Sakamoto Maaya

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Sakamoto. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tên người Nhật hiện đại khi viết bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Sakamoto Maaya
坂本 真綾
Sinh 31 tháng 3, 1980 (34 tuổi)
Nguyên quán Itabashi, Tokyo, Nhật Bản
Nghề nghiệp Ca sĩ, seiyū, Diễn viên,
Thể loại Pop
Năm 1996–nay
Hãng đĩa Victor Entertainment, Flying Dog
Hợp tác Yoko Kanno, Shōko Suzuki, Yuho Iwasato
Website www.jvcmusic.co.jp/maaya

Sakamoto Maaya (坂本 真綾 Phản Bản Chân Lăng?) (sinh 31 tháng 3, 1980) là một ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên lồng tiếng rất được hâm mộ người Nhật Bản.[1] Vai diễn lồng tiếng đầu tiên trong sự nghiệp của cô là Chifuru trong anime Little Twins (1992), nhưng chỉ thực sự được chú ý với vai Hitomi Kanzaki[2] của anime series The Vision of Escaflowne. Single đầu tay của Sakamoto, với tựa đề Yakusoku wa Iranai, được sáng tác bởi nhạc sĩ nổi tiếng Yoko Kanno, phát hành tháng 4 năm 1996.[3] Tháng 1 năm 2011, lần đầu tiên trong sự nghiệp ca hát của mình Sakamoto có album (You Can't Catch Me) được xếp hạng #1 trên bảng xếp hạng Oricon tuần, đưa cô trở thành seiyu thứ hai trong lịch sử đạt thành tích này sau Mizuki Nana[4].

Ngày 8 tháng 8 năm 2011, Sakamoto làm lễ thành hôn với diễn viên lồng tiếng Suzumura Kenichi, người từng đóng cặp với cô trong rất nhiều anime, nổi bật là Gundam Seed DestinyKara no Kyoukai. Suzumura thông báo về lễ cưới trên blog cá nhân 5 ngày sau đó[5].

Lý lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Cha của Sakamoto là một chuyên gia về lĩnh vực ánh sáng sân khấu. Mùa xuân năm 2002, cô tốt nghiệp Đại học Toyo với bằng cử nhân môn Xã hội học[6]. Màu sắc ưa thích của cô là xanh da trời và vàng kim[7]; sở thích là biểu diễn, đọc sách và ca hát. Sakamoto thuộc nhóm máu A.[8] Cô từng là thành viên của nhóm hát seiyu hai thành viên Whoops!!, cùng với Chieko Higuchi. Sakamoto có thể nói tiếng Anh khá trôi chảy.
Trong giải Anime Grand Prix lần thứ 23, Sakamoto đứng thứ 10 trong bảng xếp hạng các seiyu hàng đầu Nhật Bản.
Tại giải Seiyū Awards (giải thưởng thường niên dành riêng cho các seiyu) đầu tiên tổ chức năm 2007, cô được đề cử giải nữ diễn viên chính xuất sắc nhất cho vai Haruhi Fujioka trong phim Ouran High School Host Club cũng như giải trình bày ca khúc xuất sắc nhất với "Loop", bài hát cuối phim Tsubasa Chronicle.

Hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới sự dìu dắt của nữ nhạc sĩ lừng danh Yoko Kanno, sự nghiệp của Sakamoto nổi tiếng với những ca khúc của bà, cô được gọi là học trò của Kanno. Lần hợp tác đầu tiên của họ là single đầu tay năm 1996 của Sakamoto, "Yakusoku wa Iranai", bài hát mở đầu cho anime The Vision of Escaflowne. Tất cả các single và album sau đó của Sakamoto hoàn toàn do Kanno sáng tác và sản xuất, đều thành công và đưa tên tuổi cô đến với công chúng. Không những thế, Kanno cũng là người chụp ảnh cho Sakamoto trong các đĩa hát như "Mameshiba", "Hotchpotch", "Nikopachi" và "Shounen Alice". Trong booklet của buổi hòa nhạc "Gift" (2010), Sakamoto kí tên mình là "Kanno Maaya" và chia sẻ kỉ niệm về những buổi chụp hình cùng Kanno. Cho đến album thứ 5 Yūnagi Loop (2005), Sakamoto bắt đầu hát những sáng tác của các nhạc sĩ khác, album này không có bài nào của Kanno. Cô cũng tham gia lồng tiếng và hát cho rất nhiều soundtrack phim hay game mà Kanno sản xuất, như Wolf's Rain, RahXephon, Napple Tale hay Ghost in the Shell. Năm 2008, Sakamoto và Kanno trở lại hợp tác trong single "Triangler", bài hát mở đầu cho series phim rất thành công là Macross Frontier.[9]. Triangler trở thành single bán chạy nhất trong sự nghiệp của Sakamoto từ trước đến nay, xuất hiện trong top 100 single của năm 2008 theo thống kê doanh số của bảng xếp hạng Oricon.
Trong buổi hòa nhạc "Gift" kỉ niệm sinh nhật lần thứ 30 của Sakamoto tổ chức năm 2010 tại Nippon Budōkan, Yoko Kanno đã xuất hiện với tư cách là khách mời đặc biệt. Giữa tháng 6 cùng năm, họ cùng cho ra mắt single số Utsukushii Hito (美しい人 Người đẹp?), bài hát chủ đề cho một dự án văn hóa hợp tác Trung Quốc - Nhật Bản.
Sakamoto thường tự viết lời cho các bài hát của mình. Những người khác thường viết lời bài hát cho cô là tác giả, nhạc sĩ Iwasato YuhoTim Jensen. Ngoài Kanno, Suzuki Shoko cũng là nhạc sĩ, đồng nghiệp thân thiết thường sáng tác ca khúc cho Sakamoto. Suzuki đã xuất hiện trong "Gift" với chiếc bánh sinh nhật mừng tuổi 30 cũng như kỉ niệm 15 năm ca hát của Sakamoto. Trong album tổng hợp Everywhere, lần đầu tiên Sakamoto thử sức với bài hát cùng tên do chính cô viết cả nhạc và lời.

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

Album nguyên bản[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Xếp hạng Oricon Doanh số Ref.
Vị trí Số tuần
1997 Grapefruit (グレープフルーツ?) 78 1 3,980 [10]
1998 Dive 44 3 13,400 [11]
2001 Lucy 16 4 43,080 [12]
2003 Shōnen Alice (少年アリス?) 8 9 51,992 [13]
2005 Yūnagi Loop (夕凪LOOP?) 8 6 45,552 [14]
2009 Kazeyomi (かぜよみ?) 3 7 53,246 [15]
2011 You Can't Catch Me 1 8 39,861

Mini Album[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Xếp hạng Oricon Doanh số Ref.
Vị trí Số tuần
2001 Easy Listening (イージーリスニング?) 12 3 32,060 [16]
2007 30Minutes Night Flight 19 7 29,219 [17]
2011 Driving in the silence 3 5 19,789

Album tổng hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Xếp hạngOricon Doanh số Ref.
Vị trí Số tuần
1999 Single Collection+ Hotchpotch (シングルコレクション+ ハチポチ?) 14 9 60,130 [18]
2003 Single Collection+ Nikopachi (シングルコレクション+ ニコパチ?) 3 11 69,966 [19]
2010 Everywhere 3 11 67,108
2012 Single Collection+ Mitsubachi (シングルコレクション+ ミツバチ?) 9 _ 25,824

Singles[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Xếp hạng Oricon Doanh số Album Anime Ref.
Vị trí Số tuần
1996 "Yakusoku wa Iranai" (約束はいらない I Don't Need Promises?) 44 4 30,104 Grapefruit The Vision of Escaflowne [20]
1997 "Gift" Clamp School Detectives
1998 "Kiseki no Umi" (奇跡の海 Sea of Miracles?) 43 12 66,340 Record of Lodoss War: Chronicles of the Heroic Knight [21]
"Hashiru" (走る Run?) 87 1 2,300 Dive [22]
1999 "Platinum" (プラチナ Purachina?) 21 5 38,260 Cardcaptor Sakura [23]
2000 "Yubiwa" (指輪 Ring?) 30 3 19,310 Escaflowne: The Movie [24]
"Shippo no Uta" (しっぽのうた Tail Song?) 39 2 10,930 Napple Tale [25]
"Mameshiba" (マメシバ Mameshiba?) 47 2 7,990 Lucy Earth Girl Arjuna [26]
2002 "Hemisphere" (ヘミソフィア Hemisofia?) 22 9 54,460 RahXephon [27]
2003 "Gravity" 23 9 27,778 Wolf's Rain [28]
"Tune the Rainbow" 9 9 38,842 RahXephon movie [29]
2005 "Loop" (ループ Rūpu?) 7 9 42,446 Yūnagi Loop Tsubasa Chronicle [30]
2006 "Kazemachi Jet / Spica" (風待ちジェット Jet Waiting for a Good Wind?) 14 6 21,670 Kazeyomi Tsubasa Chronicle [31]
2007 "Saigo no Kajitsu / Mitsubachi to Kagakusha" (さいごの果実/ミツバチと科学者 The Last Fruit / The Honeybee and the Scientist?) 19 7 14,152 Tsubasa Tokyo Revelations [32]
2008 "Triangler" (トライアングラー Toraiangurā?) 3 26 91,539 Macross Frontier [33]
"Ame ga Furu" (雨が降る Falling Rain?) 9 7 21,776 Linebarrels of Iron [34]
2009 "Magic Number" (マジックナンバー?) 12 8 20,046 Kobato [17]
2010 "Down Town / Yasashisa ni Tsutsumareta Nara" (やさしさに包まれたなら Embraced by the Tenderness?) 5 13 25,429 You Can't Catch Me Soredemo Machi wa Mawatteiru /Tamayura
2011 "Buddy" 10 11 18,326 Last Exile -Ginyoku no Fam-
"Okaerinasai" (おかえりなさい Welcome Home?) 8 6 15,964 Tamayura ~Hitotose~
2012 "More than Words" (モアザンワーズ Moazanwāzu?) 16 6 13,140 Code Geass GAIDEN: Akito the Exiled

Các vai diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng TV anime[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu ý: Các vai chính hoặc quan trọng được in đậm

Lồng tiếng OVA[sửa | sửa mã nguồn]

Phim chiếu rạp[sửa | sửa mã nguồn]

Lồng tiếng phim nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Vai diễn trên truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Suekko Chōan Ane Sannin - Emi

Phim ngắn[sửa | sửa mã nguồn]

  • 03†[35] (Zero San Cross)

Phim tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]


Nhạc kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Radio[sửa | sửa mã nguồn]

  • (坂本真綾のビタミンーM Sakamoto Maaya no Vitamin M?, Vitamin M của Sakamoto Maaya) - Bay-FM[37]
  • (坂本真綾 地図と手紙と恋のうた Sakamoto Maaya Chizu to Tegami to Koi no Uta?, Sakamoto Maaya: Bản đồ, lá thư và bản tình ca) - TBS Radio[38]
    • Phát sóng: 7 tháng 4, 2007 ~ 28 tháng 3, 2009
  • Konica Minolta presents Night on the Planet (Konica Minolta giới thiệu chương trình Đêm trên hành tinh) - Tokyo FM
  • Yellow tail music tail - Tokyo FM
  • Sapporo Beer Key of Dish (Bia Sapporo: Chìa khóa cho bữa ăn hoàn hảo) - Tokyo FM
  • (坂本真綾のナイショ話 Sakamoto Maaya no Naisho Hanashi?) - Nack5
  • Girls' School Fantasy – NACK5
  • (坂本真綾 I.D. Sakamoto Maaya I.D.?) - Nack5, FM Osaka, FM Aichi
  • (坂本真綾のWho Is Lucy Sakamoto Maaya no Who Is Lucy?, Chương trình "Ai là Lucy" của Sakamoto Maaya)FM Fukuoka, Sendai City-FM, FM-Nigata, K-Mix
  • (坂本真綾 I.D. Night Flight Sakamoto Maaya I.D. Night Flight?, Sakamoto Maaya I.D. Chuyến bay đêm) - Nack5, FM Osaka, North Wave, Cross FM
  • (坂本真綾のEscaflowneeyes Sakamoto Maaya no Escaflowneeyes?) - Nippon Cultural Broadcasting
  • (坂本真綾のLucy's Radio Show Sakamoto Maaya no Lucy's Radio Show?, Chương trình Radio Lucy của Sakamoto Maaya) - Nippon Cultural Broadcasting


Xuất bản[sửa | sửa mã nguồn]

Báo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sakamoto Maaya no Manpukuron (坂本真綾の満腹論 Học thuyết thừa thãi của Sakamoto Maaya?) – Hiện đăng trên tạp chí Newtype.

- Góc báo do Sakamoto chịu trách nhiệm, đăng trên tạp chí hàng tháng.

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • (アイディ。 I.D.?) – 9 tháng 12, 2005[39]

- Sách tổng hợp tiểu luận.

  • (地図と手紙と恋のうた Chizu to Tegami to Koi no Uta?, Bản đồ, Lá thư và Bản tình ca) – 18 tháng 4, 2008[40]

- Sách tổng hợp ảnh và lời bài hát của Sakamoto.

  • from everywhere. – 21 tháng 2, 2011[41]

- Sách tổng hợp tiểu luận.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Doi, Hitoshi. "Sakamoto Maaya". Seiyuu Database. 5 tháng 7, 2010. Archived by WebCite 8 tháng 7, 2010.
  2. ^ “Cast list @ Bandai's Escaflowne Official Website” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2009. 
  3. ^ “Oricon past rankings for Yakusoku wa Iranai (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2009. 
  4. ^ “Maaya Sakamoto lần đầu tiên đạt no.1 album trên Oricon”. Anime News Network. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2011. 
  5. ^ “みなさまにご報告させていただきます” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2011. 
  6. ^ “the i.d 2002”. JVC. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2011. 
  7. ^ “Maaya Sakamoto 15 năm nhìn lại”. sakamotomaaya.com. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2011. 
  8. ^ “Profile @ Official Website” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009. 
  9. ^ “http://www.jvcmusic.co.jp/maaya/triangler/index.html”. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2008. 
  10. ^ “Grapefruit Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  11. ^ “Dive Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  12. ^ “Lucy Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  13. ^ “Shounen Alice Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  14. ^ “Yuunagi Loop Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  15. ^ “Kazeyomi Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  16. ^ “Easy Listening Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  17. ^ a ă “30Minutes Night Flight Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  18. ^ “Single Collection+ Hotchpotch Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  19. ^ “Single Collection+ Nikopachi Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  20. ^ “Yakusoku wa Iranai Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  21. ^ “Kiseki no Umi Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  22. ^ “Hashiru Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  23. ^ “Platinum Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  24. ^ “Yubiwa Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  25. ^ “Shippo no Uta Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  26. ^ “Mameshiba Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  27. ^ “Hemisphere Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  28. ^ “Gravity Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  29. ^ “Tune the Rainbow Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  30. ^ “Loop Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  31. ^ “Kazemachi Jet / Spica Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  32. ^ “Saigo no Kajitsu / Mitsubachi to Kagakusha Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  33. ^ “Triangler Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  34. ^ “Ame ga Furu Past Rankings” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2009. 
  35. ^ “03+” (bằng tiếng Nhật). Kinokuniya. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2010. 
  36. ^ Daniel Robson (14 tháng 2 năm 2009). “Painting pictures from an artistic lyrical palette”. The Japan Times. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2010. 
  37. ^ “Vitamin M radio info @ Official Website” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2009. 
  38. ^ “Chizu to Tegami to Koi no Uta Radio Official Site @ TBS Radio” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2009. 
  39. ^ “坂本真綾PHOTO&エッセイ集「アイディ。」発売!” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011. 
  40. ^ “地図と手紙と恋のうた” (bằng tiếng Nhật). Kinokuniya. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2009. 
  41. ^ “坂本 真綾 ニュース @Victor Entertainment” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Trang web chính thức