Rudaki
| Rudaki | |
|---|---|
| 175px | |
| Sinh | 1141 Rudak, Ba Tư |
| Mất | 1209 Rudak, Ba Tư |
| Công việc | Nhà thơ |
| Quốc gia | người Ba Tư |
Abu Abdullah Jafar ibn Mohammad ibn Hakim ibn Abdurrahman ibn Adam Rudaki Samarghandi (tiếng Ba Tư: ابوعبدالله جعفر ابن محمد رودکی (858 - 941– nhà thơ Ba Tư, người được coi là ông tổ của thơ ca Ba Tư, người sáng lập nền văn học Ba Tư – Tajikistan.
Mục lục |
Tiểu sử [sửa]
Rudaki sinh năm 858 ở Rudak (Panjrud), nay là Tajikistan. Theo truyền thuyết là bị mù ngay từ lúc sinh nhưng thiên bẩm là thông minh lại được học ở trường dòng Hồi giáo nên từ nhỏ đã rất giỏi tiếng Ả Rập và thuộc Kinh Koran. Nổi tiếng là một nhạc công lẫn nhà thơ, suốt 40 năm liền đứng đầu nhóm nhà thơ của triều đình Bukhara, đạt đến đỉnh cao của danh vọng cũng như tiền bạc nhưng mấy năm cuối đời phải sống trong cảnh lưu đày và chết trong cảnh nghèo túng.
Di sản thơ ca của Rudaki, theo một truyền thuyết là gồm 130 nghìn bài thơ, một giả thuyết khác thì cho là 1300 bài, tuy vậy hiện nay người ta biết được khoảng 1000 bài thơ của ông gồm các thể loại qasida, ghazal và rubai. Thơ ông thể hiện lòng tin vào sức mạnh của trí tuệ con người, khuyên người đời sống đạo đức và, tất nhiên, một mảng đề tài hưởng thụ cuộc sống. Tượng của ông được dựng ở nhiều nơi và tên ông được đặt cho một số con đường ở Tajikistan.
Thư mục [sửa]
- E.G. Browne. Literary History of Persia. (Four volumes, 2,256 pages, and twenty-five years in the writing). 1998
- Jan Rypka, History of Iranian Literature. Reidel Publishing Company. 1968
- Бертельс Е. Э., История персидско-таджикской литературы, М., 1960
- Мирзоев А. М., Рудаки. Жизнь и творчество, пер. с тадж., М., 1968
- Тагирджанов А. Т., Рудаки. Жизнь и творчество. История изучения, Т., 1968
Một số bài thơ [sửa]
-
-
-
- ***
-
-
- Hãy vui vẻ với người đẹp của mình
- Cuộc đời này như dòng nước trôi nhanh
- Quên quá khứ, hãy sống bằng hiện tại
- Sống và vui với cuộc sống trào dâng.
- Tôi và em trong khu vườn ngát hương
- Như với tiên mắt biếc ở thiên đường.
-
-
- ***
-
-
- Tất cả chúa tể trần gian đều chết, chỉ còn nắm đất
- Họ cúi đầu trước cái chết để đi về với vĩnh hằng
- Từng dành nghìn kho báu, từng hưởng mọi vinh quang
- Nhưng ngày cuối chỉ còn áo quan. Biết làm sao được.
-
-
- ***
-
-
- Ta đều phù vân. Cõi đời này là vậy
- Ta là chim sẻ, còn cái chết là chim ưng đang đợi
- Sớm hay muộn – mọi bông hoa đều tàn
- Cái chết lau sạch trơn giống như bàn chải.
-
-
- ***
-
-
- Biết kìm nén dục vọng của mình – mới là người cao thượng
- Không xúc phạm những kẻ đui què – mới là người cao thượng
- Kẻ hèn kém là kẻ xô ngã người già yếu bên đường
- Còn anh đỡ người đứng lên – mới là người cao thượng.
- Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng
Liên kết ngoài [sửa]
- E.G. Browne. Literary History of Persia. (Four volumes, 2,256 pages, and twenty-five years in the writing). 1998. ISBN 0-7007-0406-X
- Jan Rypka, History of Iranian Literature. Reidel Publishing Company. 1968 OCLC 460598. ISBN 90-277-0143-1
“Rūdagī”. Encyclopædia Britannica (ấn bản 11). 1911.