Nam Man

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Những bộ lạc man rợ theo Trung Quốc. Những người ở phương Đông gọi là Đông Di (東夷), phương Tây gọi là Tây Nhung (西戎), phương Nam gọi là Nam Man (南蠻), và phương Bắc gọi là Bắc Địch (北狄).

Nam Man (南蠻, nghĩa là "người man rợ phương Nam") là từ miệt thị trong lịch sử Trung Quốc để chỉ các bộ lạc nổi dậy phía Tây Nam của Trung Quốc. Từ này xuất hiện sau khi có vương quốc Tam Miêu hùng mạnh vào thế kỷ 3 trước Công nguyên do người Miêu dẫn đầu. Trong thời kỳ Tam Quốc, người Miêu dưới sự lãnh đạo của Mạnh Hoạch đã nhiều lần nổi lên chống lại Thục Hán, sau khi Mạnh Hoạch bị Gia Cát Lượng bắt và thả 7 lần đã quy phục Thục Hán. Nam Chiếu thường xuyên cống nộp thông qua Kiếm Nam Tiết độ sứ (劍南節度使).

Trong thời nhà Đường, người Miêu (Hmong) ở khu vực cực Nam, gọi là Mông Xá Chiếu (蒙舍詔) hay Nam Chiếu (南詔), đã thống nhất Lục Chiếu và thành lập nước Miêu độc lập đầu tiên đầu thế kỷ 6. Nam Man bị coi là "man rợ". Khi nhà Đường dần suy yếu, Nam Man giành được độc lập nhiều hơn nhưng đã bị các triều đại sau này đồng hóa. Tuy nhiên, một số ảnh hưởng của nền văn hóa Nam Chiếu đã được truyền xuống phía Nam.