Pháo tự hành chống tăng Jagdtiger

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Jagdtiger Sd. Kfz. 186
Jagdtiger-Aberdeen.00059se8.jpg
Loại Pháo tự hành chống tăng
Nguồn gốc Cờ của Đức Đức Quốc Xã
Lược sử chế tạo
Số lượng chế tạo 88
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 71,7 tấn (158.000 pound)
(bao gồm cả bộ giảm xóc Henschel)
Chiều dài 10,65 m (34,9 ft)
gồm cả pháo
Chiều rộng 3,6 m (12 ft)
Chiều cao 2,8 m (9,2 ft)
Kíp chiến đấu 6

Bọc giáp 250 mm (9.84 in)
Vũ khí chính 1x 12.8 cm PaK 44 L/55
Vũ khí phụ 1x 7.92 mm Maschinengewehr 34
Động cơ V-12 Maybach HL 230 P30
700 PS (690 hp, 515 kW)
Hệ thống treo Thanh xoắn
Tốc độ 34km/h

Panzerjäger Tiger Ausf. B Jagdtiger (Sd. Kfz. 186) là tên một loại pháo tự hành hạng nặng thuộc sư đoàn Jagdpanzer- phục vụ lực lượng quân đội Đức Quốc Xã từ năm 1944 đến cuối cuộc chiến(ở cả 2 mặt trận). Jagdtiger là loại tăng bọc giáp nặng nhất được thấy trong thế chiến II.

Jagdtiger được bọc giáp rất tốt và trang bị vũ khí khá kĩ càng.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Việc phát triển Jagdtiger chủ yếu là do sự thành công của StuG-III trên chiến trường lúc bấy giờ, bộ chỉ huy Đức Quốc Xã lo sợ Liên Xô sẽ đưa ra một loại tăng tự hành khác để đối chọi với StuG-III nên đã yêu cầu tập đoàn Porsche thiết kế và sản xuất gấp Jagdtiger. Cũng giống như StuG-III, Jagdtiger được lắp khung gầm của một loại tăng khác nhưng được bọc giáp dày hơn và trang bị vũ khí nặng hơn. Porsche đã sửa hết những thiếu hụt của StuG-III như tháp pháo rườm rà, chi tiết, giáp mặt trước và sau, nhiên liệu…Kết quả là Jagdtiger được trang bị nòng pháo khá dài cho phép cự ly bắn được xa hơn, tháp pháo không quá rắc rối, lượng nhiên liệu cũng đã được tăng lên. Những cải tiến này cũng góp phần làm giảm bớt giá thành và thời gian sản xuất của Jagdtiger.

Một mẫu Jagdtiger bằng gỗ(đằng sau chiếc tăng hạng nặng Ý P 26/40)-để ra mắt Hitler vào 20/10/1943

Vào năm 1942, Army General Staff chỉ thị lắp pháo 128mm cho Jagdtiger. Đến 18/5/1942, chỉ định này được gửi đến Adolf Hitler và Hitler đã phê duyệt ngay lập tức. Một vài cuộc thử nghiệm đã được thực hiện và pháo 128mm cho kết quả tốt nhất, một số nòng khác như 88mm và 105mm cũng được thử nghiệm.

Vào năm 1943, Jagdtiger được thử nghiệm trên hai loại khung(khung tăng Panther và Tiger-II). Sau đó khoảng 2 tháng, một mẫu Jagdtiger bằng gỗ được sản xuất và ngay lập tức Porsche đã nhận ra khung tăng Panther không phù hợp với Jagdtiger. Vào ngày 20/10/1943, một mẫu Jagdtiger bằng gỗ khác được sản xuất, lần này nó được lắp trên khung tăng Tiger-II, được giới thiệu cho Hitler ở LX. Khung tăng Tiger-II có vẻ phù hợp hơn với Jagdtiger. Nó đủ chỗ để lắp nòng 128mm và có thể mang được khá nhiều nhiên liệu. Jagdtiger được sản xuất chính thức vào đầu năm 1944. Ban đầu nó được đặt tên là Jagdpanzer VI nhưng về sau nó được đặt lại thành Jagdtiger.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Khoang chứa động cơ của Jagdtiger

Giống như Jagdpanther(dựa trên khung tăng Panther), Jagdtiger cũng được lắp khung tăng Tiger-II, tuy nhiên Jagdtiger có kéo dài thêm khung tăng ra để có nhiều chỗ trống hơn. Kết quả là Jagditger có thể chứa nhiều nhiên liệu hơn, có thể bọc được giáp rất nặng và lắp được pháo PaK 44 L/55-có thể hạ gục bất cứ loại thiết giáp nào từ khoảng cách 3500m. Jagdtiger có giáp mặt sườn và phía trước dày đến hơn 250mm, phần tháp dày 150mm. Pháo chính của Jagdiger chỉ có thể nâng được khoảng 10 độ.

Jagdtiger gặp khá nhiều vấn đề về động cơ và máy móc. Trọng lượng của nó cũng quá nặng dẫn đến việc động cơ sẽ quá tải và dễ bị hỏng khi hoạt động. Thực tế thì Jagdtiger cũng gặp phải rất nhiều vấn đề về kĩ thuật, hư máy trong khi hoạt động và có khi phải dùng đến xe kéo. Theo một thống kê của quân đội Đức thì số Jagdtiger bị hư hoặc mất do quân địch ít hơn là do máy móc và động cơ.

Lược sử sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Đức dự định sản xuất 150 chiếc Jagdtiger nhưng chỉ nửa trong số đó được xuất xưởng.11 chiếc Jagdtiger được lắp hệ thống treo của Porsche, số còn lại được lắp hệ thống treo của Henschel.

Việc sản xuất Jagdtiger được thực hiện khá gấp rút, mặc dù Đồng Minh đã bắt đầu ném bom toàn bộ những khu vực nhà máy sản xuất thiết giáp của Đức nhưng Henschel và Porsche vẫn cố gắng hoàn thành hợp đồng với OKH. Có tổng cổng 77-78 chiếc Jagdtiger được sản xuất tính từ 7/1944-5/1945. Việc sản xuất bị ngừng hoàn toàn đến khoảng tháng 4/1945 và một tháng sau đó thì Đức Quốc Xã thua trận.

Lược sử sản xuất(theo số sê-ri):
Ngày/tháng/năm Số lượng
sản xuất
Số sê-ri #
2/1944 2 305001–305002
7/1944 3 305003–305005
8/1944 3 305006–305008
9/1944 8 305009–305016
10/1944 9 305017–305025
11/1944 6 305026–305031
12/1944 20 305032–305051
1/1945 10 305052–305061
2/1945 13 305062–305074
3/1945 3 305075–305077
4/1945 7 305078–305084
5/1945 4 305085–305088

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ có 2 tiểu đoàn(schwere Panzerjäger-Abteilung-số 512 và 653) là sở hữu hai chiếc Jagdtiger, chiếc đầu tiên đến tiểu đoàn vào tháng 9/1944. Nhưng vào thời điểm đó thì kíp lái Jagdtiger chưa huấn luyện xong và cũng chưa sẵn sàng lái thử và điều khiển. Đồng Minh lợi dụng tình thế này khi phải đối đầu với Jagdtiger, nếu đánh trực diện với Jagdtiger thì sẽ không bao giờ thắng thế nên các xe tăng Đồng Minh chạy lòng vòng làm Jagdtiger phải đuổi theo, sau khoảng 30 phút thì động cơ sẽ bắt đầu hỏng và lúc đó xe tăng Đồng Minh có thể xử lí Jagd gọn nhẹ. Nhận thấy điều này, bộ chỉ huy quân đội Đức lệnh là phải có 2-3 chiếc Tiger-I hoặc Panther đi kèm mỗi khi Jagdtiger xung trận.

Ở mặt trận phía Đông, các loại tăng LX thường rất ít khi thận trọng khi gặp các tăng Đức, họ thường chỉ sử dụng các loại đạn 75mm để bắn tăng đối thủ. Đạn 75mm không thể nào xuyên thủng nổi lớp giáp dày 250mm của Jagdtiger và chỉ một sai lầm bắn không trúng cũng có thể dẫn đến tai hại. Thực tế, một số lượng khá tăng của LX đã bị bắn hỏng hoặc thiệt hại khi đối đầu với Jagdtiger.

Jagdtiger có điểm yếu duy nhất ở chỗ động cơ và máy móc. Động cơ của Jagdtiger phải làm việc quá công suất, máy móc phải gồng mình lên để đỡ lấy trọng lượng hơn 70 tấn của Jagd. Trên chiến trường, hơn 2/3 số Jagdtiger mất là do động cơ và khoảng 20% còn lại là do sai lầm của kíp lái. Một điểm yếu nữa của Jagdtiger là tốc độ bắn của nó, loại đạn mà nó bắn ra có sức công phá cao nhưng cũng đồng nghĩa với việc là chúng khá nặng, nòng 128mm dài, khung tăng Tiger-II dường như vẫn không đủ để lắp lên Jagdtiger. Nó bắn khá chậm và mỗi lần bắn khói từ nòng tỏa ra khá nhiều-dễ làm mất hướng kíp lái và làm quân địch phát hiện.

Những chiếc còn sót lại[sửa | sửa mã nguồn]

Jagdtiger số 305020 tại bảo tàng US Army Ordnance
Jagdtiger số 305004 tại bảo tàng thiết giáp Bovington

Hiện giờ chỉ còn 3 chiếc Jagdtiger còn sót lại. Chúng được trưng bày ở các bảo tàng Anh, MỹNga:

  • Chiếc Jagdtiger tại bảo tàng United States Army Ordnance, Aberdeen, Maryland, Mỹ được sản xuất vào tháng 10/1944(sê-ri số 305020). Chiếc Jagdtiger thuộc sư đoàn s.Pz.Jg.Abt 53. Nó bị bắt giữ gần Neustadt an der Weinstraße, Đức vào tháng 3/1945. Chiếc Jagdtiger này vẫn còn dấu vết hư hỏng tại nòng, thân và hai bên sườn.
  • Chiếc Jagdtiger trưng bày tại bảo tàng thiết giáp Bovington, Anh là loại được lắp ráp hệ thống treo và tháp pháo của Porsche. Số sê-ri sườn là 305004. Chiếc Jagd này bị bắt giữ bởi lực lượng Anh vào tháng 4/1945 gần Sennelager, Đức. Lúc mang về bảo tàng nó bị thiếu mất một số mắt xích và phần thân-sườn tăng chưa được sơn xong. Hệ thống bánh xích 18 cái cũng được lắp ráp trên sê-ri này.
  • Chiếc Jagdtiger trưng bày tại bảo tàng thiết giáp Kubinka, gần Moscow là một biến thể do Henschel sản xuất. Số sê-ri tăng là 305083. Nó là một trong 4 chiếc Jagdtiger thuộc sư đoàn s.Pz.Jg.Abt 653 bị bắt-vì sư đoàn này đã đầu hàng do thiếu nhiên liệu và động cơ bị hư hỏng nặng. Chiếc Jagdtiger này bị hỏng xích và mất khoảng 6 mắt xích.

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ có duy nhất một mẫu biến thể của Jagdtiger do Porsche thiết kế. Theo như bản thiết kế thì biến thể này sử dụng tháp pháo và hệ thống treo của Porsche. Ngoài ra nó còn được trang bị pháo PaK 43(khác với Jagdtiger-PaK 44). Nhưng chúng chưa từng được sản xuất và cũng chưa một lần nào được thí nghiệm.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Carius, Otto, "Tigers in the Mud", Stackpole Books, 2003
  • Duske, Heiner F. Greenland, Tony. Schulz, Frank. Nuts & Bolts Vol. 1: Jagdtiger
  • Ledwoch, Janusz. Tank Series No. 207 - Jagdpanther and Jagdtiger, Wydawnictwo Militaria (1999)
  • Schneider, Wolfgang. Elefant - Jagdtiger - Sturmtiger: Rarities of the Tiger Family, Schiffer Military History Vol. 18, 1990

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]