Mogador (lớp tàu khu trục)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mogador-2.jpg
Tàu khu trục Volta
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: Mogador
Xưởng đóng tàu: Xưởng vũ khí Lorient;
At. & Ch. de Bretagne, Nantes
Bên sử dụng: Civil and Naval Ensign of France.svg Hải quân Pháp
Lớp trước: lớp Fantasque
Lớp sau: lớp T 47
Thời gian đóng: 1934-1939
Thời gian hoạt động: 1939-1942
Hoàn tất: 2
Bị mất: 2
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu khu trục lớn
Trọng tải choán nước: 2.997 tấn (2.950 tấn Anh) (tiêu chuẩn)
4.018 tấn (3.955 tấn Anh) (đầy tải)
Độ dài: 137,5 m (451 ft 1 in)
Sườn ngang: 12,57 m (41 ft 3 in)
Mớn nước: 4,74 m (15 ft 7 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Rateau-Bretagne
4 × nồi hơi Indret áp lực 3.500 kilôpascal (510 psi)
2 × trục
công suất 92.000 shp (69.000 kW)
Tốc độ: 39 hải lý một giờ (72 km/h; 45 mph)
Tầm xa: 4.345 nmi (8.000 km) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph);
1.780 nmi (3.300 km) ở tốc độ 28 hải lý một giờ (52 km/h; 32 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
12 sĩ quan, 226 thủy thủ
Vũ trang:

8 × pháo 138 mm (5,4 in) Modèle 1934 (4×2);
2 × pháo phòng không 37 mm (1,5 in) Modèle 1933 (2×1);
4 × súng máy 13,2 mm (0,52 in) Modèle 1929 phòng không (2×2);
10 × ống phóng ngư lôi 550 milimét (22 in) (2×3,2×2);

32 × mìn sâu và cho đến 40 quả mìn

Lớp tàu khu trục Mogador bao gồm hai tàu khu trục lớn (tiếng Pháp: contre-torpilleurs) được Hải quân Pháp đặt lườn vào năm 1935 và đưa ra hoạt động vào năm 1939. Chúng là những tàu khu trục lớn cực nhanh, được dự định để hoạt động như những chiếc hộ tống cho hai thiết giáp hạm nhanh thuộc lớp Dunkerque. Thiết kế của chúng được phát triển dựa trên lớp tàu khu trục cực nhanh Fantasque, nhưng nặng hơn 300 tấn và mang tám khẩu pháo trên bốn tháp pháo nòng đôi kín một phần thay vì năm tháp pháo nòng đơn mở. Với cỡ nòng pháo 138 mm (5,4 in), chúng có hỏa lực gần bằng một tàu tuần dương hạng nhẹ.

Cả hai chiếc trong lớp MogadorVolta đều đã có mặt khi lực lượng Anh tấn công hạm đội Pháp tại Mers-el-Kébir vào ngày 3 tháng 7 năm 1940, nhưng chỉ có Volta xoay xở chạy thoát về Toulon. Mogador bị một quả đạn pháo 15 inch (38 cm) bắn trúng đuôi tàu, làm kích nổ những quả mìn sâu chứa tại đây mặc dù bản thân quả đạn pháo bị tịt. Nó bị phá hủy hầu hết phần đuôi, nhưng vẫn còn có thể nổi và được sửa chữa đủ để được gửi đến Toulon vào ngày 1 tháng 11 năm 1940 để tái cấu trúc. Cả hai đã bị đánh đắm khi quân Đức tìm cách chiếm hạm đội Pháp tại Toulon vào ngày 27 tháng 11 năm 1942.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp Mogador được chấp thuận chế tạo trong Dự toán Ngân sách tài khóa 1932 như một phiên bản cải tiến dựa trên lớp tàu khu trục Fantasque với ba tháp pháo nòng đôi mang cùng kiểu pháo 138 mm (5,4 in) Modèle 1929 như những chiếc lớp trước. Tuy nhiên, công việc chế tạo chúng bị ngưng lại trong một giai đoạn, khi mà PhápÝ tiến hành đàm phán một số giới hạn cho hạm đội của họ, và cũng vì các xưởng tàu Pháp đang phải hoạt động hết công suất. Trong thời gian tạm dừng, thiết kế được thay đổi để đối phó lại những điều kiện khí hậu khắc nghiệt của Bắc Đại Tây Dương, và cũng để tích hợp những cải tiến kỹ thuật động lực nhằm có một lườn tàu lớn hơn mà không làm gia tăng tải trọng. Sau khi đề nghị trang bị máy phóng cho thủy phi cơ bị hủy bỏ do không có đủ độ nổi dự trữ, một tháp pháo thứ tư được bổ sung để tăng cường hỏa lực cho con tàu. Volta được chấp thuận chế tạo trong Dự toán Ngân sách tài khóa 1934 cùng với chiếc thiết giáp hạm thứ hai của lớp Dunkerque.[1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Jordan 2007, tr. 46-49

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Campbell, John (2002). Naval Weapons of World War Two. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-87021-459-4. 
  • Chesneau, Roger biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922-1946. Greenwhich: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7. 
  • Jordan, John (2007). “The Contre-Torpilleurs of the Mogador Class”. Warship 2007. London: Conway. tr. 45–60. ISBN 1-84486-041-8. 
  • Lassaque, J. (1996). Les contre-torpilleurs de 2880 tonnes du type Mogador. Marines éditions. ISBN 2-909-675-21-1. 
  • Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939-1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2. 
  • Whitley, M. J. (1988). Destroyers of World War 2. Cassell Publishing. ISBN 1-85409-521-8. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]