Rau ngót
| Rau ngót | |
|---|---|
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Plantae |
| (không phân hạng) | Angiospermae |
| (không phân hạng) | Eudicots |
| (không phân hạng) | Rosids |
| Bộ (ordo) | Malpighiales |
| Họ (familia) | Phyllanthaceae |
| Tông (tribus) | Phyllantheae |
| Phân tông (subtribus) | Flueggeinae |
| Chi (genus) | Sauropus |
| Loài (species) | androgynus |
| Danh pháp hai phần | |
| Sauropus androgynus | |
Rau ngót, bù ngót, rau tuốt, hay bồ ngót[1] (danh pháp hai phần: Sauropus androgynus) là một loài cây bụi mọc hoang ở vùng nhiệt đới Á châu nhưng cũng được trồng làm một loại rau ăn ở một số nước, như ở Việt Nam.
Mục lục |
Miêu tả [sửa]
Rau ngót thuộc dạng cây bụi, có thể cao đến 2 m, phần thân khi già cứng chuyển màu nâu. Lá cây rau ngót hình bầu dục, mọc so le; sắc lá màu lục thẫm. Khi hái ăn, thường chọn lá non. Vị rau tương tự như măng tây.
Trái ngót giống trái cà pháo nhưng kích thước nhỏ hơn.
Về mặt dinh dưỡng, rau ngót có lượng đạm cao, giàu chất vôi, nhiều sinh tố C[2] và sinh tố K.
Sử dụng [sửa]
Ẩm thực Việt Nam dùng rau ngót nấu canh với thịt băm,[3] hoặc có khi chỉ nấu suông vì rau có sẵn vị ngọt.[4]
Y học dân gian thuốc Nam dùng rau ngót để giải nhiệt, giải rượu, trừ tưa lưỡi trẻ con,[5] ngăn ngừa đái dầm,[6] hạ huyết áp.[cần dẫn nguồn]
Ăn nhiều rau ngót ở dạng rau sống có thể gây bệnh nghẽn phổi như một số trường hợp dân Đài Loan dùng rau ngót đánh lấy nước để uống vài ly mỗi ngày để giảm cân. Chất papaverin alkoloit của rau ngót có thể là nguyên do.[7]