Rudaki

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rudaki
175px
Sinh 1141
Rudak, Ba Tư
Mất 1209
Rudak, Ba Tư
Công việc Nhà thơ
Quốc gia người Ba Tư

Abu Abdullah Jafar ibn Mohammad ibn Hakim ibn Abdurrahman ibn Adam Rudaki Samarghandi (tiếng Ba Tư: ابوعبدالله جعفر ابن محمد رودکی (858 - 941– nhà thơ Ba Tư, người được coi là ông tổ của thơ ca Ba Tư, người sáng lập nền văn học Ba TưTajikistan.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Rudaki sinh năm 858 ở Rudak (Panjrud), nay là Tajikistan. Theo truyền thuyết là bị mù ngay từ lúc sinh nhưng thiên bẩm là thông minh lại được học ở trường dòng Hồi giáo nên từ nhỏ đã rất giỏi tiếng Ả Rập và thuộc Kinh Koran. Nổi tiếng là một nhạc công lẫn nhà thơ, suốt 40 năm liền đứng đầu nhóm nhà thơ của triều đình Bukhara, đạt đến đỉnh cao của danh vọng cũng như tiền bạc nhưng mấy năm cuối đời phải sống trong cảnh lưu đày và chết trong cảnh nghèo túng.

Di sản thơ ca của Rudaki, theo một truyền thuyết là gồm 130 nghìn bài thơ, một giả thuyết khác thì cho là 1300 bài, tuy vậy hiện nay người ta biết được khoảng 1000 bài thơ của ông gồm các thể loại qasida, ghazalrubai. Thơ ông thể hiện lòng tin vào sức mạnh của trí tuệ con người, khuyên người đời sống đạo đức và, tất nhiên, một mảng đề tài hưởng thụ cuộc sống. Tượng của ông được dựng ở nhiều nơi và tên ông được đặt cho một số con đường ở Tajikistan.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Hình Rudaki trên tem thư của Iran
  • E.G. Browne. Literary History of Persia. (Four volumes, 2,256 pages, and twenty-five years in the writing). 1998
  • Jan Rypka, History of Iranian Literature. Reidel Publishing Company. 1968
  • Бертельс Е. Э., История персидско-таджикской литературы, М., 1960
  • Мирзоев А. М., Рудаки. Жизнь и творчество, пер. с тадж., М., 1968
  • Тагирджанов А. Т., Рудаки. Жизнь и творчество. История изучения, Т., 1968

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Hãy vui vẻ với người đẹp của mình
Cuộc đời này như dòng nước trôi nhanh
Quên quá khứ, hãy sống bằng hiện tại
Sống và vui với cuộc sống trào dâng.
Tôi và em trong khu vườn ngát hương
Như với tiên mắt biếc ở thiên đường.
***
Tất cả chúa tể trần gian đều chết, chỉ còn nắm đất
Họ cúi đầu trước cái chết để đi về với vĩnh hằng
Từng dành nghìn kho báu, từng hưởng mọi vinh quang
Nhưng ngày cuối chỉ còn áo quan. Biết làm sao được.
***
Ta đều phù vân. Cõi đời này là vậy
Ta là chim sẻ, còn cái chết là chim ưng đang đợi
Sớm hay muộn – mọi bông hoa đều tàn
Cái chết lau sạch trơn giống như bàn chải.
***
Biết kìm nén dục vọng của mình – mới là người cao thượng
Không xúc phạm những kẻ đui què – mới là người cao thượng
Kẻ hèn kém là kẻ xô ngã người già yếu bên đường
Còn anh đỡ người đứng lên – mới là người cao thượng.
 
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]