Safranbolu
| Safranbolu | |
| Đường phố trong khu vực làm giày lịch sử của Safranbolu | |
| Vị trí của Safranbolu tại Thổ Nhĩ Kỳ. | |
|
Vị trí của Safranbolu |
|
| Tọa độ: | |
|---|---|
| Quốc gia | |
| Khu vực | Biển Đen |
| Tỉnh | Karabük |
| Diện tích | |
| - Quận | 1.000 km² (386,1 mi²) |
| Độ cao | 485 m (1.591 ft) |
| Dân số (2000)[1] | |
| - Quận | 47257 |
| - Mật độ | 47,26/km² (122,4/mi²) |
| - Đô thị | 31697 |
| Múi giờ | EET (UTC+2) |
| - Mùa hè (DST) | EEST (UTC+3) |
| Mã bưu chính | 78xxx |
| Mã điện thoại | 370 |
| Đầu biển xe | 78 |
| Website: www.safranbolu.bel.tr | |
| Thành phố Safranbolu | |
|---|---|
| Di sản thế giới UNESCO | |
|
|
|
| Quốc gia | |
| Dạng | Văn hóa |
| Tiêu chuẩn | ii, iv, v |
| Tham khảo | 614 |
| Vùng† | châu Âu |
| Lịch sử công nhận | |
| Công nhận | 1994 (Kỳ họp thứ 18) |
| * Dịch từ tên chính thức trên danh sách Di sản thế giới. † Vùng được UNESCO phân loại chính thức. |
|
Safranbolu là tên gọi của một thị xã và một quận của tỉnh Karabük trong khu vực Biển Đen của Thổ Nhĩ Kỳ. Vị trí của thị xã này có thể mô tả gần đúng là khoảng 200 km về phía bắc thành phố Ankara và khoảng 100 km phía nam bờ của biển Đen, hoặc chính xác hơn là khoảng 9 km phía bắc của thành phố Karabük. Tên trước kia bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ là Zalifre và Taraklıborlu.
Theo cuộc điều tra dân số năm 2000 thì số dân của quận là 47.257 người, trong đó 31.697 người sống tại thị xã Safranbolu.[1][2] Quận này có diện tích là 1.000 km²[3] và thị xã nằm trên độ cao 485 m.
Thành cổ còn bảo tồn được nhiều ngôi nhà cổ, với 1.008 cổ vật lịch sử đã đăng ký. Đó là: 1 bảo tàng tư, 25 thánh đường Hồi giáo, 5 ngôi mộ, 8 đài phun lịch sử, 5 nhà tắm kiểu Thổ Nhĩ Kỳ, 3 trạm nghỉ qua sa mạc, 1 tháp chuông lịch sử, 1 tháp đồng hồ lịch sử, 1 đồng hồ mặt trời và hàng trăm ngôi nhà cùng lâu đài. Cũng có các gò đống của các nơi định cư thời xưa, các ngôi mộ bằng đá và các cầu lịch sử.
Thành cổ nằm ở một khe núi sâu trong khu vực khá khô ráo trong bóng mưa của các dãy núi. Thành mới nằm ở vùng cao nguyên, cách thành cổ khoảng 2 km về phía tây.
Tên của thành phố phái sinh từ chữ saffron (nghệ tây), vì Safranbolu là nơi buôn bán và là trung tâm gieo trồng nghệ tây. Ngày nay, nghệ tây vẫn còn được trồng ở làng Davutobası, cách thị xã Safranbolu 22 km về phía đông và có lẽ là nghệ tây có chất lượng tốt nhất thế giới.
Safranbolu đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới năm 1994 do các kiến trúc và các ngôi nhà từ thời đế quốc Ottoman được bảo tồn tốt.
Mục lục |
[sửa] Thành phố kết nghĩa
[sửa] Liên kết ngoài
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Safranbolu. |
- Website chính thức (Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ)
- Ảnh về Safranbolu (Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ)
- Safranbolu: Xe bus và du lịch (Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ)
- Safranbolu
- Di sản thế giới của UNESCO - Safranbolu
- Safranbolu từ Google Earth
- Safranbolu Pansiyon - Nhà dưỡng lão tại Safranbolu
- Falling Rain Genomics, Inc. “Geographical information on Safranbolu, Turkey” (bằng tiếng Anh). Truy cập 22 tháng 11 năm 2008.
[sửa] Tham khảo
- ^ a b Viện Thống kê Thổ Nhĩ Kỳ. “Census 2000, Key statistics for urban areas of Turkey” (bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ) định dạng (XLS). Truy cập 22 tháng 11 năm 2008.
- ^ GeoHive. “Statistical information on Turkey's administrative units” (bằng tiếng Anh). Truy cập 22 tháng 11 năm 2008.
- ^ Statoids. “Statistical information on districts of Turkey” (bằng tiếng Anh). Truy cập 22 tháng 11 năm 2008.
- ^ Elabuga và Safranbolu trở thành các thành phố kết nghĩa
[sửa] Hình ảnh
|
|||||