Mogador (tàu khu trục Pháp)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mogador-1.jpg
Tàu khu trục Mogador
Phục vụ (Pháp) Civil and Naval Ensign of France.svg
Tên gọi: Mogador
Đặt tên theo: Mogador
Hãng đóng tàu: Xưởng vũ khí Lorient
Đặt lườn: 28 tháng 12 năm 1934
Hạ thủy: 9 tháng 6 năm 1937
Nhập biên chế: 8 tháng 4 năm 1939
Số phận: Bị đánh đắm tại Toulon, 27 tháng 11 năm 1942
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp Mogador
Trọng tải choán nước: 2.997 tấn (2.950 tấn Anh) (tiêu chuẩn)
4.018 tấn (3.955 tấn Anh) (đầy tải)
Độ dài: 137,5 m (451 ft 1 in)
Sườn ngang: 12,57 m (41 ft 3 in)
Mớn nước: 4,74 m (15 ft 7 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Rateau-Bretagne
4 × nồi hơi Indret áp lực 3.500 kilôpascal (510 psi)
2 × trục
công suất 92.000 shp (69.000 kW)
Tốc độ: 39 hải lý một giờ (72 km/h; 45 mph)
Tầm xa: 4.345 nmi (8.000 km) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph);
1.780 nmi (3.300 km) ở tốc độ 28 hải lý một giờ (52 km/h; 32 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
12 sĩ quan, 226 thủy thủ
Vũ trang:

8 × pháo 138 mm (5,4 in) Modèle 1934 (4×2);
2 × pháo phòng không 37 mm (1,5 in) Modèle 1933 (2×1);
4 × súng máy 13,2 mm (0,52 in) Modèle 1929 phòng không (2×2);
10 × ống phóng ngư lôi 550 milimét (22 in) (2×3,2×2);

32 × mìn sâu và cho đến 40 quả mìn

Mogador là một tàu khu trục lớn (tiếng Pháp: contre-torpilleurs) của Hải quân Pháp, chiếc dẫn đầu của lớp tàu khu trục Mogador. Được đặt theo tên trước đây của thị trấn Essaouira tại Morocco, nó được chế tạo ngay trước khi Chiến tranh Thế giới thứ hai nổ ra, và thuộc lớp tàu khu trục áp chót được Hải quân Pháp chế tạo. Cùng với chiếc tàu chị em Volta, Mogador được thiết kế trong một nỗ lực chế tạo một con tàu có thể đánh bại mọi tàu chiến khác có trọng lượng choán nước nhỏ hơn. Nó không được thành công như mong đợi, do sở hữu một dàn vũ khí của tàu tuần dương hạng nhẹ trên một lườn tàu khu trục. Hai chiếc trong lớp được mô tả là đã đẩy khái niệm tàu khu trục vượt quá "giới hạn của mọi khả năng".[1]

Mogador bị hư hại nặng vào ngày 3 tháng 7 năm 1940, khi lực lượng Hải quân Anh tấn công hạm đội Pháp tại Mers-el-Kébir. Sau khi được sửa chữa và đi đến Toulon, nó lại bị chính thủy thủ đoàn của nó đánh đắm trong cảng Toulon khi quân Đức tìm cách chiếm nó cùng với phần còn lại của hạm đội vào ngày 27 tháng 11 năm 1942. Cuối cùng nó bị tháo dỡ vào năm 1949.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Jordan 2007, tr. 59

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Jordan, John (2007). “The Contre-Torpilleurs of the Mogador Class”. Trong Jordan, John. Warship 2007. London: Conway. tr. 45–60. ISBN 1-84486-041-8. 
  • Roche, Jean-Michel (2005). Dictionnaire des bâtiments de la flotte de guerre française de Colbert à nos jours (bằng tiếng Pháp). II: 1870–2006. Toulon: J.-M. Roche. ISBN 978-2-95259170-6. 
  • Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939-1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2. 
  • Whitley, M. J. (1988). Destroyers of World War 2. Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-326-1. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]