộc của Carlsen được miêu tả là thuộc hàng xuất sắc nhất trong lịch sử cờ vua.[147][148][149][150] Jon Speelman, phân tích một vài trận mà Carlsen chơi toàn cuộc từ Giải London Classic năm 2012 (đặc biệt là chiến thắng trước McShane, Aronian và Adams) đã miêu tả một thứ mà ông gọi là "Hiệu ứng Carlsen":

... nhờ sự kết hợp giữa kỹ năng và danh tiếng, anh ta khiến mọi đối thủ phải mắc lỗi. … Anh ta có thể chơi mãi mãi một cách bình tĩnh, cẩn thận và có lẽ quan trọng nhất là không hề sợ hãi: tính toán chính xác với chỉ một vài lỗi sai và một tỉ lệ lớn các nước "rất tốt". Điều đó làm cho anh ta trở thành một con quái vật và khiến rất nhiều đối thủ sợ hãi, nản chí.[151]

Elo[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 1 năm 2009, theo bảng xếp hạng của FIDE, với 15 tuổi, 32 ngày, Carlsen đạt elo 2625, trở thành kỳ thủ trẻ nhất từng vượt qua mốc 2600 (kỷ lục này sau đó bị phá vỡ bởi Wesley So ở 14 tuổi, 358 ngày).[152] Vào tháng 7 năm 2007, ở 16 tuổi, 213 ngày, Carlsen đạt elo 2710, trở thành kỳ thủ trẻ nhất từng vượt qua mốc 2700.[153] Vào tháng 5 tháng 9 năm 2008, sau khi thắng vòng 4 tại Giải Bilbaol Carlsen, chỉ mới 17 tuổi, 280 ngày đã trở thành số 1 thế giới trên bảng xếp hạng chưa chính thức.[154][155] Chức vô địch Giải Nanjing Pearl 2009 giúp cho elo của Carlsen tăng lên 2801, khiến anh trở thành người trẻ nhất từng vượt qua mốc 2800 (18 tuổi, 336 ngày).[65] Người trẻ nhất trước đó là Kramnik ở tuổi 25[156] Trước Carlsen, chỉ có Kasparov, Topalov, Kramnik và Anand từng vượt qua mốc 2800.[157] Sau Giải Tưởng niệm Tal (tháng 11 năm 2009) anh trở thành số 1 thế giới trên bảng xếp hạng không chính thức với mức elo mới là 2805.7, 0.6 điểm nhiều hơn kỳ thủ số 2, Veselin Topalov.[158]

Theo bảng xếp hạng FIDE tháng 1 năm 2010 (tính 16 trận tại Giải Tưởng niệm Tal và Giải London Chess Classic), Elo của Carlsen đạt mốc 2810.[159] Điều này đồng nghĩa với việc Carlsen trở thành số 1 trẻ nhất trong lịch sử thế giới (19 tuổi, 32 ngày) và là kỳ thủ số 1 đầu tiên không thuộc Nga và các nước Đông Âu kể từ Bobby Fischer năm 1971.[75][160][161][162]

Theo bảng xếp hạng FIDE tháng 3 năm 2010, Carlsen đạt mức elo cao mới trong sự nghiệp là 2813 – chỉ sau Kasparov.[78] Vào tháng 1 năm 2013, theo bảng xếp hạng FIDE< Carlsen đạt elo 2861, vượt qua kỷ lục el 2851 của Kasparov lập được vào tháng 7 năm 1999.[112][113]

Thứ hạng trong top 100 FIDE[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ elo của Carlsen từ 2001

Bảng xếp hạng Elo Số ván đấu Thay đổi Xếp hạng Tuổi
Tháng 1 năm 2006 2625 40 +55 89 15 tuổi, 1 tháng
Tháng 4 năm 2006 2646 13 +21 63 15 tuổi, 4 tháng
Tháng 7 năm 2006 2675 27 +29 31 15 tuổi, 7 tháng
Tháng 10 năm 2006 2698 46 +23 21 15 tuổi, 10 tháng
Tháng 1 năm 2007 2690 11 −8 24 16 tuổi, 1 tháng
Tháng 4 năm 2007 2693 27 +3 22 16 tuổi, 4 tháng
Tháng 7 năm 2007 2710 19 +17 17 16 tuổi, 7 tháng
Tháng 10 năm 2007 2714 25 +4 16 16 tuổi, 10 tháng
Tháng 1 năm 2008 2733 37 +19 13 17 tuổi, 1 tháng
Tháng 4 năm 2008 2765 27 +32 5 17 tuổi, 4 tháng
Tháng 7 năm 2008 2775 16 +10 6 17 tuổi, 7 tháng
Tháng 10 năm 2008 2786 31 +11 4 17 tuổi, 10 tháng
Tháng 1 năm 2009 2776 17 −10 4 18 tuổi, 1 tháng
Tháng 4 năm 2009 2770 27 −6 3 18 tuổi, 4 tháng
Tháng 7 năm 2009 2772 12 +2 3 18 tuổi, 7 tháng
Tháng 9 năm 2009 2772 10 0 4 18 tuổi, 9 tháng
Tháng 11 năm 2009 2801 10 +29 2 18 tuổi, 11 tháng
Tháng 1 năm 2010 2810 16 +9 1 19 tuổi, 1 tháng
Tháng 3 năm 2010 2813 13 +3 1 19 tuổi, 3 tháng
Tháng 5 năm 2010 2813 0 0 1 19 tuổi, 5 tháng
Tháng 7 năm 2010 2826 10 +13 1 19 tuổi, 7 tháng
Tháng 9 năm 2010 2826 0 0 1 19 tuổi, 9 tháng
Tháng 11 năm 2010 2802 14 −24 2 19 tuổi, 11 tháng
Tháng 1 năm 2011 2814 17 +12 1 20 tuổi, 1 tháng
Tháng 3 năm 2011 2815 13 +1 2 20 tuổi, 3 tháng
Tháng 5 năm 2011 2815 0 0 2 20 tuổi, 5 tháng
Tháng 7 năm 2011 2821 10 +6 1 20 tuổi, 7 tháng
Tháng 9 năm 2011 2823 10 +2 1 20 tuổi, 9 tháng
Tháng 11 năm 2011 2826 10 +3 1 20 tuổi, 11 tháng
Tháng 1 năm 2012 2835 17 +9 1 21 tuổi, 1 tháng
Tháng 3 năm 2012 2835 13 0 1 21 tuổi, 3 tháng
Tháng 5 năm 2012 2835 0 0 1 21 tuổi, 5 tháng
Tháng 7 năm 2012 2837 9 +2 1 21 tuổi, 7 tháng
Tháng 8 năm 2012 2837 0 0 1 21 tuổi, 8 tháng
Tháng 9 năm 2012 2843 10 +6 1 21 tuổi, 9 tháng
Tháng 10 năm 2012 2843 0 0 1 21 tuổi, 10 tháng
Tháng 11 năm 2012 2848 10 +5 1 21 tuổi, 11 tháng
Tháng 12 năm 2012 2848 0 0 1 22 tuổi
Tháng 1 năm 2013 2861 8 +13 1 22 tuổi, 1 tháng
Tháng 2 năm 2013 2872 13 +11 1 22 tuổi, 2 tháng
Tháng 3 năm 2013 2872 0 0 1 22 tuổi, 3 tháng
Tháng 4 năm 2013 2872 0 0 1 22 tuổi, 4 tháng
Tháng 5 năm 2013 2868 14 −4 1 22 tuổi, 5 tháng
Tháng 6 năm 2013 2864 9 −4 1 22 tuổi, 6 tháng
Tháng 7 năm 2013 2862 9 −2 1 22 tuổi, 7 tháng
Tháng 8 năm 2013 2862 0 0 1 22 tuổi, 8 tháng
Tháng 9 năm 2013 2862 0 0 1 22 tuổi, 9 tháng
Tháng 10 năm 2013 2870 6 +8 1 22 tuổi, 10 tháng
Tháng 11 năm 2013 2870 0 0 1 22 tuổi, 11 tháng
Tháng 12 năm 2013 2872 10 +2 1 23 tuổi
Tháng 1 năm 2014 2872 0 0 1 23 tuổi, 1 tháng
Tháng 2 năm 2014 2872 0 0 1 23 tuổi, 2 tháng
Tháng 3 năm 2014 2881 5 +9 1 23 tuổi, 3 tháng
  • Elo được in đậm là mức elo cao nhất mà anh đạt được tính đến ngày bảng xếp hạng được công bố

Tỉ số đối đầu với một vài đại kiện tướng[sửa | sửa mã nguồn]

(Không tính cờ nhanh, cờ chớp và cờ tưởng; được viết dưới dạng +thắng –thua =hòa, tính đến 3 Tháng 2 2014.)[163]
Kỳ thủ từng vô địch thế giới được in đậm

Các trận đấu đáng nhớ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài cờ vua[sửa | sửa mã nguồn]

Carlsen là người mẫu cho chiến dịch quảng cáo thu đông 2010 của G-Star Raw với diễn viên Liv Tyler. Anton Corbijn là người chụp ảnh.[169] Chiến dịch này được kết hợp với sự kiện "RAW World Chess Challenge" ở New York – một sự kiện mà Carlsen đấu online với một đội gồm các kỳ thủ trên toàn thế giới (đội sẽ đi nước đi được nhiều người trong đội chọn nhất, những nước đi này được gợi ý bởi 3 GM: Maxime Vachier-Lagrave, Hikaru Nakamura và Judit Polgár). Carlsen, cầm trắng, thắng sau 43 nước.[170] Đạo diễn J.J.Abrams đề nghị Carlsen tham gia đóng "Star Trek Into Darkness" với vai "kỳ thủ đến từ tương lai" nhưng anh đã từ chối vì không đạt được giấy cấp phép làm việc ở Mỹ trong thời gian quay phim.[171] Vào năm 2012, Carlsen xuất hiện trong chương trình "60 Minutes" của CBS,[172] và là khách mời của "The Colbert Report".[173] Anh cũng được phỏng vấn bởi Rainn Wilson cho SoulPancake.[174] Carlsen được chọn là một trong những "người đàn ông gợi cảm của năm 2013" bởi tạp chí Cosmopolitan.[175] Vào tháng 8 năm 2013, Carlsen trở thành đại sứ cho Nordic Semiconductor.[176]

Kể từ 2012, Carlsen là kỳ thủ duy nhất đang thi đấu có một người quản lý riêng toàn thời gian. Espen Agdestein, anh của huấn luyện viên cũ Simen và một kiện tướng FIDE[177] đồng thời cũng từng tham dự Olympiad Cờ vua 2 lần với đội tuyển Na Uy, bắt đầu làm việc như một người đại diện cho Carlsen vào khoảng cuối năm 2008. Công việc của Espen Agdestein là tìm kiếm tài trợ và sắp xếp các cuộc liên hệ với giới truyền thông, nhưng kể từ 2011, anh đảm nhiệm thêm công việc quản lý (công việc này trước đây do ông Henrik Carlsen (cha của Carlsen) đảm nhiệm).[178] Carlsen công bố số tiền mà anh kiếm được năm 2012 là 1,2 triệu USD, phần lớn đến từ các nhà tài trợ.[179]

Vào tháng 2 năm 2014, Carlsen xuất hiện trong chiến dịch quảng cáo xuân - hè năm 2014 của G-Star Raw cùng với diễn viên kiêm người mẫu Lily Cole.[180]

Sách và phim[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Danielsen, Arne (2010). Mesteren. Magnus Carlsen og sjakkspillet (bằng Norwegian). Oslo: Cappelen Damm. tr. 27. ISBN 978-82-02-33754-4. 
  2. ^ Agdestein (2004), p. 10.
  3. ^ Max, D.T. (21 tháng 3 năm 2011). “The prince's gambit: Một ngôi sao cờ vua xuất hiện trong kỉ nguyên máy tính”. The New Yorker. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2013. 
  4. ^ “Just checking”. New In Chess (7): 106. 2006. 
  5. ^ Agdestein (2004), p. 14.
  6. ^ McClain, Dylan Loeb (2009). “Magnus Carlsen, thần đồng cờ vua Na Uy”. The New York Times. Truy cập 4 Tháng 1 2013. 
  7. ^ Agdestein (2004), pp. 16–18; 26.
  8. ^ Agdestein (2004), pp. 78–79.
  9. ^ Agdestein (2004), p. 80.
  10. ^ Agdestein (2004), p. 190.
  11. ^ Agdestein (2004), p. 104.
  12. ^ “European Youth Championship Boys – U14”. Chess-Results.com. 22 Tháng 11 2003. Truy cập 5 Tháng 1 2013. 
  13. ^ Carlsen, Magnus (2004). “Magnificent Magnus”. New In Chess (2): 48–51. 
  14. ^ Corus Chess 2004: Report of round 12 – CCT 2004: Hiccup for Anand – Carlsen Supreme. Retrieved 23 Tháng 11 2009.
  15. ^ Agdestein, Simen (2006). “On the Road”. New In Chess (4): 17–21. 
  16. ^ Berntsen, Mathias (27 Tháng 1 2004). “The Mozart of Chess: Mega Magnus in Wijk aan Zee”. ChessBase News. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  17. ^ a ă “Boy meets Beast in Reykjavik”. ChessBase News. 19 Tháng 3 2004. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  18. ^ “Magnificent Magnus, the world's youngest grandmaster”. ChessBase News. 30 Tháng 4 2004. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  19. ^ Kumar, Vijay (5 Tháng 7 2006). “Parimarjan Negi, Đại kiện tướng trẻ nhất trong lịch sử Ấn Độ”. ChessBase News. Truy cập 6 Tháng 1 2013. 
  20. ^ “FIDE WCC R1: Youngest and oldest falter”. ChessBase News. 20 Tháng 4 2004. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  21. ^ “Østenstad slo ut Magnus Carlsen i sjakk-NM” (bằng Norwegian). Aftenposten.com. 5 Tháng 9 2004. Truy cập 5 Tháng 2 2013. 
  22. ^ “Top 100 Players Tháng 10 2004 – Archive”. FIDE. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  23. ^ “Smartfish sensation: Carlsen defeats Shirov”. ChessBase News. 4 Tháng 1 2005. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  24. ^ “World Champion Vishy Anand!”. ChessBase News. 2 Tháng 11 2003. Truy cập 21 Tháng 8 2013. 
  25. ^ “Kasimdzhanov and Anand win 3:1, 3:1”. ChessBase News. 11 tháng 6 năm 2005. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  26. ^ Valaker, Ole (9 Tháng 11 2005). “Deilig å vinne”. Nettavisen (bằng Norwegian). Truy cập 4 Tháng 1 2013. 
  27. ^ “Bareev defeats Carlsen, Bacrot KO's Lautier”. ChessBase News. 9 Tháng 12 2005. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  28. ^ “Khanty-Mansiysk: The prodigies are through”. ChessBase News. 15 Tháng 12 2005. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  29. ^ Svensen, Tarjei J. (20 Tháng 10 2005). “14-year-old Carlsen with 2792 performance”. ChessBase News. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  30. ^ Geuzendam, Dirk Jan ten (2006). “Motylev and Magnus move up”. New In Chess (2): 42–49. 
  31. ^ “Carlsen falters, shares victory with Agdestein”. ChessBase News. 16 Tháng 7 2006. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  32. ^ “Magnus Carlsen, 15, Norwegian Chess Champion”. ChessBase News. 21 Tháng 9 2006. Truy cập 4 Tháng 1 2013. 
  33. ^ Nafn. “Skáksamband Íslands – Glitnir blitz 2006”. Skaksamband.is. Truy cập 3 Tháng 1 2010. 
  34. ^ Nafn. “Skáksamband Íslands – Results”. Skaksamband.is. Truy cập 3 Tháng 1 2010. 
  35. ^ “37th Chess Olympiad 2006 general. Schachserver der Wiener Zeitung (Austria)”. Schach.wienerzeitung.at. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  36. ^ “Shipov wins Midnight Sun, Carlsen second”. ChessBase News. 3 Tháng 7 2006. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  37. ^ “The remarkable Alexander Morozevich wins Biel”. ChessBase News. 4 Tháng 8 2006. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  38. ^ “The NH Chess Tournament”. Nhchess.quinsy.net. Truy cập 3 Tháng 1 2010. 
  39. ^ Liss, Erik (12 Tháng 9 2006). “Grischuk wins FIDE World Blitz Championship”. ChessBase News. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  40. ^ “Teimour Radjabov wins Cap d'Agde”. ChessBase News. 3 Tháng 11 2006. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  41. ^ “Tal-Mem Blitz: Anand wins with two point lead”. ChessBase News. 19 Tháng 11 2006. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  42. ^ Geuzendam, Dirk Jan ten (2007). “Three cheers for Aronian, Radjabov and Topalov”. New In Chess (2): 10–47. 
  43. ^ “Linares R14: Anand wins Morelia/Linares by a full point”. ChessBase News. 10 Tháng 3 2007. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  44. ^ “Blindfold king Kramnik wins 16th Amber Tournament”. ChessBase News. 30 Tháng 3 2007. Truy cập 4 Tháng 1 2013. 
  45. ^ Geuzendam, Dirk Jan ten (2007). “A Whiff of the Golden Age”. New In Chess (5): 22–53. 
  46. ^ “Carlsen: 'This victory is a milestone for my career'”. ChessBase News. 5 Tháng 8 2007. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  47. ^ “Second Arctic Chess Challenge in Tromsø”. ChessBase News. 7 Tháng 8 2007. Bản gốc lưu trữ 8 Tháng 9 2012. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  48. ^ “Brede Hagen vs Magnus Carlsen”. Chessgames.com. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  49. ^ “Carlsen vs Carlsen – Magnus beats his dad”. ChessBase News. 10 Tháng 8 2007. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  50. ^ “Khanty-Mansiysk: Gata Kamsky in the Final”. ChessBase News. 10 Tháng 12 2007. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  51. ^ “Wijk R13: Aronian, Carlsen win Wijk aan Zee 2008”. ChessBase News. 27 Tháng 1 2008. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  52. ^ “Linares R14: All games drawn, Anand wins Super-GM”. ChessBase News. 7 Tháng 3 2008. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  53. ^ “Melody Amber: Aronian wins with 2½ point lead”. ChessBase News. 27 Tháng 3 2008. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  54. ^ “Chess News – Magnus Carlsen withdraws from Grand Prix”. ChessBase News. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  55. ^ Gyimesi, Zoltán (3 tháng 6 năm 2008). “Miskolc: Carlsen wins the rapid chess match 5:3”. ChessBase News. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  56. ^ “Aerosvit-2008 official site”. Ukrchess.org.ua. 20 tháng 6 năm 2008. Truy cập 31 Tháng 1 2012. 
  57. ^ “Aerosvit 2008: Carlsen wins by a full point”. ChessBase News. 19 tháng 6 năm 2008. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  58. ^ Friedel, Frederic (4 Tháng 8 2008). “Biel 2008: impressions from the final round”. ChessBase News. Truy cập 5 Tháng 2 2013. 
  59. ^ Fischer, Johannes (4 Tháng 8 2008). “Mainz 2008: Anand punishes Carlsen in Grenkeleasing final”. ChessBase News. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  60. ^ Fischer, Johannes (3 Tháng 9 2008). “Mainz 2008: Anand to face Carlsen in Grenkeleasing final”. ChessBase News. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  61. ^ “Bilbao R10: Topalov wins Bilbao, leads in live rankings”. ChessBase News. 16 Tháng 9 2008. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  62. ^ “Sergey Karjakin wins Wijk aan Zee 2009”. ChessBase News. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  63. ^ “Linares R14: All games drawn, Grischuk wins on tiebreak”. ChessBase News. 7 Tháng 3 2009. Truy cập 4 Tháng 1 2013. 
  64. ^ McClain, Dylan Loeb (30 Tháng 5 2009). “Highly Ranked Youth Loses Tactical Battle to an Old Pro”. New York Times. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  65. ^ a ă “Nanjing: Carlsen wins Pearl Spring with 3002 performance”. ChessBase News. 10 Tháng 10 2009. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  66. ^ “Chess News – Facts and figures: Magnus Carlsen's performance in Nanjing”. ChessBase News. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  67. ^ McClain, Dylan Loeb (15 Tháng 11 2009). “Kramnik Wins Tal Memorial, Carlsen Claims No. 1 Ranking”. New York Times Chess Blog. New York Times. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  68. ^ McClain, Dylan Loeb (14 Tháng 11 2009). “Norwegian, 18, Is Youngest to Be Ranked No. 1 at Chess”. New York Times Chess Blog. The New York Times. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  69. ^ “World Blitz Championship: Carlsen wins by three-point margin”. ChessBase News. 18 Tháng 11 2009. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  70. ^ “London R7: Carlsen wins Chess Classic”. ChessBase News. 16 Tháng 12 2009. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  71. ^ “Magnus Carlsen drops out of World Championship cycle”. ChessBase News. 5 Tháng 11 2010. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  72. ^ Doggers, Peter (7 Tháng 9 2009). “Magnus Carlsen: 'My job is to improve my chess'”. ChessVibes. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  73. ^ Peterson, Macauley (7 Tháng 9 2009). “Carlsen, Kasparov Team Up”. The Internet Chess Club. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  74. ^ “Breaking news: Carlsen and Kasparov join forces”. ChessBase News; translated from the Norwegian newspaper VG Nett. 7 Tháng 9 2009. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  75. ^ a ă Harrell, Eben (25 Tháng 12 2009). “Magnus Carlsen: The 19-Year-Old King of Chess”. Time. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  76. ^ Valaker, Ole (26 Tháng 1 2010). “Så tapte Magnus” (bằng Norwegian). Nettavisen. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  77. ^ Valaker, Ole (31 Tháng 1 2010). “Magnus vant thrillerfinale” (bằng Norwegian). Nettavisen. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  78. ^ a ă Barden, Leonard (13 Tháng 3 2010). “World No1 Magnus Carlsen parts company with mentor Garry Kasparov”. The Guardian. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  79. ^ “Magnus Carlsen on his chess career”. ChessBase News. 15 Tháng 3 2010. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  80. ^ a ă “Magnus Carlsen – 'I don't quite fit into the usual schemes'”. ChessBase News. 22 Tháng 12 2011. Truy cập 9 Tháng 9 2013. 
  81. ^ Lubin, Gus (4 Tháng 9 2012). “An Evening With Magnus Carlsen”. Business Insider. Truy cập 9 Tháng 9 2013. 
  82. ^ “Amber: Carlsen and Ivanchuk win 19th Amber”. ChessBase News. 26 Tháng 3 2010. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  83. ^ “Chess News – Anand in Playchess – the helpers in Sofia”. ChessBase News. 19 Tháng 5 2010. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  84. ^ Rogozenco, Dorian (25 tháng 6 năm 2010). “Medias R10: Magnus Carlsen wins with two-point lead”. ChessBase News. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  85. ^ “Arctic Securities Rapid: Carlsen gets "hammered", reaches final”. ChessBase News. 29 Tháng 8 2010. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  86. ^ “Carlsen beats Anand, wins Arctic Securities Rapid”. ChessBase News. 31 Tháng 8 2010. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  87. ^ “Team-Composition for federation NOR – Open”. Chess Results. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  88. ^ “Standings; World Chess Olympiad 2010 Khanty-Mansiysk; Всемирная Шахматная Олимпиада Ханты-Мансийск”. Ugra-chess. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  89. ^ “Final Chess Masters 2010 in Shanghai and Bilbao”. ChessBase News. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  90. ^ Crowther, Mark (8 Tháng 9 2010). “Shanghai Masters 2010”. The Week in Chess. Bản gốc lưu trữ 6 Tháng 9 2012. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  91. ^ Valaker, Ole (15 Tháng 10 2010). “Magnus endte på 3. plass” (bằng Norwegian). Nettavisen. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  92. ^ Brenne, Øyvind (11 Tháng 10 2010). “Bekymret for Sjakk-Carlsen etter "ikke-sportslig styr"” (bằng Norwegian). Verdens Gang. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  93. ^ Carlsen, Magnus (16 Tháng 10 2010). “Magnus Carlsen's Blog”. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  94. ^ “Nanjing Super Chess Tournament 2010 (updated)”. Previews.chessdom.com. 30 Tháng 10 2010. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  95. ^ “Nanjing R10: Magnus wins with 2900+ performance”. ChessBase News. 30 Tháng 10 2010. Truy cập 5 Tháng 1 2013. 
  96. ^ “Aronian wins World Blitz Championship”. ChessBase News. 18 Tháng 11 2010. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  97. ^ Peterson, Macauley (8 Tháng 12 2010). “Nakamura – Carlsen, Private Blitz Match”. United States Chess Federation. Truy cập 16 Tháng 12 2012. 
  98. ^ “NIC's Café”. New In Chess (1): 6. 2011. 
  99. ^ Geuzendam, Dirk Jan ten (2011). “London is Carlsen's call”. New In Chess (1): 10–29. 
  100. ^ Geuzendam, Dirk Jan ten (2011). “Class of 2011”. New In Chess (2): 11–37. 
  101. ^ “Top 100 Players Tháng 3 2011 – Archive”. FIDE. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  102. ^ “Media Kings Rd10: Carlsen–Karjakin draw, Carlsen wins Medias 2011”. ChessBase News. 21 tháng 6 năm 2011. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  103. ^ “Bilbao Masters – Carlsen takes first after blitz tiebreak”. ChessBase News. 12 Tháng 10 2011. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  104. ^ “Carlsen catches Aronian in last round, wins Tal Memorial on tiebreak”. ChessVibes. 25 Tháng 11 2011. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  105. ^ “Sjakk-Carlsen har aldri vært bedre” (bằng Norwegian). Verdens Gang. 12 Tháng 12 2011. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  106. ^ “Wijk aan Zee Rd13: Aronian is sole winner!”. ChessBase News. 29 Tháng 1 2012. Truy cập 5 Tháng 2 2013. 
  107. ^ “Tal Memorial Rd9 – Carlsen takes title in record event”. ChessBase News. 19 tháng 6 năm 2012. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  108. ^ “45th Biel Chess Festival 2012”. The Week in Chess. 2 Tháng 8 2012. Bản gốc lưu trữ 19 Tháng 4 2013. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  109. ^ “Bilbao Rd10: Carlsen takes title in blitz tiebreak”. ChessBase News. 13 Tháng 10 2012. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  110. ^ “Second Gran Fiesta UNAM with Carlsen and Polgar”. ChessBase News. 24 Tháng 11 2012. Truy cập 26 Tháng 11 2012. 
  111. ^ “2nd UNAM won by Magnus Carlsen”. ChessBase News. 26 Tháng 11 2012. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  112. ^ a ă â Crowther, Mark (10 Tháng 12 2012). “Carlsen wins London Chess Classic and takes Kasparov's record”. The Week in Chess. Truy cập 3 Tháng 11 2012. 
  113. ^ a ă “Carlsen beats Kasparov's rating record in London”. Chessvibes. 8 Tháng 12 2012. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  114. ^ “LCC R9: Carlsen first, Kramnik second, both with big wins”. ChessBase News. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  115. ^ “Tata R13: Karjakin, Wang score, Carlsen wins Wijk by 1½ points”. ChessBase News. 27 Tháng 1 2013. Truy cập 27 Tháng 1 2013. 
  116. ^ “Nielsen switches from Anand to Carlsen”. ChessBase News. 31 Tháng 1 2013. Truy cập 5 Tháng 2 2013. 
  117. ^ Ramírez, Alejandro (1 Tháng 4 2013). “Candidates R14 – leaders lose, Carlsen qualifies”. ChessBase News. Truy cập 1 Tháng 4 2013. 
  118. ^ “Sergey Karjakin wins Norway Chess 2013”. ChessBase News. 18 Tháng 5 2013. Truy cập 18 Tháng 5 2013. 
  119. ^ “Tal Final: Gelfand wins, Carlsen clear second”. Chessbase News. 23 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2013. 
  120. ^ Doggers, Peter (29 tháng 6 năm 2013). “Carlsen beats Predojevic with (only) 2.5-1.5”. ChessVibes. Truy cập 11 Tháng 7 2013. 
  121. ^ “Sinquefield 06: Magic Magnus Swindles”. ChessBase News. 15 Tháng 9 2013. Truy cập 16 Tháng 9 2013. 
  122. ^ “Chennai G10: Magnus Carlsen is the new World Champion!”. ChessBase News. 22 Tháng 11 2013. Truy cập 22 Tháng 11 2013. 
  123. ^ “Zurich Chess Challenge 2014”. ChessDom. 19 Tháng 9 2013. Truy cập 23 Tháng 1 2014. 
  124. ^ Frederic Friedel (18 tháng 2 năm 2014). “Carlsen's secrets: How does he do it?”. ChessBase. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2014. 
  125. ^ “Norway Chess 2014 – Six Players Announced”. ChessDom. 22 Tháng 1 2014. Truy cập 27 Tháng 1 2014. 
  126. ^ “Chess Oscar winner Carlsen to be tested for doping”. ChessBase News. 6 Tháng 11 2011. Truy cập 16 Tháng 12 2012. 
  127. ^ “Carlsen Gets His 4th Chess Oscar: 'I Think It's Well-Deserved'”. chess-news.ru. 13 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013. 
  128. ^ Strøm, Kristian Ole (19 Tháng 12 2009). “"Sjakkens Mozart" ble årets navn” ["Mozart of Chess" became the name]. Verdens Gang. Truy cập 15 Tháng 2 2013. 
  129. ^ Øyvind Askeland and Knut Arne Hansen (20 Tháng 12 2013) Magnus Carlsen kåret til Årets navn VG. Retrieved 21 Tháng 12 2013 (tiếng Na Uy)
  130. ^ Strøm, Kristian Ole (24 Tháng 12 2009). “Magnus (19) er landets største idrettsstjerne! ...men Carlsen skulle gjerne vært best i verden i fotball” [Magnus (19) is the country's biggest sports star! ... but Carlsen would like to be best in soccer]. Verdens Gang. Truy cập 15 Tháng 2 2013. 
  131. ^ Skjervum, Eivind (24 Tháng 12 2009). “Magnus Carlsen (19) suveren vinner av Folkets Idrettspris” [Magnus Carlsen (19) clear winner of People's Sports Prize]. Dagbladet. Truy cập 15 Tháng 2 2013. 
  132. ^ “Chess star wins prestigious award”. Views and News from Norway. 21 Tháng 3 2011. Truy cập 16 Tháng 12 2012. 
  133. ^ Kvam, Lars Hojem (24 Tháng 12 2012). “Magnus Carlsen fikk flere stemmer enn de tre neste til sammen” [Magnus Carlsen got more votes than the next three in comparison]. Dagbladet. Truy cập 15 Tháng 2 2013. 
  134. ^ Kasparov, Garry (18 Tháng 4 2013). “The 2013 TIME 100: Magnus Carlsen”. Time. Truy cập 18 Tháng 4 2013. 
  135. ^ Barden, Leonard (28 Tháng 1 2006). “Chess: Barden on chess | Sport”. The Guardian. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  136. ^ Pein, Malcolm. “Dangers of over-optimism”. The Daily Telegraph. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  137. ^ Agdestein (2004), p. 45.
  138. ^ Grønn, Atle (27 Tháng 2 2009). “Magnus Carlsens system” (bằng Norwegian). Dagsavisen. Bản gốc lưu trữ 16 Tháng 7 2011. Truy cập 29 Tháng 11 2010. 
  139. ^ “Chess Opening Explorer”. Chessgames.com. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  140. ^ Geuzendam, Dirk Jan ten (2013). “2871, but not here yet”. New In Chess (2): 12. 
  141. ^ Timman, Jan (2012). “Is modern-day chess really all about preparation?”. New In Chess (5): 98–101. 
  142. ^ “Kasparov on coaching Carlsen”. Chessvibes. 11 Tháng 9 2009. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  143. ^ Kasparov, Garry (17 Tháng 11 2013). “Kasparov63: Carlsen is a combination of ...”. Twitter. Truy cập 19 Tháng 11 2013. 
  144. ^ “Anand's WhyChess interview”. Chess in Translation. 10 Tháng 5 2012. Truy cập 2 Tháng 1 2013. 
  145. ^ Mishanp (9 Tháng 1 2011). “Kasparov's verdict on Carlsen's withdrawal”. Chessintranslation.com. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  146. ^ Geuzendam, Dirk Jan ten (2012). “Vladimir Kramnik: 'I like playing chess now probably more than ever'”. New In Chess (1): 32–41. 
  147. ^ Keene, Raymond (29 tháng 6 năm 2012). “June 29: Today's Game, Winning Move”. The Times.  (yêu cầu đăng ký)
  148. ^ “Chess News – CBM training: Carlsen in Capablanca's footsteps”. ChessBase News. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  149. ^ “Lubomir Kavalek: Magnus Carlsen Storms New York's Chess Scene”. Huffington Post. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  150. ^ Mark Crowther (14 tháng 6 năm 2012). “Morozevich beats Aronian and Carlsen beats Radjabov in Tal Memorial Round 5 | The Week in Chess”. Chess.co.uk. Bản gốc lưu trữ 19 Tháng 4 2013. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  151. ^ Speelman, Jon (2013). “Carlsen's Endgame Magic”. New In Chess (1): 33–41. 
  152. ^ von Kietz, Michael (12 Tháng 2 2013). “Carlsen's Conquests – at 22 he has broken all records”. ChessBase News. Truy cập 12 Tháng 2 2013. 
  153. ^ “Anand tops the Tháng 7 2007 FIDE ratings”. ChessBase News. 3 Tháng 7 2007. Truy cập 5 Tháng 1 2013. 
  154. ^ “Bilbao R4: Topalov topples Anand, Carlsen #1 in the world”. ChessBase News. 5 Tháng 9 2008. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  155. ^ “Live Rating on 5 Sep 2008”. Chess.liverating.org. 17 Tháng 8 2011. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  156. ^ “Dad Carlsen – This has been a dream”. Google. Truy cập 31 Tháng 1 2012. 
  157. ^ “FIDE ratings: Anand now number one”. ChessBase News. 1 Tháng 11 2010. Truy cập 6 Tháng 1 2013. 
  158. ^ “Kramnik wins Tal Memorial 2009, Carlsen number one”. ChessBase News. 14 Tháng 11 2009. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  159. ^ “Magnus Carlsen: Individual Calculations Tháng 1 2010”. FIDE. Truy cập 31 Tháng 1 2012. 
  160. ^ “Norwegian Carlsen is youngest to top chess rankings”. AFP. 1 Tháng 1 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2014. Truy cập 16 Tháng 2 2013. 
  161. ^ Moskwa, Wojciech (30 Tháng 12 2009). “Norwegian teenager to be crowned new chess king”. Reuters. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  162. ^ Harell, Ebden (11 Tháng 1 2010). “A Bold Opening for Kỳ thủ Magnus Carlsen”. Time. Truy cập 31 Tháng 1 2012. 
  163. ^ “Chess Games”. Chessgames.com. 1 Tháng 1 2010. Truy cập 22 Tháng 11 2013. 
  164. ^ “Top 100 Players Tháng 1 2004 FIDE Top players archive”. FIDE. Truy cập 27 Tháng 5 2013. 
  165. ^ Barden, Leonard (19 Tháng 1 2008). “Obituary: Bobbie [sic] Fischer”. The Guardian. Truy cập 4 Tháng 2 2013. 
  166. ^ Geuzendam, Dirk Jan ten (2009). “Alexey Shirov back on board”. New In Chess (4): 17. 
  167. ^ Geuzendam, Dirk Jan ten (2011). “Magnus Carlsen perseveres and prevails in Pashkov House”. New In Chess (8): 23. 
  168. ^ “NIC's Café”. New In Chess (1): 7. 2013. 
  169. ^ “Magnus Carlsen's new career: fashion model!”. ChessBase News. 7 Tháng 7 2010. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  170. ^ “Magnus pounds The World in RAW Chess Challenge”. ChessBase News. 12 Tháng 9 2010. Truy cập 3 Tháng 1 2013. 
  171. ^ “Magnus couldn't make it to Star Trek 2”. ChessBase News. 11 Tháng 4 2012. Truy cập 3 Tháng 1 2012. 
  172. ^ “Mozart of Chess – Magnus Carlsen on CBS 60 Minutes”. ChessBase News. 20 Tháng 2 2012. Truy cập 8 Tháng 1 2013. 
  173. ^ “Magnus Carlsen defeats Stephen Colbert 2-0”. ChessBase News. 25 Tháng 4 2012. Truy cập 8 Tháng 1 2012. 
  174. ^ “SoulPancake interview with Magnus Carlsen”. ChessBase News. 7 Tháng 2 2013. Truy cập 7 Tháng 2 2013. 
  175. ^ “The sexiest men of 2013”. Cosmopolitan. 25 Tháng 3 2013. Truy cập 11 Tháng 4 2013. 
  176. ^ “Nordic Semiconductor ASA: Magnus Carlsen, the best player in chess history, becomes an ambassador for Nordic Semiconductor in three-year sponsorship deal...”. 4-traders.com. 13 Tháng 8 2013. Truy cập 17 Tháng 8 2013. 
  177. ^ “Agdestein, Espen FIDE Chess Profile”. FIDE. Truy cập 10 Tháng 9 2013. 
  178. ^ Geuzendam, Dirk Jan ten (2012). “Interview: Managing Magnus”. New In Chess (5): 44–48. 
  179. ^ Lyall, Sarah (8 Tháng 4 2013). “Shrewd marketing moves for top-ranked chess player”. The New York Times. Truy cập 8 Tháng 4 2013. 
  180. ^ Doggers, Peter (17 Tháng 2 2014). “Magnus Carlsen's YouTube Channel And New G-Star Campaign Video”. Chess.com. Truy cập 17 Tháng 2 2014. 
  181. ^ The Prince of Chess tại Internet Movie Database

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Agdestein, Simen (2004). Wonderboy: How Magnus Carlsen Became the Youngest Chess Grandmaster in the World. Interchess. ISBN 90-5691-131-7. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích
Tiền vị:
Viswanathan Anand
Vô địch Thế giới
2013 – nay
Đương nhiệm
Tiền nhiệm:
Leinier Domínguez
Vô địch Cờ chớp Thế giới
2009
Kế nhiệm:
Levon Aronian
Tiền nhiệm:
Veselin Topalov
Viswanathan Anand
Viswanathan Anand
Số 1 thế giới
1 Tháng 1 2010 – 31 Tháng 10 2010
1 Tháng 1 2011 – 28 Tháng 2 2011
1 Tháng 7 2011 – nay
Kế nhiệm:
Viswanathan Anand
Viswanathan Anand
Đương nhiệm
Tiền nhiệm:
Lê Quang Liêm
Vô địch thế giới cờ chớp
2014
Kế nhiệm:
Đương kim vô địch