Phân bộ Ếch nhái cổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phân bộ Ếch nhái cổ
Hochstetters Frog on Moss.jpg
Ếch Hochstetter (Leiopelma hochstetteri)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Amphibia
Bộ (ordo) Anura
Phân bộ (subordo) Archaeobatrachia
Các họ
Xem văn bản.

Phân bộ Ếch nhái cổ (danh pháp khoa học: Archaeobatrachia) theo truyền thống là một phân bộ trong bộ Không đuôi (Anura), chứa một số loài ếch nhái và cóc nguyên thủy. Như tên gọi của nó đã gợi ý theo nghĩa đen thì các loài ếch nhái hay cóc này là "nguyên thủy" nhất. Nhiều loài (trong tổng cộng khoảng 25-27 loài còn sinh tồn) thể hiện một số đặc trưng sinh lý học không thấy có ở các nhóm ếch hay cóc khác, chính vì thế mà người ta đã tạo ra nhóm này để chứa chúng. Các loài trong nhóm này chủ yếu được tìm thấy ở đại lục Á-Âu, New Zealand, PhilippinesBorneo, và nói chung chúng là các động vật lưỡng cư nhỏ.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Phân bộ này chứa các họ sau:

  • Bombinatoridae: Cóc tía, cóc đầu bẹt. 2 chi, 8-10 loài.
  • Alytidae hay Discoglossidae: Cóc bà mụ, cóc lưỡi tròn. 2 chi, 11 loài.
  • Leiopelmatidae: 1 chi (Leiopelma), 4 loài. Nếu gộp cả Ascaphidae thì tổng cộng có 2 chi, 6 loài.
  • Ascaphidae: 1 chi (Ascaphus), 2 loài. Họ này nói chung hay được gộp trong họ Leiopelmatidae.

Phát sinh chủng loài[sửa | sửa mã nguồn]

Các nghiên cứu phát sinh chủng loài gần đây cho thấy Archaeobatrachia không là nhóm đơn ngành mà là cận ngành, trong đó tổ hợp của 2 chi AscaphusLeiopelma hoặc Ascaphidae là có quan hệ chị em với toàn bộ các nhóm còn lại của Anura[1][2][3], còn chi Pelobates (theo truyền thống thuộc về phân bộ Mesobatrachia) là nhóm chị em với Neobatrachia[3].

Cây phát sinh chủng loài dưới đây lấy theo Frost D. R. và ctv., 2006[4], với bổ sung các nhãn lấy theo Mikko's Phylogeny Archive[5]; bỏ qua các họ, chi hay loài đã tuyệt chủng. Các họ với ghi chú bên cạnh theo truyền thống thuộc về phân bộ Mesobatrachia.

Anura/Leiopelmatanura 

Leiopelmatidae s.l.


Lalagobatrachia 
Xenoanura 

Rhinophrynidae[6]



Pipidae[6]



Sokolanura 
Costata 

Alytidae



Bombinatoridae



Acosmanura 
Anomoceola 
Pelodytoidea 

Pelodytidae[6]



Scaphiopodidae[6]



Pelobatoidea 

Pelobatidae[6]



Megophryidae[6]





Neobatrachia






Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Haas, Alexander (tháng 2 năm 2003). “Phylogeny of frogs as inferred from primarily larval characters (Amphibia:Anura)”. Cladistics 19 (1): 23–89. doi:10.1111/j.1096-0031.2003.tb00405.x. 
  2. ^ Roelants, Kim; Franky Bossuyt (tháng 2 năm 2005). “Archaeobatrachian paraphyly and pangaean diversification of crown-group frogs”. Systematic Biology 54 (1): 111–126. doi:10.1080/10635150590905894. PMID 15805014. 
  3. ^ a ă Gissi, Carmela; Diego San Mauro, Graziano Pesole và Rafael Zardoya (tháng 2 năm 2006). “Mitochondrial phylogeny of Anura (Amphibia): A case study of congruent phylogenetic reconstruction using amino acid and nucleotide characters”. Gene 366 (2): 228–237. doi:10.1016/j.gene.2005.07.034. PMID 16307849. 
  4. ^ Frost Darrel R. và ctv., 2006, The amphibian tree of life, Tập san của AMNH, 370 trang, số 297, New York, Hoa Kỳ. Hình 54, trang 119.
  5. ^ Salientia (Anura) – frogs, toads and relatives
  6. ^ a ă â b c d Theo truyền thống xếp trong phân bộ Mesobatrachia.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]