Sturmgeschütz III

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sturmgeschütz III Ausf. G
StuGIII.jpg
StuG III Ausf. F/8 (Sd.Kfz.142/1) tại bảo tàng chiến tranh Belgrade, Serbia
Loại SPG
Nguồn gốc  Đức Quốc Xã
Lược sử hoạt động
Trang bị 1940–1945 (phục vụ Đức Quốc Xã và một số nước Đồng Minh)
Quốc gia sử dụng  Đức Quốc Xã
Sử dụng trong Thế Chiến II (Continuation War)
Cuộc chiến 6 ngày
Lược sử chế tạo
Giá thành 82,500 RM
Số lượng chế tạo 9,408 StuG III
1,211 StuH 42
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 23.9 tấn (52,690 lbs)
Chiều dài 6.85 m (22.47 ft)
Chiều rộng 2.95 m (9.67 ft)
Chiều cao 2.16 m (7 ft)
Kíp chiến đấu 4

Bọc giáp 16 - 80 mm (.62 - 3.14 in)
Vũ khí chính 1x 7.5 cm StuK 40 L/48
54 viên
Vũ khí phụ 1x 7.92 mm Maschinengewehr 34
600 viên
Động cơ Maybach HL120TRM V-12 gasoline engine
300 PS (296 hp, 221 kW)
Công suất/trọng lượng 13 hp/tấn
Hệ thống treo thanh xoắn
Tầm hoạt động 155 km (96 mi)
Tốc độ 40 km/h (25 mph)

Sturmgeschütz III (StuG III) là tên một loại pháo tự hành trong thế chiến II.StuG III là loại pháo tự hành lắp trên tăng được sản xuất nhiều nhất trong tất cả các loại, được lắp ráp bằng khung tăng Panzer III.Ban đầu, StuG được phát triển để trở thành một loại tăng hạng nhẹ bổ trợ cho bộ binh nhưng sau này qua kết quả khả quan cho được trên chiến trường, StuG III được nhân rộng sản xuất và được phát triển thành pháo tự hành chống tăng(tank-destroyer[1]).

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Ý tưởng phát triển Sturmgeschütz III bắt nguồn từ thế chiến I, trong quá trình rút lui-phản công, bộ binh thường vấp phải pháo đài hoặc ổ phòng ngự của địch(khi súng cối không thể phá được), đa phần pháo thời đó còn rất cồng kềnh-khi đến nơi thì lực lượng của địch đã ập đến.Từ kinh nghiệm trên, tướng lĩnh quân đội Đức Erich von Manstein đã đề xuất phát triển một loại Pháo được lắp trên tăng có khả năng di chuyển linh động và hỗ trợ bộ binh.Vào ngày 15/6/1936, Daimler-Benz AG nhận lệnh phát triển một loại tăng tự hành có nòng 75mm, có thể nâng hết cỡ 25 độ.StuG III có đầu tăng kín nhằm bảo vệ kíp lái.Chiều cao tăng không cho phép bộ binh dễ tiếp cận.

Daimler-Benz AG sử dụng khung tăng Panzer III và động cơ của nó cho StuG.Năm mẫu thử nghiệm được sản xuất vào năm 1937, có động cơ giống Panzer-III và được trang bị pháo 75mm StuK 37.Về sau, phiên bản này có tên gọi là Sturmgeschütz Ausführung A.

StuG III, Ausf. A

Ban đầu, khi StuG-III còn đang dự kiến phát triển thành pháo tự hành, nó không được tham gia sư đoàn Panzer-chủ yếu là tăng trực diện(Tiger, Panther, Panzer-IV,…) chuyên dùng để càn quét các khu vực trên diện rộng.Sau một thời gian tranh cãi, cuỗi cùng StuG-III được xếp vào các sư đoàn pháo binh.

StuG được dàn xếp tham gia trận chiến(thường nói là tham gia các lữ đoàn-nhưng thật ra StuG-III chỉ mai phục từ đằng xa, việc này nhằm đánh lừa quân địch rằng StuG tham gia các lữ đoàn và dễ dàng bị tiêu diệt bởi máy bay).Về sau, các tướng lĩnh Đức đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lừa đảo trên.Theo học thuyết quân sự của các tướng lĩnh Đức Quốc Xã, đặc biệt là Hitler đều cho rằng việc đánh lừa là một trong những bước khá quan trọng.

StuG III, Ausf. G, tháng 9/1944

Ngoài việc phát triển thành pháo tự hành tầm xa, StuG-III còn được phát triển để trở thành tăng trực diện để yểm trợ bộ binh và có thể tham gia các sư đoàn Panzer.Các phiên bản đầu chỉ trang bị ống ngắm tầm ngắn và pháo 75mm StuK 37 L/24 để phá hủy các pháo đài và các mục tiêu ở tầm gần.Sau khi LX cho ra tăng T-34KV-1, quân đội Đức lập tức nâng cấp StuG-III bằng cách trang bị thêm ống ngắm hiện đại hơn và nòng pháo 75mm StuK 40 L/43(vào mùa xuân 1942) và 75mm StuK 40 L/48(mùa thu 1943)-hiện đang cho kết quả tốt trong thử nghiệm.Các phiên bản này được biết đến với cái tên Sturmgeschütz 40 Ausführung F, Ausf. F/8 và Ausf. G.

Khi StuG-IV ra đời vào năm 1943-1944.Tất cả các phiên bản StuG-III trở thành một đơn vị riêng biệt không liên quan đến StuG-IV hay Panzer.

Khi StuG-III mới được phát triển, vấn đề đặt súng phụ thật sự là một bài toán khá nan giải cho các kĩ sư Đức vì chỗ bên trong tăng đã hết mà súng máy 7.92mm MG34 lại quá cồng kềnh.Về sau, súng máy được đặt ra bên ngoài đã giải quyết vấn đề hết chỗ.Các phiên bản đời sau đều làm như vậy. StuG-III đã cải thiện được khá nhiều vấn đề mà các tăng tự hành khác mắc phải như đầu tăng trần, ít đạn,…Đầu tăng StuG-III được bảo vệ bằng một lớp giáp dày gần 30mm bảo vệ khỏi đa phần các tay súng tỉa, lượng đạn của StuG-III cũng khá nhiều(54 viên).

Gía thành sản xuất StuG-III cũng khá rẻ(82.500RM) so với nhiều loại tăng khác như:Panzer-III(103.163RM), Panther(117.100RM), Panzer-IV(103.462RM[2]), Tiger-I(250.800RM).Mặc dù giá thành rẻ, nhưng StuG-III có chất lượng khá tổt với nòng tăng dài, có độ chính xác cao, xích tăng bền, thân tăng lớn đủ sức chứa nhiều đạn…Vào cuối cuộc chiến, đã có hơn 10.619 chiếc StuG-III và StuH-42 được sản xuất.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiếc StuG-III bị phá hủy trong trận Normandy, 1944

Nhìn một cách tổng quát thì StuG-III đã thực hiện nhiệm vụ trên chiến trường khá tốt với vai trò là tăng tự hành và tăng trực diện.Mặc dù, Tiger và Panther ghi công nhiều hơn và có tiếng hơn thế nên khi tiêu diệt tăng, Đồng MinhLX chỉ lo tiêu diệt hai loại tăng này đầu tiên mà bỏ sót StuG-III và nhiều loại tăng nguy hiểm của Đức Quốc Xã.Chính vì lí do trên nên StuG-III mai phục rất tốt và tiêu diệt một số rất lớn tăng của quân thù-gần 20.000 tăng, một con số rất ấn tượng.Chỉ trong vòng có 1 năm(1943-1944) số lượng tăng của Đồng Minh thiệt hại ngày càng một nhiều mặc dù họ đã sắp thắng cuộc chiến.StuG-III vẫn tiếp được sản xuất đến tận tháng 2/1945 và tổng cộng có 10.780 chiếc đã được sản xuất-tính đến tháng 3/1945.

Trong số các loại tăng phòng thủ, có lẽ StuG-III cho kết quả tốt nhất.Với giá thành rẻ, hình dáng khó nhận biết…StuG-III thường gây rắc rối đối với quân Đồng Minh.Nhược điểm duy nhất của StuG-III là các chi tiết đầu tăng khá phức tạp gây khó cho kíp lái khi muốn mở để thoát hiểm.Còn đối với các phiên bản StuG-III dùng để đánh trực diện, thì các xe tăng Đồng Minh muốn tiêu diệt không phải là chuyện dễ-vì nòng tăng StuG-III có thể xoay hướng khá nhanh, súng máy MG34 có đến hơn 600 viên nên bộ binh không dễ tiếp cận, ống ngắm có độ chính xác cao và tốc độ của StuG-III cũng khá nhanh.Khi tiêu diệt StuG-III, thường thì cả máy baythiết giáp cùng phối hợp làm StuG-III khó có đường rút lui hoặc đáp trả.

Vào năm 1944, quân đội Phần Lan nhận 59 chiếc StuG-III Ausf.G(phiên bản đánh trực diện) từ Đức(30 chiếc Stu 40 Ausf.G và 29 chiếc StuG-III Ausf.G) và họ đã dùng số tăng này để đánh với LX.Số tăng này đã tiêu diệt được khoảng 87 tăng của LX và chỉ mất có 6 chiếc StuG-III(2/3 trong số 8 chiếc tăng này đã tự phá hủy tránh khỏi việc bị bắt).Sau thế chiến II, 51 chiếc còn lại phục vụ quân đội đến tận năm 1960.Số StuG-III có biệt danh là Sturmi.

Vào mùa thu năm 1943, quân đội Đức Quốc Xã đã chuyển hơn 100 chiếc Stug-III cho quân đội România.Chúng thường được biết dưới biệt danh TA hoặc TA T3.Vào tháng 2/1945, hơn 13 chiếc vẫn còn lại để tiếp tục cuộc chiến.Sau cuộc chiến, không chiếc nào còn lại.Phần lớn số tăng này là StuG-III và một số lượng nhỏ Panzer IV/70(thường được dưới biệt danh TA T4).Theo như một số nguồn thông tin thì không phải toàn bộ 100 chiếc đều bị phá hủy mà có đến hơn 31 chiếc được cất giữ trong kho đến tận năm 1947 và khoảng hơn 18 chiếc nữa bị tịch thu bởi lực lượng Xô-Viết.

StuG-III còn được xuất đến Bulgaria, Hungary, ÝTây Ban Nha.

Một số lượng tương đối StuG-III bị bắt giữ bởi Yugoslav Partisans.Sau thế chiến, họ sử dụng số tăng đó đến tận năm 1950.Một lực lượng khác giữ số StuG-III của Đức nữa là Liên Xô, họ sử dụng StuG-III để thử nghiệm và tham gia trong cuộc chiến 6 ngày(Six Days War) vào năm 1967.

StuG III Ausf. G tại bảo tàng Yad la-Shiryon, Israel

Ngày nay, tất cả số StuG-III còn lại đều được giữ trong điều kiện hoạt động được.

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

  • StuG-III Ausf.0(5 chiếc được sản xuất):vào tháng 11/1937, 2 chiếc đầu tiên được sản xuất nhằm mục đích thử nghiệm.Phiên bản 0 có 8 xích mỗi bên với chiều rộng vào khoảng 360mm, được trang bị pháo 75mm StuK 37 L/24.Bên trong có rất ít chỗ trống.Tái sản xuất vào năm 1941 cũng nhằm mục đích thử nghiệm.
  • StuG-III Ausf.A(từ tháng 2/1940-tháng 5/1940, 50 chiếc được sản xuất):lần đầu tiên được sử dụng trong trận chiến nước Pháp, phiên bản này sử dụng khung tăng Panzer-III Ausf.F.Giáp trước được cải tiến thành 50mm.Daimler-Benz sản xuất 30 chiếc đầu tiên.Alkett sản xuất 20 chiếc còn lại.Được cải tiến 2 lối thoát hiểm 2 bên, 10 bộ truyền tốc, xích 360mm.
  • StuG-III Ausf.B(từ tháng 6/1940-tháng 5/1941, 300 chiếc được sản xuất):6 bộ truyền tốc, chiều rộng xích mỗi bên x chiều rộng một xích là 520mmx79mm và sau này được cải tiến thành 520mmx95mm.Số xích này có thể thay được một cách dễ dàng(do hai bên xích đều có kích cỡ giống nhau).Số trục lăn được tăng lên.
  • StuG-III Ausf.C(tháng 4/1941, 50 chiếc được sản xuất):súng máy được đặt trên đầu tăng với lượng đạn nhiều, nắp phía sau che đỡ người điều khiển súng.Lượng trống trong tăng không còn buộc súng máy phải đặt ra ngoài, kính ngắm tốt.
  • StuG-III Ausf.D(từ tháng 5-11/1941, 150 chiếc được sản xuất):mạng liên lạc được cải thiện.
  • StuG-III Ausf.E(từ tháng 9/1941-tháng 2/1941, 284 chiếc được sản xuất):chỗ trống bên trong được thiết kế thành hình chữ nhật và có một hộp rađiô điện đài-tạo điều kiện để thêm 6 viên nữa(nâng tổng số đạn lên 50 viên).Một khẩu súng máy MG34 được đặt ở bên trên.
  • StuG-III Ausf.F(từ tháng 3-tháng 9/1942, 366 chiếc được sản xuất):phiên bản này sử dụng nòng pháo dài hơn(75mm StuK 40 L/43), bắn loại đạn có đầu nhọn Panzergranat-Patrone 39, StuK 40 L/43 còn thể xuyên thủng được một lớp giáp dày hơn 91mm với góc nâng hơn 30 độ tại các cự ly như:1000m-1500m-2000m.Chính điều này khiến Ausf.F trở thành sát thủ diệt tăng đối với các tăng LX.
  • StuG-III Ausf.F/8(từ tháng 9-tháng 12/1942, 250 chiếc được sản xuất):phiên bản này cải thiện và nâng cấp giáp ở 2 thân tăng và sử dụng khung của tăng Panzer-III Ausf.J/L.Tháng 10/1942, phiên bản F/8 được bổ sung thêm 30mm giáp ở đầu và thân tăng, sử dụng pháo StuK 40 L/48.Pháo L/48 tăng độ chính xác và cho phép pháo thủ có thể bắn từ cự ly khá xa.
  • StuG-III Ausf.G(từ tháng 12/1942-tháng 4/1945, 7720 chiếc được sản xuất-173 chiếc trong số đó sử dụng thân tăng Pz.Kpfw.III):phiên bản G là phiên bản thịnh hành nhất, cho kết quả tốt nhất và hữu dụng nhất trong tất cả các phiên bản StuG-III.Ausf.G sử dụng thân tăng Pz.Kpfw. III Ausf. M.Chỗ bên trong thân tăng được thiết kế lại, tạo thêm khá nhiều chỗ trống:các mối hàn ở hai bên khít nhau, không làm mất diện tích.Thiết kế mới làm phiên bản G có chiều cao hơn 2160mm.Đằng sau có gian ngăn cách riêng biệt giữa buồng hoạt động và buồng chứa đạn.Từ tháng 3/1943, giáp thân loại mới(schurzen) được lắp vào Ausf.G giúp nó chống lại các loại pháo tự hành diệt tăng.Loại giáp mới này ngoài lắp ráp vào StuG-III Ausf.G, nó còn được trang bị cho các loại thiết giáp quan trọng khác nhằm chuẩn bị cho chiến dịch Kursk.Từ tháng 3/1944, giáp ở giá đỡ súng được tăng lên nhằm mục đích chống lại các tay súng cốipháo tự hành.
Sturmhaubitze III tại bảo tàng chiến tranh(Sotamuseo), Helsinki

Từ tháng 9/1942, giá đỡ súng máy chính thức được lắp đặt vào tất cả các mẫu StuG-III.Việc này giúp tiết kiệm không gian bên trong tăng và có thể phát huy tác dụng của súng máy hạng nặng MG34.Các mẫu đời sau như F/8 có thêm giáp đỡ mặt trước cho súng máy và phần giáp gần đó được tăng lên.Ngoài ra, F/8 còn được thử nghiệm với đồ điều khiển súng máy-không cần người cầm.25 chiếc đã được sản xuất nhằm thử nghiệm.Nhưng khi vừa hoàn thành thì cuộc chiến đã kết thúc.

Sturmhaubitze III, biến thể G

Những nước sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Xe diệt tăng-một vài phiên bản khác dịch là pháo tự hành chống tăng
  2. ^ Reichmarks
  3. ^ Dùng để thử nghiệm và nghiên cứu

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Peter Mueller, Wolfgang Zimmermann: Sturmgeschütz III - Backbone of the German Infantry History Facts
  • Walter J. Spielberger: Sturmgeschütz & Its variants - Schiffer Military History - ISBN 0-88740-398-0
  • Scafes, Cornel I; Scafes, Ioan I; Serbanescu, Horia Vl (2005). Trupele Blindate din Armata Romana 1919-1947. Bucuresti: Editura Oscar Print. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]