Nakajima Kesago

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Nakajima. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tên người Nhật hiện đại khi viết bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Nakajima Kesago
Nakajima Kesago.jpg
Tiểu sử
Sinh


Oita, Nhật Bản
Binh nghiệp
Phục vụ Đế quốc Nhật Bản
Thuộc War flag of the Imperial Japanese Army.svg Lục quân Đế quốc Nhật Bản
Năm tại ngũ 1903 -1939
Cấp bậc 帝國陸軍の階級―襟章―中将.svg Trung tướng
Đơn vị Sư đoàn 16, Quân đoàn 4
Tham chiến Chiến tranh Nga-Nhật
Chiến tranh Trung-Nhật

Nakajima Kesago (中島 今朝吾 ? Trung Đảo Kim Triêu Ngô), sinh ngày 15 tháng 6 năm 1881 mất ngày 28 tháng 10 năm 1945, cấp bậc Trung tướng Lục quân Đế quốc Nhật Bản, tham gia cuộc Chiến tranh Trung-Nhật lần 2 và có dính líu đến vụ thảm sát Nam Kinh tháng 12 năm 1937.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xuất thân từ tỉnh Oita, Nakajima học ở trường Quân sự Dự bị lúc còn nhỏ, tốt nghiệp khóa 15 Trường Sĩ quan Lục quân (Đế quốc Nhật Bản) năm 1903. Đã từng tham gia chiếu đấu trong Chiến tranh Nga-Nhật. Sau chiến tranh, ông tới học trường Đại học Lục quân (Đế quốc Nhật Bản) và tốt nghiệp khóa 25 vào năm 1913. Từ tháng 7 năm 1918 đến tháng 5 năm 1923, ông tới Pháp với vai trò Quan sát viên Quân sự.

Tháng 4 năm 1932, ông được thăng chức Thiếu tướng và được bổ nhiệm chỉ huy Quân khu Maizuru, chịu trách nhiệm về việc phòng thủ dọc bờ biển Honshu Nhật Bản.

Năm 1933-1936, Nakajima giữ chức hiệu trưởng trường Vũ khí hóa học Narashino.

Tháng 3 năm 1936, ông được thăng chức Trung trướng và tư lệnh lực lượng hiến binh.

Chiến tranh Trung-Nhật lần 2 bắt đầu, Nakajima được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 16 Lục quân Đế quốc Nhật Bản, và tham gia đánh trận Thượng Hải, 1937, hoạt động tại Hà Bắc, Trung Quốc. Dưới sự lãnh đạo của lão tướng Matsui Iwane, Nakajima được giữ chức Tư lệnh xâm lược trong trận Nam Kinh diễn ra cuối năm 1937, như vậy chức vụ của Hoàng tử Asaka trong hàng ngũ sĩ quan cao cấp chỉ tồn tại trên danh nghĩa, tại thời điểm xảy ra vụ thảm sát Nam Kinh. Cuốn nhật kí thời chiến của ông xuất bản năm 1985, chứng tỏ đây là một bằng chứng quan trọng về cuộc thảm sát.

Nakajima tham gia trận Vũ Hán trước khi có lệnh chỉ huy Quân đoàn 4 Nhật bản đóng tại Mãn Châu tứ năm 1938-1939.

Quay về Nhật Bản vào năm 1939, Nakajima nghỉ hưu tháng 9 năm 1939.

Tháng 10 năm 1945, ông mất vì bệnh.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bix, Herbert B (2001). Hirohito and the Making of Modern Japan. Harper Perennial. ISBN 0-06-093130-2. 
  • Dorn, Frank (1974). The Sino-Japanese War, 1937-41: From Marco Polo Bridge to Pearl Harbor. MacMillan. isbn = 0025322001. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]