Cardcaptor Sakura

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Thủ lĩnh thẻ bài)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cardcaptor Sakura
Cardcaptor Sakura vol1 cover.jpg
Bìa tập 1 của bộ manga Cardcaptor Sakura, xuất bản ở Nhật bởi Kodansha vào ngày 22 tháng 11, 1996
カードキャプターさくら
(Kādokyaputā Sakura)
Thể loại Mahō shōjo, Romance
Bản quyền Cờ của Nhật Bản © CLAMP
Manga
Tác giả CLAMP
Nhà xuất bản Cờ của Nhật Bản Kodansha (tiếng Nhật và song ngữ Nhật-Anh)
Nhà xuất bản tiếng Việt Cờ của Việt Nam TVM Comics
Đối tượng độc giả Shōjo
Tạp chí Nakayoshi
Phát hành Tháng 5 năm 1996Tháng 6 năm 2000
Số tập 12 (danh sách)
TV anime
Đạo diễn Asaka Morio
Sản xuất Kondo Eizo
Kịch bản Ohkawa Nanase (CLAMP)
Thiết kế nhân vật Takahashi Kumiko
Soạn nhạc Negishi Takayuki
Hãng phim Cờ của Nhật Bản Madhouse
Cấp phép Flag of the United States Cờ của Canada Nelvana, Geneon
Cờ của Úc Cờ của New Zealand Madman Entertainment
Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Cờ của Ireland Contender Entertainment
Cờ của Việt Nam TVM
Cờ của Hồng Kông MediaLink Animation International
Quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc Proware Multimedia International
Kênh Cờ của Nhật Bản NHK, Animax, Kids Station
Kênh tiếng Việt Cờ của Việt Nam HTV3
Độ dài (mỗi tập) 30 phút
Phát sóng 7 tháng 4, 199821 tháng 3, 2000
Số tập 70 (danh sách)
Phim anime
Cardcaptor Sakura: The Movie
Đạo diễn Asaka Morio
Sản xuất Ikeguchi Kazuhiko, Ono Tatsuya
Kịch bản Ohkawa Nanase (CLAMP)
Thiết kế nhân vật Takahashi Kumiko
Soạn nhạc Negishi Takayuki
Hãng phim Cờ của Nhật Bản Madhouse
Cấp phép Flag of the United States Cờ của Canada Geneon, Nelvana
Cờ của Hồng Kông MediaLink Animation International
Quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc Proware Multimedia International
Kênh Cờ của Pháp Fox Network
Cờ của Tây Ban Nha K3
Phát hành 21 tháng 8, 1999
Độ dài (mỗi tập) 79 phút
Phim anime
Cardcaptor Sakura Movie 2: The Sealed Card
Đạo diễn Asaka Morio
Sản xuất Ikeguchi Kazuhiko, Ono Tatsuya
Kịch bản Ohkawa Nanase (CLAMP)
Thiết kế nhân vật Takahashi Kumiko
Soạn nhạc Negishi Takayuki
Hãng phim Cờ của Nhật Bản Madhouse
Cấp phép Flag of the United States Cờ của Canada Geneon
Cờ của Hồng Kông MediaLink Animation International
Quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc Proware Multimedia International
Kênh Cờ của Tây Ban Nha Cartoon Network
Cờ của Brasil Cartoon Network, TV Brasília
Phát hành 15 tháng 7, 2000
Độ dài (mỗi tập) 79 phút
Xem thêm
Chủ đề Anime và Manga

Cardcaptor Sakura (カードキャプターさくら Kādokyaputā Sakura?), viết tắt là CCS, là một loạt shōjo manga viết và minh họa bởi nhóm nghệ sĩ nổi tiếng Nhật Bản CLAMP. Ban đầu manga được đăng thường kì hàng tháng trên tạp chí Nakayoshi từ tháng 5 năm 1996 đến tháng 6 năm 2000, và sau đó được Kodansha phát hành thành 12 tập tankōbon từ tháng 11 năm 1996 đến tháng 7 năm 2000. Câu chuyện xoay quanh Kinomoto Sakura, một học sinh tiểu học tình cờ phát hiện ra mình đang nắm giữ một sức mạnh kì diệu sau khi vô tình giải phóng một bộ thẻ bài ma thuật đã được niêm phong nhiều năm trong một quyển sách. Sau đó cô được giao nhiệm vụ phải thu phục lại tất cả các thẻ bài đã chạy thoát nhằm ngăn chặn chúng phá hủy thế giới.

Madhouse là hãng sản xuất chuyển thể anime truyền hình của tác phẩm, với độ dài 70 tập và phát sóng tại Nhật Bản trên kênh NHK từ tháng 4 năm 1998 đến tháng 3 năm 2000. Hai bộ phim nhựa khác cũng được Madhouse phát hành vào tháng 8 năm 1999 và tháng 7 năm 2000. Mười trò chơi điện tử đã được sản xuất dựa theo sê-ri. Kodansha còn phát hành một số artbook, sách hìnhtruyện anime cho loạt manga và anime. Tokyopop đã phát hành manga bằng tiếng Anh ở Bắc Mỹ từ tháng 3 năm 2002 đến tháng 8 năm 2003. Sau khi giấy phép phát hành Cardcaptor Sakura của Tokyopop đã mãn hạn, Dark Horse Manga tiếp tục cấp phép và xuất bản manga thành nhiều bộ bắt đầu từ tháng 10 năm 2010. Ở ÚcNew Zealand, bộ truyện được cấp phép bởi Madman Entertainment. Nelvana đã mua bản quyền để phân phối và phát sóng phiên bản anime truyền hình tại Bắc Mỹ. Bộ phim được biên tập và rút ngắn lại còn 39 tập, sau đó đổi tên thành Cardcaptors và trình chiếu trên các kênh Kids' WB, Cartoon NetworkTeletoon. Bộ anime cùng hai phim nhựa được tái cấp phép bởi Geneon, hãng này sau đó phát hành chúng với bản phụ đề tiếng Anh. Cardcaptor Sakura cũng được giới thiệu rộng rãi ra nhiều quốc gia trên hầu hết các châu lục. Tại Việt Nam, manga ra mắt lần đầu vào năm 2002 bởi nhà xuất bản Thanh Hóa dưới tựa Cô bé hoa anh đào, sau đó được tái bản có bản quyền chính thức bởi TVM Comics với cùng nhan đề trong nguyên bản tiếng Nhật vào năm 2014. Phiên bản anime được phát sóng với bản lồng tiếng Việt trên kênh HTV3 vào năm 2010, dưới tựa đề Thủ lĩnh thẻ bài.

Các nhà phê bình đã ca ngợi sự sáng tạo của manga và mô tả nó là tinh hoa của shōjo manga, cũng như là một tác phẩm tối quan trọng trong thế giới manga nói chung. Bộ manga đã được trao Giải thưởng Seiun với danh hiệu Manga Xuất sắc nhất năm 2001. Chuyển thể anime truyền hình được đánh giá cao vì thu hút được cả sự chú ý của khán giả lớn tuổi, vượt qua mục tiêu ban đầu vốn chỉ dành cho trẻ nhỏ. Công nghệ đồ họa trong anime cũng gây sự chú ý lớn, họ đánh giá nó đã vượt trội hơn những anime cuối thập niên 1990, và những màn biểu diễn phép thuật của Sakura được xem là gần như độc nhất, vì trang phục của cô được thay đổi rất phong phú. Anime đã giành giải Animage Grand Prix với danh hiệu Anime Xuất sắc nhất vào năm 1999. Trái lại, phiên bản Cardcaptors đã chịu sự chê trách gay gắt, họ gọi đó là những chỉnh sửa vô lý vì đã cắt bỏ những đoạn thới thiệu quan trọng của nhân vật, khiến cho cốt truyện trở nên khó hiểu.

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu ý: Phần sau đây có thể cho bạn biết trước nội dung của tác phẩm.

Cardcaptor Sakura bắt đầu khi một cô bé 10 tuổi học lớp 4 tên là Kinomoto Sakura tình cờ phát hiện ra một bộ thẻ bài ma thuật gọi là Clow trong quyển sách Clow, chúng được tạo ra và đặt tên nửa tiếng Anh-nửa tiếng Trung bởi pháp sư Clow Reed. Thần thú giám hộ bộ bài là Kerberos thoát ra khỏi cuốn sách cùng với các thẻ bài và giao cho cô trọng trách thu phục những thẻ bài đã mất tích. Saukura phải chiến đấu và đánh bại những thuộc tính ma thuật của từng thẻ bài một mỗi khi tìm thấy để thu phục nó. Kerberos đóng vai trò là người hướng dẫn của cô, trong khi người bạn thân nhất và có họ hàng với cô là Daidouji Tomoyo quay phim, ghi hình lại toàn bộ quá trình chiến đấu và thiết kế trang phục cho Sakura. Anh trai của Sakura là Kinomoto Toya luôn quan sát mọi hoạt động của cô một cách âm thầm và vờ như mình không biết gì cả.

Một cậu bé bằng tuổi với Sakura và là hậu duệ của Clow Reed, Li Syaoran, đến từ Hồng Kông với mục đích chiếm lại các thẻ bài, nhưng sau vài lần chiến đấu cùng Sakura, cậu đã dần tôn trọng cô hơn và giúp đỡ cô thu phục chúng. Khi Sakura đã nắm trong tay tất cả thẻ bài, cô phải trải qua Sự Phán xét Cuối cùng, do Yue chủ trì, người giám hộ thứ hai của bộ bài, anh quyết định kiểm tra khả năng của Sakura xem cô có xứng đáng là tân chủ nhân của bộ bài Clow hay không. Yue là hình dạng thật của Tsukishiro Yukito, người trong mộng của Sakura và là bạn tốt nhất của anh trai cô. Sakura đã nhận sự trợ giúp của giáo viên trường mình là Mizuki Kaho, người được Clow Reed phái đến để giúp đỡ cô vượt qua mọi thử thách, bởi vì ông đã quyết định chọn Sakura làm người thừa kế chúng sau khi biết mình sắp chết. Cuối cùng Sakura đã hoàn thành thử thách và chính thức trở thành thủ lĩnh mới của thẻ bài Clow.

Cuộc sống của Sakura trở lại bình thường cho đến khi một cậu bé cùng tuổi với cô, Hiiragizawa Eriol, vừa mới chuyển từ Anh đến sống ở đây, trùng hợp với thời điểm xảy ra một vụ náo loạn mới ở thị trấn. Vì đột nhiên không thể kích hoạt bộ bài Clow, Sakura đã dùng cây gậy phép của cô và tạo ra một phép thuật mới, có thể biến thẻ bài Clow thành thẻ bài Sakura. Khi sự việc kì lạ vẫn tiếp tục, Sakura phải liên tục thực hiện quá trình chuyển hóa thẻ bài, không hề biết đứng đằng sau tất cả những chuyện này là Eriol và hai sinh vật giám hộ, Spinel SunRuby Moon. Yue ngày càng yếu hơn, vì anh cần được Sakura hỗ trợ phép thuật, nhưng quyền năng của cô vẫn chưa đủ mạnh để duy trì nó. Toya đã trao toàn bộ sức mạnh tâm linh của anh cho Yue để cứu sống Yukito. Sakura rất buồn khi Yukito nhẹ nhàng từ chối tình cảm của cô, do anh đã yêu Toya. Syaoran an ủi Sakura, trong khi nhận ra bản thân cậu đã có tình cảm với cô, nhưng không đủ can đảm để thú nhận chuyện đó.

Lúc chỉ còn sót lại hai thẻ bài Light và Dark cần được chuyển đổi cùng lúc với nhau, Eriol tiết lộ cho Sakura biết rằng cậu đã gây ra tất cả mọi chuyện. Sau khi quá trình chuyển hóa kết thúc, Eriol giải thích rằng cậu là một trong hai phân thân ở kiếp sau của Clow Reed, người còn lại là cha của Sakura. Eriol, người có tất cả kí ức và quyền phép của Clow Reed, đã hỗ trợ Sakura trong quá trình chuyển đổi các thẻ bài nhằm giúp chúng không bị mất đi phép lực. Trước khi quay về Anh, Eriol yêu cầu Sakura phân chia phép lực của cậu và cha cô, để mình không còn là người sở hữu quyền phép mạnh nhất thế giới. Sau đó, Syaoran thú nhận tình yêu của mình với Sakura, nhưng cô do dự không tìm ra được câu trả lời. Sakura đau lòng và ray rứt khi biết Syaoran sắp trở về Hồng Kông, cùng lúc đó cô nhận ra mình đã thật sự yêu cậu sau cuộc trò chuyện với Yukito. Cô vội đến để từ biệt và tặng con gấu bông do chính tay cô làm cho Syaoran; cậu hứa sẽ quay lại sau khi giải quyết ổn thỏa một số việc. Nhiều năm sau, Syaoran chuyển đến sống ở thị trấn này mãi mãi.

Cốt truyện của bộ chuyển thể anime được mở rộng ra. Có tới 52 thẻ bài thay vì 19 như trong manga gốc, và một số cảnh phim được thay đổi và kéo dài thêm, như hình dạng thật của Kerberos không được tiết lộ cho đến khi Yue xuất hiện[1]. Sakura tạo ra thẻ bài thứ 53, Hope, khả năng này không có trong manga, nhưng thẻ bài này xuất hiện trong 2 tập 71 và 72[2]. Một vài hoàn cảnh thu phục thẻ bài được thay đổi, chẳng hạn như Syaoran thu phục một số thẻ bài cho riêng mình và được thử thách bởi Yue trong Sự Phán xét Cuối cùng. Cô em họ và là hôn thê của Syaoran, Li Meiling được giới thiệu trong anime, trở thành trở ngại tình cảm quan trọng của Sakura trong bộ phim về sau. Vai trò của cha Sakura là phân thân thứ hai ở kiếp sau của Clow Reed và giai đoạn phân chia phép lực của Eriol chỉ được đề cập ở đoạn cuối phim. Trong phiên bản anime truyền hình, mối quan hệ giữa Sakura và Syaoran vẫn chưa được sáng tỏ, nhưng Sakura đã thú nhận tình cảm với Syaoran trong đoạn kết của bộ phim nhựa thứ hai. Trong đoạn cuối của anime, Sakura chạy ra sân bay để từ biệt và nhận con gấu bông do chính Syaoran làm để tặng cho cô. Điều này cũng khác hẳn so với bản manga, Sakura tặng con gấu bông cho Syaoran.

Hết phần cho biết trước nội dung.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Cardcaptor Sakura được giới thiệu lần đầu tiên trên tạp chí Nakayoshi trước khi ra mắt đoạn kết của Magic Knight Rayearth, một manga khác của CLAMP[3]. Tổng biên tập của CLAMP là Yamonouchi đã phát động họ thực hiện một tác phẩm khác cho Nakayoshi, và nhóm đã quyết định sáng tác một sê-ri "phong cách-Nakayoshi", trái ngược với Rayearth, và mô tả nó là bộ truyện không giống như bất kì tác phẩm nào trước đó của CLAMP. Chủ bút của CLAMP, Ohkawa Nanase, đã thúc đẩy ý tưởng đầu tiên của cô là tạo ra một tác phẩm mang phong cách mahō shōjo, mặc dù họ vốn không thành thạo thể loại này. Ohkawa muốn nhân vật nữ chính Sakura cùng nhóm tuổi với phần lớn đọc giả của Rayearth để người hâm mộ gần gũi và quen thuộc hơn với cô. Vì có sự khác biệt so với cách xây dựng nhân vật thông thường của CLAMP, Ohkawa đã thiết kế một số nhân vật khá giống với những tác phẩm trước đây của nhóm; Tomoyo và Kerberos là ví dụ điển hình. Khi Ohkawa đã nghĩ ra đủ thông tin về các nhân vật, đến lượt ba họa sĩ trong CLAMP—Mokona, Nekoi TsubakiIgarashi Satsuki—vẽ phác thảo họ dựa theo lời mô tả của cô. Khi tạo hình cho Kerberos, Ohkawa muốn có một mẫu thần thú bầu bạn với Sakura, nhưng Nekoi đã phải thử vẽ nhiều hình dáng khác nhau, bao gồm chó và sóc, trước khi chính thức xuất xưởng phiên bản cuối cùng. Syaoran và Toya được xây dựng để trở thành một dạng nhân vật phổ biến trong các tác phẩm của CLAMP[3].

Biểu tượng của tác phẩm: Hoa anh đào (Sakura)

Nhiều tựa đề đã được đề xuất sử dụng cho bộ truyện này, như Cardcaster SakuraCard Character Sakura, trước khi Nekoi chốt lại với tên Cardcaptor Sakura. Mặc dù Ohkawa là người lên kế hoạch cho Cardcaptor Sakura từ điểm xuất phát đến đoạn kết, cô không bao giờ tiết lộ cốt truyện với các thành viên khác của nhóm, thay vào đó cô đưa cho họ từng kịch bản của mỗi chương ở nhiều thời điểm. Mokona đã chú ý đến Tomoyo từ đầu vì có vẻ như nhân vật này đã yêu Toya, và cô đã hoàn toàn bất ngờ khi nhận được kịch bản của chương cho thấy Tomoyo yêu Sakura. Kịch bản được dự kiến sẽ thuộc loại câu chuyện "nếu bạn cố gắng hết sức, mọi chuyện sẽ được giải quyết", nhưng thay vào đó Ohkawa lại thực hiện theo suy nghĩ "Mọi chuyện sẽ ổn thôi mà" của Sakura. Ohkawa muốn xây dựng một cốt truyện mà "một phần nhỏ người sẽ cảm thấy thoải mái", ý cô là những người có mối quan hệ đồng tính và là mối quan hệ cấm kỵ thường thấy trong manga. Chủ đề chính của tác phẩm được thể hiện qua Sakura, nhân vật chính có những suy nghĩ mở về sự khác nhau giữa quan hệ gia đình và tình yêu. Ohkawa đã khéo léo khi đưa ra lý do giải thích các mối quan hệ này: Tomoyo và Sakura cuối cùng không trở thành một cặp chẳng phải vì Tomoyo là con gái, mà là bởi vì Sakura không yêu Tomoyo theo một cách lãng mạn[3].

Chủ đề trung tâm của Cardcaptor Sakuratình yêu và các mối quan hệ giữa người với người. Suốt tác phẩm, nhiều hình thức của tình yêu đã được phơi bày, bao gồm "tình yêu giữa anh chị em ruột, tình yêu tuổi mới lớn, tình yêu không được đáp trả, [và] tình yêu đúng nghĩa"[4]. Đôi khi, CLAMP bỏ qua cả thẻ bài Clow trong một số chương để tập trung hơn vào các mối quan hệ của Sakura và những người xung quanh cô. Từng mối quan hệ được CLAMP thể hiện theo cách tránh phải nhìn nhận sự đúng đắn của chúng. Đặc biệt, tình cảm lãng mạn giữa Sasaki Rika và người thầy của cô là Terada Yoshiyuki dưới ngòi bút của CLAMP có thể khiến điều đó được xem là câu chuyện "hoàn thành tâm nguyện" ngọt ngào và trong sạch, hoặc nếu đánh giá nghiêm túc hơn: một chuyện tình ái nhi mức độ nhẹ[4].

Ohkawa đã khuyên các họa sĩ, đặc biệt là Mokona, nên sử dụng những nét mảnh và cố gắng diễn đạt mọi thứ bằng các đường cong đối lập với đường thẳng[3]. Phong cách nghệ thuật của tác phẩm đã được duyệt xét ngay từ đầu để thống nhất quan điểm của mọi người về Cardcaptor Sakura. Ohkawa muốn có một bộ truyện mang cảm xúc "mềm mại, dễ thương", vì vậy cô đã yêu cầu họa sĩ không sử dụng quá nhiều mực và cần đánh bóng làm sáng trang truyện. Khi phải vẽ rất nhiều hoa dùng làm cảnh nền cho manga, Nekoi tham khảo những quyển sách khác để tìm bông hoa thích hợp, và cố gắng tránh vẽ trùng một loại hoa nhiều hơn một lần trong mỗi chương. Igarashi nhận xét rằng họ "chưa bao giờ phải minh họa nhiều hoa như vậy trong một tác phẩm", nhưng họ cố ý không sử dụng hoa hồng. CLAMP muốn kết hợp yếu tố chuyển đổi cảnh nền vào Cardcaptor Sakura, nhưng vì nhiều manga mahō shōjo khác cho nhân vật nữ mặc những bộ trang phục giống nhau, nhóm đã để Sakura mặc nhiều kiểu quần áo trong từng trận đánh. CLAMP cảm thấy rằng "thật là chán khi một cô gái chỉ mặc độc một bộ đồ mọi lúc[5]."

Phương tiện truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Cardcaptor Sakura ban đầu là một sê-ri manga viết và minh họa bởi nhóm nghệ sĩ CLAMP. Tác phẩm được đăng thường kì hàng tháng trên tạp chí shōjo (nhằm vào những thiếu nữ từ 10-18 tuổi) là Nakayoshi từ tháng 5 năm 1996 đến tháng 6 năm 2000[1]. Kodansha sau đó đã tập hợp các chương này lại và xuất bản thành 12 tankōbon từ tháng 11 năm 1996 đến tháng 7 năm 2000[6][7]. Kodansha đã tiến hành ra mắt sáu tập đầu tiên của phiên bản song ngữ Nhật-Anh từ tháng 5 năm 2000 đến tháng 7 năm 2001[8][9]. Các tập song ngữ này là một phần của chương trình thử nghiệm khuyến khích trẻ em Nhật Bản học tiếng Anh. Kodansha ngừng phát hành phiên bản song ngữ sau khi Tokyopop đã cấp phép để phân phối tác phẩm bằng tiếng Anh ở thị trường Bắc Mỹ[1][10].

Tokyopop xuất bản các tập của Cardcaptor Sakura từ tháng 3 năm 2000 đến tháng 8 năm 2003[11][12]. Tokyopop lúc đầu phát hành sáu tập đầu tiên theo phong cách đọc "ngược" của người Nhật, trong đó các trang truyện được đọc từ phải sang trái, khác với kiểu đọc của phương Tây là theo chiều từ trái sang phải. Các tập này sau khi "xoay chiều" lại đã được tái bản và ra mắt trong hai bộ, mỗi bộ gồm 3 tập[13][14]. Từ tập 7 đến tập 12 sử dụng phong cách đọc kiểu Tây và mang phụ đề Master of the Clow. Madman Entertainment đã sử dụng bản dịch tiếng Anh của Tokyopop để tiến hành xuất bản loạt truyện tại ÚcNew Zealand[15]. Dark Horse Manga đã phát hành bản tiếng Anh thành bốn bộ, mỗi bộ chứa ba tập truyện. Bộ truyện đầu tiên được xuất bản vào tháng 10 năm 2010[16]. Tác phẩm cũng được nhiều công ty đăng ký bản quyền để phát hành ở các quốc gia tương ứng, như Pika Édition (Pháp)[17], Star Comics (Ý)[18], EMA (Đức)[19], Editora JBC (Brasil)[20], Ever Glory Publishing (Đài Loan)[21], Glènat España (Tây Ban Nha)[22], Editorial Ivrea (Argentina)[23], Editorial Toukan (México)[24], Seoul Publish (Hàn Quốc)[25], Vibulkij Publishing (Thái Lan)[26], Elex Media Komputindo (Indonesia)[27], Jonesky (Hồng Kông)[28], Sáng Nghệ (Singapore)[29], Nhi Đồng (Trung Quốc)[30] và một số quốc gia khác. Tại Việt Nam, công ty xuất bản TVM Comics thông báo đã mua được bản quyền chính thức của manga và sẽ phát hành tập đầu tiên vào tháng 7 năm 2014. Trước đó bộ truyện đã được nhà xuất bản Thanh Hóa phát hành dưới tên Cô bé hoa anh đào vào năm 2002, và cũng được tái bản một số lần sau đó bởi Thanh Hóa và Trẻ, tuy nhiên đều không có bản quyền.

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Một bộ chuyển thể anime truyền hình dài 70 tập do Madhouse sản xuất đã được phát sóng tại Nhật Bản trên đài NHK và chia thành ba phần[31][32]. Phần đầu tiên gồm 35 tập, phát sóng từ ngày 7 tháng 4 đến 29 tháng 12, 1998[33][34][35]. Phần hai gồm 11 tập phát sóng từ ngày 6 tháng 4 đến 22 tháng 6, 1999[35][36]. Phần ba gồm 24 tập còn lại phát sóng từ ngày 7 tháng 9 năm 1999 đến 21 tháng 3, 2000[37][38]. Anime do Asaka Morio làm đạo diễn với sự cộng tác tuyệt đối từ phía CLAMP: chủ bút Ohkawa Nanase là người viết và sáng tác kịch bản, Mokona chịu trách nhiệm thiết kế trang phục và các thẻ bài[32]. Phim được công chiếu rộng khắp Nhật Bản trên mạng lưới truyền hình vệ tinh Animax; sau này Animax đã góp công đưa tác phẩm ra toàn thế giới thông qua các phiên bản quốc tế của nó. Bandai Visual phát hành bộ anime dưới dạng 18 băng VHS, đĩa LDDVD biên soạn từ tháng 9 năm 1998 đến tháng 5 năm 2000[39][40][41][42]. Ngoài ra còn có 2 tập thêm để cho người xem muốn biết lá bài bí ẩn thứ 53 là lá bài gì, tuy nhiên 2 tập này chỉ phát sóng đặc biệt ở một số kênh của Nhật BảnHoa Kỳ.

Ấn bản giới hạn của bộ DVD đầu tiên của anime Cardcaptor Sakura do Pioneer Entertainment phát hành tại thị trường Bắc Mỹ

Nelvana là công ty đăng ký bản quyền phát hành phiên bản lồng tiếng Anh của Cardcaptor Sakura tại khu vực Bắc Mỹ dưới tựa đề Cardcaptors[43][44]. Các tập phim bị chỉnh sửa rất nhiều và phải sắp xếp theo một trật tự mới, một số tập thậm chí còn bị lược bỏ[45]. Những chi tiết có khả năng gây tranh cãi cũng bị xóa nốt, và kết quả là bộ phim chỉ tập trung hướng vào các cảnh hành động để thu hút sự chú ý của khán giả nam, vì dường như họ là đối tượng xem hoạt hình nhiều nhất vào thời điểm đó[1]. Cardcaptors được phát sóng lần đầu tiên tại Hoa Kỳ trên kênh Kids' WB từ ngày 17 tháng 6, 2000 đến ngày 14 tháng 12, 2001[46][47]. Trên kênh Kids' WB, tập phát sóng đầu tiên là Sakura's Rival, vốn là tập thứ tám của phiên bản gốc, các tập giới thiệu nhân vật Sakura và cuộc sống trước đó của cô bị lược bỏ, thay vào đó là sự xuất hiện ngay lập tức của Syaoran khi cậu vừa mới chuyển đến[1][48]. Bộ anime bị rút ngắn lại chỉ còn 39 tập, thứ tự các tập bị đảo lộn trật tự so với bản gốc tiếng Nhật, nhưng đoạn kết của nó lại đúng theo thực tế của tác phẩm. Sau đó khi Nelvana phát sóng anime tại Anh trên kênh Nickelodeon và CITV, các tập phim bị lược bỏ đã xuất hiện trở lại, nhưng những chỉnh sửa khác vẫn còn áp dụng. Cardcaptors tiếp tục được phát sóng tại Ireland trên kênh RTÉ Network 2 và Canada trên kênh Teletoon (cũng phát sóng các tập lồng tiếng Pháp). Animax cũng tạo ra bản lồng tiếng Anh cho sê-ri với những sửa đổi bị giảm tối đa và gần sát với bản gốc, được phát sóng tại khu vực Đông Nam ÁNam Á. Tại Việt Nam, anime được đăng ký bản quyền bởi TVM và phát sóng toàn bộ trên kênh HTV3 với bản lồng tiếng Việt từ ngày 13 tháng 8 năm 2010;[49] tuy nhiên tựa phim được đổi thành Thủ lĩnh thẻ bài. Ở Nam Mỹ và châu Đại Dương, kênh truyền hình cáp Cartoon Network phát sóng bộ phim trên toàn mạng lưới của nó ở nhiều quốc gia như México, Peru, Venezuela, Chile, Brasil, Argentina, Colombia, Paraguay, Úc và New Zealand, với phiên bản lồng tiếng Anh, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha[50]. Anime cũng được giới thiệu rộng rãi đến các quốc gia châu Âu, Trung và Đông Á khác thông qua nhiều kênh truyền hình địa phương và quốc tế[50].

Pioneer Entertainment (nay là Geneon Universal Entertainment) đã ký hợp đồng với Nelvana để phát hành Cardcaptors lồng tiếng Anh thành 9 băng VHS và đĩa DVD từ tháng 11 năm 2000 đến tháng 7 năm 2002[51][52][53][54]. Công ty cũng phát hành phiên bản nguyên thủy Cardcaptor Sakura với âm thanh tiếng Nhật và phụ đề tiếng Anh[1][45], chia thành 18 băng VHS, đĩa LDDVD từ tháng 11 năm 2000 đến tháng 11 năm 2003[55][56]. Chỉ có 11 tập đầu tiên là được phát hành trên băng VHS[57][58]. Những đĩa DVD của sê-ri anime truyền hình Cardcaptor Sakura tại Bắc Mỹ đã ngừng phát hành vào năm 2006 khi giấy phép bản quyền mãn hạn.

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Madhouse đã thực hiện hai bộ phim nhựa anime cho Cardcaptor Sakura, mỗi bộ dài 82 phút dưới hình thức là phần mở rộng của loạt phim truyền hình. Bộ phim đầu tiên, Cardcaptor Sakura: The Movie, công chiếu vào ngày 21 tháng 8, 1999[59]. Phim lấy bối cảnh giữa phần 1 và phần 2 của anime truyền hình, nói về chuyến đi Hồng Kông của Sakura và bạn bè của cô, tại đó cô đã gặp một linh hồn với mong muốn báo thù Clow Reed vì bị ông làm tổn thương trong quá khứ. Phim được phát hành dưới dạng VHS, LD và DVD tại Nhật Bản bởi Bandai Visual vào tháng 2 năm 2000[60][61]. Nelvana đã phát hành phiên bản lồng tiếng Anh của bộ phim, tuy tựa đề vẫn được giữ nguyên nhưng cốt truyện tiếp tục bị biên tập như bản lồng tiếng Cardcaptors. Cũng như phiên bản truyền hình, Pioneer Entertainment đã phát hành phần phim nguyên gốc không bị chỉnh sửa, với âm thanh tiếng Nhật và phụ đề tiếng Anh. Cả hai phiên bản không chỉnh sửa và đã biên tập đều được phát hành dưới dạng VHS và DVD vào tháng 3 năm 2002 ở Bắc Mỹ[62][63].

Bộ phim thứ hai, Cardcaptor Sakura Movie 2: The Sealed Card, được công chiếu tại Nhật Bản vào ngày 15 tháng 7, 2000[64]; một phần phim ngắn được chiếu thêm sau khi kết thúc bộ phim này mang tên Leave it to Kero![65]. Nội dung phim cũng là phần kết của sê-ri anime truyền hình, trong đó Syaoran trở về Tōkyō với hy vọng nhận được câu trả lời của Sakura cho lời tỏ tình của cậu, nhưng lời đồng ý của cô lại bị phá đám do sự xuất hiện của thẻ bài Clow thứ 53. Phim được phát hành dưới dạng LD (phiên bản giới hạn) và DVD tại Nhật Bản vào tháng 1 năm 2007, và VHS vào tháng 7 năm 2001[66][67]. Pioneer tiếp tục phát hành phiên bản DVD của bộ phim tại Bắc Mỹ vào tháng 11 năm 2003 với bản lồng tiếng Anh do Bang Zoom! Entertainment thực hiện[68][69]. Hai bộ phim nhựa này của Cardcaptor Sakura vẫn được phát hành đều đặn tại Bắc Mỹ cho đến khi Pioneer ngừng phân phối trực tiếp vào mùa thu năm 2007[70]. Một số công ty ở Anh, Ý, Đức, Mỹ Latinh, Hồng Kông, v.v đã phân phối chúng tại các quốc gia tương ứng của họ, một số nơi như Pháp, Tây Ban Nha và Brasil còn chiếu thẳng lên truyền hình[71][72].

CD nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Để giới thiệu cho bộ anime chiếu trên truyền hình, Kodansha đã phát hành một đĩa CD dạng tankōbon với tựa đề CD Comic Cardcaptor Sakura vào tháng 8 năm 1997, chứa hai đĩa nhạc hình về các nhân vật do hai diễn viên lồng tiếng của Sakura và Tomoyo trình bày, cùng một bài nhạc kịch[73]. Hai đĩa drama CD dành cho sê-ri phim cũng được ra mắt. Đĩa thứ nhất, mang tựa Sakura to Okaa-san no Organ, phát hành vào tháng 7 năm 1998 chứa một kịch bản được viết bởi Ohkawa Nanase, đồng tác giả của tác phẩm[74]. Nội dung mô tả giấc mơ của Sakura về mẹ cô đang chơi đàn organ và đang suy nghĩ viết một dự thảo học đường cho ngày hôm sau của bà. Đĩa CD thứ hai, với tên Sweet Valentine Stories, ra mắt trong tháng 2 năm 1999, mô tả một ngày sinh hoạt bình thường của những bạn nữ trong lớp Sakura, bao gồm chính cô[75]. Bốn album CD chứa những bản nhạc gốc trong loạt phim truyền hình được phát hành từ tháng 7 năm 1998 đến tháng 3 năm 2000[76][77]. Soundtrack này chứa các bản phối khí nhạc nền và các ca khúc chủ đề có lời trong phim. Hai soundtrack khác được sản xuất dành riêng cho hai bộ phim nhựa: soundtrack của bộ phim đầu tiên phát hành vào tháng 8 năm 1999, soundtrack của bộ phim thứ hai ra mắt trong tháng 8 năm 2000[78][79].

Chín đĩa đơn cho các ca khúc chủ đề trong anime đã được phát hành, trong đó sáu đĩa dành cho phim truyền hình và ba đĩa dành cho loạt phim nhựa. Ba đĩa đơn chứa các ca khúc chủ đề mở đâu của sê-ri anime truyền hình gồm: "Catch You Catch Me", do Gumi trình bày, phát hành vào tháng 4 năm 1998; "Tobira o Akete" (扉をあけて?) do Anza trình bày, phát hành vào tháng 4 năm 1999; và "Platinum" do Sakamoto Maaya thực hiện, ra mắt trong tháng 10 năm 1999[80][81][82]. Ba đĩa chứa các ca khúc chủ đề kết thúc là: "Groovy!" của Hirose Kohmi, phát hành vào tháng 9 năm 1998; "Honey" của Chihiro, ra mắt trong tháng 5 năm 1999; và "Fruits Candy" do Kojima Megumi trình bày, phát hành vào tháng 11 năm 1999[83][84][85]. Hai đĩa đơn chứa các ca khúc chủ đề kết thúc của hai phim nhựa là: "Tōi Kono Machi de" (遠いこの街で?) do Kaitani Naomi trình bày trong bộ phim đầu tiên, phát hành vào tháng 8 năm 1999; và "Ashita e no Melody" (明日へのメロディー?) của Chaka trong bộ phim thứ hai, phát hành vào tháng 7 năm 2000[86][87]. Đĩa đơn chủ đề cuối cùng là dành cho phụ phim ngắn Leave It To Kero! mang tên "Okashi no Uta" (おかしのうた?), ra mắt trong tháng 7 năm 2000[88].

Sáu đĩa đơn nhạc hình về các nhân vật với giọng ca của những diễn viên lồng tiếng cho Sakura, Toya, Kerberos, Tomoyo, Yukito và Syaoran được phát hành vào tháng 6 năm 1998; mỗi đĩa có kèm theo một đoạn nhạc kịch ngắn[89][90][91][92][93][94]. Một album nhạc hình về các nhân vật mang tựa Cardcaptor Sakura Character Songbook cũng đã ra mắt vào tháng 1 năm 1999, gồm những bài nhạc hình đã được phát hành trước đây cũng như những bản nhạc mới do nhiều ca sĩ khác nhau trình bày[95]. Một album khác lấy tên Tomoeda Elementary Choir Club Christmas Concert, phát hành trong tháng 12 năm 1999, gồm bảy bài hát hợp xướng giọng thiếu nhi, trong đó năm bài có sự tham gia của Iwao Junko, nữ diễn viên lồng tiếng cho Tomoyo[96]. Một tập hợp bốn đĩa CD biên soạn, Complete Vocal Collection, đã phát hành trong tháng 2 năm 2001, chứa những ca khúc chủ đề trong các phiên bản anime, các bản nhạc hình về nhân vật, các bản remix (phối lại) từ những bài đã phát hành trước đó và những bài hát mới[97]. Một album nữa tập hợp các ca khúc chủ đề của sê-ri anime truyền hình và phim nhựa có tựa Cardcaptor Sakura Theme Song Collection đã ra mắt trong tháng 12 năm 2001[98]. Victor Entertainment là công ty phát hành toàn bộ các album và đĩa đơn của Cardcaptor Sakura tại Nhật Bản. Ở Bắc Mỹ, vào tháng 9 năm 2001, Rhino Entertainment đã cho ra mắt đĩa soundtrack gốc của phiên bản anime lồng tiếng Anh Cardcaptors lấy tựa Cardcaptors titled Cardcaptors: Songs from the Hit TV Series[99].

Trò chơi điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Mười trò chơi điện tử đã được sản xuất dựa trên tác phẩm, chơi trên nhiều hệ máy console cầm tay khác nhau. Các game được chia thành nhiều thể loại, như phiêu lưu hay nhập vai. Trò chơi đầu tiên ra mắt tại Nhật Bản vào ngày 15 tháng 5, 1999 là Cardcaptor Sakura: Itsumo Sakura-chan to Issho![100]; và game mới nhất tính đến nay là Cardcaptor Sakura: Sakura-chan to Asobo!, phát hành ngày 2 tháng 12 năm 2004[101][102].

Tựa Phát hành lần đầu Sản xuất Hệ máy
Cardcaptor Sakura: Itsumo Sakura-chan to Issho! Phát hành bởi MTO[100] Game Boy Color[100][103]
Animetic Story Game 1: Cardcaptor Sakura Phát triển và phát hành bởi Arika[104] PlayStation[104][105]
Cardcaptor Sakura: Sakura to Fushigi na Clow Cards Phát triển bởi Sims và phát hành bởi Bandai[106] WonderSwan[106]
Cardcaptor Sakura: Tomoyo no Video Daisakusen Phát triển bởi Sega Rosso và phát hành bởi Sega[107] Dreamcast[107]
Cardcaptor Sakura: Clow Card Magic Phát triển và phát hành bởi Arika[108] PlayStation[108]
Tetris with Cardcaptor Sakura: Eternal Heart Phát triển và phát hành bởi Arika[109] PlayStation[109][110]
Cardcaptor Sakura: Tomoe Shōgakkō Daiundōkai Phát hành bởi MTO[111] Game Boy Color[103][111]
Cardcaptor Sakura: Sakura Card de Mini-Game Phát triển và phát hành bởi TDK Core[112] Game Boy Advance[112]
Cardcaptor Sakura: Sakura Card-hen Sakura Card to Tomodachi Phát hành bởi MTO[113] Game Boy Advance[113]
Cardcaptor Sakura: Sakura-chan to Asobo! Phát hành bởi NHK Software[101] PlayStation 2[101]

Sản phẩm khác[sửa | sửa mã nguồn]

Bìa artbook Cardcaptor Sakura Illustration Collection, 1998

Kōdansha xuất bản sáu quyển artbook cho loạt manga và công nghệ tạo hình trong phim truyền hình do nhà thiết kế nhân vật Takahashi Kumiko minh họa[1]. Ba ấn bản dành cho manga có tựa đề Cardcaptor Sakura Illustration Collection, phát hành từ tháng 8 năm 1998 đến tháng 12 năm 2000[114][115], và ba quyển cho anime mang tên Cheerio!, phát hành từ tháng 4 năm 1999 đến tháng 10 năm 2000[116][117]. Một bộ bài Clow gồm 52 lá trong anime được phát hành vào tháng 8 năm 1999; và quyển Clow Card Fortune Book, hướng dẫn cách xem bói bằng bài Clow tương tự như cỗ bài tarot, ra mắt vào tháng 3 năm 2000[118][119]. Một cuốn sách dành cho người hâm mộ manga mang tựa Cardcaptor Sakura Memorial Book đã được xuất bản vào tháng 2 năm 2001, chứa nhiều hình minh họa khác nhau của tác phẩm, cũng như thông tin về những mặt hàng thương mại kèm theo những bài phỏng vấn[120]. Bốn quyển sách tương tự, mang tựa chung là "Complete Book", được chia làm hai phần: phiên bản dành cho bộ anime truyền hình phát hành trong tháng 7 năm 1999 và tháng 6 năm 2000, phiên bản dành cho hai bộ phim nhựa phát hành vào tháng 10 năm 1999 và tháng 10 năm 2000[121][122][123][124].

Mười tập truyện anime (manga sử dụng các hình ảnh trong anime) được phát hành từ tháng 8 năm 1998 đến tháng 11 năm 2000, có nội dung bao gồm hai phần đầu của bộ anime truyền hình, tuy nhiên một số tập phim đã bị lược bỏ[125][126]. Ba tập tiếp theo được xuất bản từ tháng 3 năm 2001 đến tháng 2 năm 2002, chứa nội dung đến tập phim thứ 59, và vẫn có một vài tập phim bị lược bớt[127][128]. Bốn quyển sách hình nói về loạt phim truyền hình đã được phát hành từ tháng 9 năm 1998 đến tháng 11 năm 2000[129][130]. Cuối cùng là bốn tập sách nhãn dán dành cho anime truyền hình, ra mắt từ tháng 8 năm 1999 đến tháng 3 năm 2004[131][132].

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Manga Cardcaptor Sakura ngay từ lần đầu tiên ra mắt đã trở nên nổi tiếng với bạn đọc người Nhật, tác phẩm được xếp trong tốp năm bộ truyện bán chạy nhất trong thời gian phát hành[133]. Loạt manga đã được Seiun Award trao giải Manga xuất sắc nhất năm 2001[134]. Shaenon Garrity của tạp chí Mỹ The Comics Journal đã ca ngợi bộ truyện là tinh hoa của thể loại shōjo, khen cách xây dựng tình huống ngày càng trưởng thành hơn trong nửa sau của cốt truyện[135]. Cardcaptor Sakura được mô tả như một "tác phẩm tối quan trọng" bởi Christopher Butcher, tác giả của trang Comics212[135]. Trong một bài bình luận của Lisa Anderson trên Manga Life, những mục đích phụ đan xen trong cốt truyện mô tả các mối quan hệ của con người đã nhận được sự quan tâm đặc biệt. Anderson ca ngợi cách manga thể hiện trang phục của Sakura trong cảnh cô truy bắt thẻ bài Clow ngay ở phần mở đầu, đã "đi một bước nhảy ở chiều hướng khác" khi chú trọng vào các nhân vật. Tác phẩm cũng được khen ngợi về chiều sâu kịch bản[136]. Nhà phân tích Robert Nguyen tại Anime News Network (ANN) cảm thấy Cardcaptor Sakura là một đại diện "điển hình cho shōjo" manga, trong đó "nhấn mạnh vào thể hiện cảm xúc của nhân vật[137]".

Trong cuốn Manga: The Complete Guide, Mason Templar trịnh trọng tuyên bố rằng sê-ri này "không những là một trong những manga hay nhất nhất dành cho thiếu nhi được biên dịch, mà còn là một trong những tác phẩm manga xuất sắc nhất có bản Anh ngữ, chấm hết". Ông khen ngợi nhóm CLAMP vì sự sáng tạo cũng như khả năng nghề nghiệp sắc sảo của họ, khi đã tạo ra một tác phẩm mà "chắc hẳn sẽ có hàng loạt sản phẩm thương mại chuyển thể" và có tiền đề "cực kỳ dễ quên" vào một cốt truyện "tràn đầy niềm vui ấm áp cùng sự ngạc nhiên", điều đó "mang lại nhiều ý nghĩa hơn những gì mà nó chứa đựng[4]". Các nhà phê bình đã chỉ ra những điểm đáng yêu của manga, và trong một số trường hợp là quá dễ thương[137]; tuy nhiên, Anderson nhận xét nó "hệt như Magic Knight Rayearth, ngay cả với một cốt truyện dễ thương cũng giàu chiều sâu và cảm xúc[136]". Nét vẽ của manga cũng được khen ngợi vì chi tiết và "hình các thẻ bài Clow được minh họa rất đẹp". Các thẻ bài được mô tả là "sự khéo léo pha trộn giữa thế giới ảo tưởng đầy mơ mộng và hiện thực cuộc sống[137]".

Chuyển thể anime cũng đã rất nổi tiếng với khán giả Nhật Bản, mặc dù có một khoảng thời gian lượng người xem giảm đi[1]. Bộ anime Cardcaptor Sakura đã đoạt được giải thưởng Animage Grand Prix với danh hiệu Anime Xuất sắc nhất năm 1999[138]. Tháng 5 năm 2000, anime tập 8 và 17 trên phiên bản đĩa LD (Laserdisc) được phát hành và trở thành một trong những tên tuổi bán chạy nhất; đĩa 17 được xếp ở vị trì đầu bảng xếp hạng[139]. DVD tập 18 nằm trong tốp 8 đĩa DVD anime bán chạy nhất ở Nhật vào tháng 6 năm 2000[1]. Cộng tác viên Kevin Law của tạp chí Mỹ Animerica chuyên về anime và manga cảm thấy rằng loạt phim mang một "ý nghĩa thiết kế rất tinh vi", từ đó cho phép tác phẩm vượt qua mục tiêu ban đầu vốn dành cho trẻ nhỏ vì ngay cả những khán giả lớn tuổi hơn cũng bị chinh phục[140]. Cộng tác viên Oshiguichi Takashi khám phá ra sức quyến rũ của Sakura và biểu dương phong cách nghệ thuật của phim. Ông nhận xét rằng dù phim đã được "tính toán rất kĩ lưỡng" nhằm thu hút những khán giả nam, nhưng nó vẫn nhận được sư yêu mến từ nhiều đối tượng người hâm mộ nhờ vào "phong cách giải trí độc đáo" của CLAMP kết hợp với "thời điểm xuất hiện hoàn hảo của "những nhân vật phản diện đầy sức hấp dẫn" và sự khác thường trong việc thay đổi trang phục của nhân vật chính sau mỗi cảnh mới". Tạp chí của Winnie Chow đánh giá pha phim hoạt hình này "đã vượt trội hơn những bộ phim chiếu trên tivi", và khen ngợi những cảnh biểu diễn phép thuật của Sakura gần như là độc nhất bởi sự thay đổi trang phục thường xuyên của cô[141].

Zac Bertschy của ANN đánh giá cao Cardcaptor Sakura khi đã tái hiện tốt thể loại mahō shōjo vốn "được lặp đi lại quá nhiều lần và xưa cũ một cách đáng kinh ngạc", hơn thế nữa nó mang lại "cảm giác vui nhộn, khéo léo, đầy sức sống tươi đẹp, cảm động và hấp dẫn cùng một lúc"; Bertschy đã gọi sê-ri này là một "màn biểu diễn của cô gái có phép thuật tuyệt vời nhất từng được tạo ra"[142]. Anime được mô tả là "cực kỳ linh động" với các nhân vật được thiết kế "duy trì một mức độ chi tiết kiên định và ấn tượng, ngay cả trong những cảnh hành động[142]". Bộ anime cũng được xem là làm theo kiểu mẫu xưa, nhưng điều này không hề làm giảm đi sức lôi cuốn[143][144][145]. Mặc dù đối tượng chính của Cardcaptor Sakura thường là những cô bé trẻ tuổi, bộ phim được ca ngợi là chứa đựng "những yếu tố mà ai cũng sẽ thích, dù là ở tuổi tác hay giới tính nào, miễn là họ có một tâm hồn cởi mở[143]".

Phiên bản anime lồng tiếng Anh Cardcaptors trên kênh Kids' WB đã phải chịu sự chê trách thậm tệ, nó được nhận xét là "điều tồi tệ nhất từng xảy ra cho một anime có tên tuổi ở Nhật Bản[146]", và "không có mục đích nào khác hơn là cố gắng pha loãng một anime được nhiều người ưa thích[48]". Phần lồng tiếng được ghi nhận là "một trong những yếu tố tệ hại nhất nếu không muốn nói là bản lồng tiếng tệ hại nhất từng được dùng trong một chương trình[146]", những giọng lồng tiếng bị chê là "không thể nào sánh ngang được với bản gốc[48]". Tuy nhiên, một số nhà phân tích cho rằng diễn viên Carly McKillip lồng tiếng cho Sakura và Alyn Faber trong vai Syaoran là "những giọng nói duy nhất thực sự tỏa sáng trong toàn bộ sê-ri[48]". Những chỉnh sửa của Nelvana đã bị chỉ trích là "vô lý" và việc cắt đi đoạn giới thiệu quan trọng của nhân vật đã khiến cho cốt truyện trở nên khó hiểu[48][146].

Tháng 1 năm 2002, chuỗi nhà hàng Taco Bell tiến hàng một tháng ròng khuyến mại bốn trò chơi Cardcaptors có sẵn trong các suất ăn dành cho trẻ em của họ và công ty dự kiến sẽ phân phối lên đến 7 triệu món đồ chơi trong tháng[147]. American Family Association, được miêu tả là một tổ chức "chính trị Thiên chúa giáo cánh hữu", đã đưa ra lời phàn nàn về đợt khuyến mại này vì tổ chức cảm thấy các thẻ bài Clow trong tác phẩm quá giống bài tarot và thần thoại phương Đông. Tuy nhiên, lời khiếu nại vẫn không được đưa ra cho đến khi chương trình khuyến mại kết thúc như dự định, vì vậy không rõ những phát ngôn của tổ chức này gây ảnh hưởng như thế nào[148].

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê “Anime Radar: News”. Animerica (bằng tiếng Anh) (San Francisco, California: Viz Media) 8 (10): 32. Tháng 11 năm 2000. ISSN 1067-0831. OCLC 27130932. 
  2. ^ http://www.youtube.com/results?search_query=thu+linh+the+bai+tap+71+part+1&oq=Thu+Linh+The+Bai+tap+71&gs_l=youtube-reduced.1.2.0l4.11457.11457.0.13560.1.1.0.0.0.0.320.320.3-1.1.0...0.0.TzDbiaCFPRI
  3. ^ a ă â b Cardcaptor Sakura Memorial Book (bằng tiếng Nhật). Kodansha. Tháng 2 năm 2001. ISBN 978-4-0632-4535-6. 
  4. ^ a ă â Thompson, Jason (9 tháng 10 năm 2007). Manga: The Complete Guide (bằng tiếng Anh). New York, New York: Del Rey Books. tr. tr.43–44. ISBN 978-0-345-48590-8. OCLC 85833345. 
  5. ^ Solomon, Charles (28 tháng 11 năm 2006). “Four Mothers of Manga Gain American Fans With Expertise in a Variety of Visual Styles” (bằng tiếng Anh). The New York Times. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  6. ^ “カードキャプターさくら(1)” [Cardcaptor Sakura (1)] (bằng tiếng Nhật). Kodansha. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  7. ^ “カードキャプターさくら(12)” [Cardcaptor Sakura (12)] (bằng tiếng Nhật). Kodansha. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  8. ^ “カードキャプターさくら―バイリンガル版 (1)” [Cardcaptor Sakura Bilingual Edition (1)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  9. ^ “カードキャプターさくら―バイリンガル版 (6)” [Cardcaptor Sakura Bilingual Edition (6)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  10. ^ “Kodansha to Publish, Sell Manga in U.S. in September” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. 1 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2009. 
  11. ^ “Cardcaptor Sakura 1”. Amazon.com. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  12. ^ “Cardcaptor Sakura: Master of the Clow, Book 6”. Amazon.com. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  13. ^ “Cardcaptor Sakura (Boxed Set, Collection 1)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  14. ^ “Cardcaptor Sakura: Boxed Set Volumes 4-6: Special Collector's Edition” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  15. ^ “Cardcaptor Sakura: Master of the Clow (Manga)” (bằng tiếng Anh). Madman Entertainment. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  16. ^ “Cardcaptor Sakura Omnibus Vol. 1 TPB” (bằng tiếng Anh). Dark Horse Comics. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010. 
  17. ^ “Card Captor Sakura” (bằng tiếng Pháp). Pika Édition. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  18. ^ “Card Captor Sakura - 1” (bằng tiếng Ý). Star Comics. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  19. ^ “Card Captor Sakura” (bằng tiếng Đức). Egmont Manga & Anime. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  20. ^ “Sakura Card Captors” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Editora JBC. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  21. ^ “01 Clamp” (bằng tiếng Trung Quốc). Ever Glory Publishing. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  22. ^ “Cardcaptor Sakura” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Glènat España. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  23. ^ “Sakura card captor” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Librosar. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  24. ^ “Sakura Card Captors” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Animexis. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  25. ^ “카드캡터 체리1” (bằng tiếng Triều Tiên). Seoul Publish. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
  26. ^ “การ์ดแค็ปเตอร์ซากุระ (12 end)” (bằng tiếng Thái). Plazacool. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
  27. ^ “Cardcaptor Sakura 1 (Komik Bekas)” (bằng tiếng Indonesia). Angelzon.com. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
  28. ^ “Cardcaptor 樱 (Vol.1)” (bằng tiếng Trung Quốc). Yesasia.com. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
  29. ^ “库洛魔法使 CARDCAPTOR SAKURA” (bằng tiếng Trung Quốc). Sáng Nghệ. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
  30. ^ “百变小樱魔术卡1” (bằng tiếng Trung Quốc). Amazon.cn. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
  31. ^ “これまでのストーリー” [The Story So Far] (bằng tiếng Nhật). Madhouse. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  32. ^ a ă “スタッフ&キャスト” [Staff & Cast] (bằng tiếng Nhật). NHK. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010. 
  33. ^ “カードキャプターさくら <新>「さくらと不思議な魔法の本」” [Cardcaptor Sakura (New) "Sakura and the Mysterious Magic Book"] (bằng tiếng Nhật). NHK. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2010. 
  34. ^ “カードキャプターさくら <終>「さくらのすてきなクリスマス」” [Cardcaptor Sakura (End) "Sakura's Wonderful Christmas"] (bằng tiếng Nhật). NHK. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2010. 
  35. ^ a ă “第2回 「最長のTVシリーズ作品は?」” [Round 2: What Are Your Longest TV Series?] (bằng tiếng Nhật). Madhouse. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2010. 
  36. ^ “カードキャプターさくら 「さくらと最後の審判」” [Cardcaptor Sakura "Sakura and the Final Judgment"] (bằng tiếng Nhật). NHK. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2010. 
  37. ^ “カードキャプターさくら 「さくらと不思議な転校生」” [Cardcaptor Sakura "Sakura and the Mysterious Transfer Student"] (bằng tiếng Nhật). NHK. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2010. 
  38. ^ “カードキャプターさくら <終> 「さくらと本当の想い」” [Cardcaptor Sakura (End) "Sakura and Her True Feelings"] (bằng tiếng Nhật). NHK. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2010. 
  39. ^ “カードキャプターさくら Vol.1 (VHS)” [Cardcaptor Sakura Vol. 1 (VHS)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010. 
  40. ^ “カードキャプターさくら18” [Cardcaptor Sakura 18] (bằng tiếng Nhật). Tsutaya. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010. 
  41. ^ “カードキャプターさくら Vol.1 (DVD)” [Cardcaptor Sakura Vol. 1 (DVD)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010. 
  42. ^ “カードキャプターさくら Vol.18 (DVD)” [Cardcaptor Sakura Vol. 18 (DVD)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010. 
  43. ^ Considine, J. D. (20 tháng 1 năm 2002). “Television/Radio; Making Anime A Little Safer For Americans” (bằng tiếng Anh). The New York Times. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010. 
  44. ^ Poitras, Gilles (2001). Anime Essentials: Every Thing a Fan Needs to Know (bằng tiếng Anh). Stone Bridge Press. tr. 27. ISBN 1-880656-53-1. 
  45. ^ a ă “Sailor Moon Explained, Plus Fushigi Yugi, Cardcaptors, More Pioneer Has Loads of Shojo” (bằng tiếng Anh). ICv2. 12 tháng 8 năm 2001. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2009. 
  46. ^ “Cardcaptors” (bằng tiếng Anh). MSN TV. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  47. ^ “Cardcaptors - 'Revelations' Episode Info” (bằng tiếng Anh). MSN TV. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  48. ^ a ă â b c Arnold, Adam. “Cardcaptors Vol.1: Tests of Courage” (bằng tiếng Anh). Animefringe. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  49. ^ “Thủ Lĩnh Thẻ Bài (30 phút x 35 tập)” (bằng tiếng Việt). HTV3. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
  50. ^ a ă “Cardcaptor Sakura (TV)” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2011. 
  51. ^ “Cardcaptors - Tests of Courage (Vol. 1) (VHS)”. Amazon.com. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  52. ^ “Cardcaptors - Tests of Courage (Vol. 1) (2000)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  53. ^ “Cardcaptors - Star Power (Vol. 9) (VHS)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  54. ^ “Cardcaptors: V.9 Star Power (ep.25-27)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  55. ^ “Cardcaptor Sakura - The Clow (Vol. 1)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  56. ^ “Cardcaptor Sakura - Revelations (Vol. 18)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  57. ^ “Cardcaptor Sakura - The Clow Volume 1 (VHS)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  58. ^ “Cardcaptor Sakura - Trust (Vol. 11) (VHS)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  59. ^ “劇場版カードキャプターさくら” [Cardcaptor Sakura: The Movie] (bằng tiếng Nhật). Madhouse. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  60. ^ “カードキャプターさくら【劇場版】 (VHS)” [Cardcaptor Sakura: The Movie (VHS)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  61. ^ “カードキャプターさくら【劇場版】 (DVD)” [Cardcaptor Sakura: The Movie (DVD)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  62. ^ “Cardcaptors - The Movie [VHS] (2000)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010. 
  63. ^ “Cardcaptor Sakura - The Movie (1999)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010. 
  64. ^ “劇場版カードキャプターさくら 封印されたカード” [Cardcaptor Sakura Movie 2: The Sealed Card] (bằng tiếng Nhật). Madhouse. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  65. ^ “Card Capture Sakura News” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. 17 tháng 4 năm 2000. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2011. 
  66. ^ “劇場版 カードキャプターさくら 封印されたカード (DVD)” [Cardcaptor Sakura Move 2: The Sealed Card (DVD)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  67. ^ “劇場版カードキャプターさくら 封印されたカード~ばっちしV (VHS)” [Cardcaptor Sakura Movie 2: The Sealed Card Batchishi V (VHS)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  68. ^ “Cardcaptor Sakura - The Movie 2 - The Sealed Card (Special Edition)” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  69. ^ “Cardcaptor Sakura Movie 2 Licensed, New Dub Cast” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. 18 tháng 6 năm 2003. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2009. 
  70. ^ “Geneon USA to Cancel DVD Sales, Distribution by Friday” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. 26 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  71. ^ “Cardcaptor Sakura: The Movie” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2011. 
  72. ^ “Cardcaptor Sakura Movie 2: The Sealed Card” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2011. 
  73. ^ “CDコミックカードキャプターさくら” [CD Comic Cardcaptor Sakura] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  74. ^ “さくらとお母さんのオルガン” [Sakura to Okaa-san no Orgen] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  75. ^ “Sweet Valentine Stories” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  76. ^ “オリジナルサウンドトラック” [Original Soundtrack] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  77. ^ “オリジナル・サウンドトラック4” [Original Soundtrack 4] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  78. ^ “オリジナル・サウンドトラック” [Original Soundtrack] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  79. ^ “オリジナル・サウンドトラック” [Original Soundtrack] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  80. ^ “Catch You Catch Me” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  81. ^ “扉をあけて” [Tobira o Akete] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  82. ^ “プラチナ” [Platinum] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  83. ^ “Groovy!” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  84. ^ “Honey” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  85. ^ “Fruits Candy” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  86. ^ “遠いこの街で” [Tōi Kono Machi de] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  87. ^ “明日へのメロディー” [Ashita e no Melody] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  88. ^ “おかしのうた” [Okashi no Uta] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  89. ^ “Character Single Sakura” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  90. ^ “Character Single Touya” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  91. ^ “Character Single Kero” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  92. ^ “Character Single Tomoyo” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  93. ^ “Character Single Yukito” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  94. ^ “Character Single Syaoran” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  95. ^ “Character Songbook” (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  96. ^ “カードキャプターさくら「友枝小学校コーラス部クリスマスコンサート」” [Cardcaptor Sakura Tomoeda Elementary Choir Club Christmas Concert] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  97. ^ “カードキャプターさくら 「コンプリート・ボーカル・コレクション」” [Cardcaptor Sakura Complete Vocal Collection] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  98. ^ “主題歌コレクション” [Theme Song Collection] (bằng tiếng Nhật). Victor Entertainment. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  99. ^ “Cardcaptors: Songs from the Hit TV Series” (bằng tiếng Anh). Amazon.com. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  100. ^ a ă â b “Card Captor Sakura: Itsumo Sakura-chan to Issho! for Game Boy Color” (bằng tiếng Anh). GameSpot. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  101. ^ a ă â b “カードキャプターさくら 「さくらちゃんとあそぼ!」” [Cardcaptor Sakura: Sakura-chan to Asobo!] (bằng tiếng Nhật). GameSpot. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  102. ^ “カードキャプターさくら さくらちゃんとあそぼ!” [Cardcaptor Sakura: Sakura-chan to Asobo!] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2010. 
  103. ^ a ă â b “ゲームカタログ:エム・ティー・オー株式会社” [Game Catalog: MTO.Co.,Ltd.] (bằng tiếng Nhật). MTO. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  104. ^ a ă â “Anime Chick Story 1: Card Captor Sakura for PlayStation” (bằng tiếng Anh). GameSpot. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  105. ^ a ă “アニメチックストーリーゲーム (1) カードキャプターさくら” [Animetic Story Game (1) Cardcaptor Sakura] (bằng tiếng Nhật). Arika. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  106. ^ a ă â “Card Captor Sakura: Sakura to Fushigi na Clow Cards for WonderSwan” (bằng tiếng Anh). GameSpot. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  107. ^ a ă â “Card Captor Sakura: Tomoyo no Video Daisakusen for Dreamcast” (bằng tiếng Anh). GameSpot. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  108. ^ a ă â “カードキャプターさくら クロウカードマジック” [Cardcaptor Sakura: Clow Card Magic] (bằng tiếng Nhật). Arika. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  109. ^ a ă â “Tetris with Card Captor Sakura: Eternal Heart for PlayStation” (bằng tiếng Anh). GameSpot. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  110. ^ a ă “TETRiS with カードキャプターさくら エターナルハート” [Tetris with Cardcaptor Sakura: Eternal Heart] (bằng tiếng Nhật). Arika. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  111. ^ a ă â “Card Captor Sakura: Tomoe Shougakkou Daiundoukai for Game Boy Color” (bằng tiếng Anh). GameSpot. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  112. ^ a ă â “Cardcaptor Sakura: Sakura Card de Mini Game” (bằng tiếng Anh). IGN. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  113. ^ a ă â “どんなゲーム?-カードキャプターさくら” [What Kind of Game?–Cardcaptor Sakura] (bằng tiếng Nhật). MTO. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  114. ^ “カードキャプターさくらイラスト集” [Cardcaptor Sakura Illustration Collection] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  115. ^ “カードキャプターさくらイラスト集 (3)” [Cardcaptor Sakura Illustration Collection (3)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  116. ^ “チェリオ!―テレビアニメーション カードキャプターさくらイラストコレクション” [Cheerio! TV Animation Cardcaptor Sakura Illustration Collection] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  117. ^ “アニメーションカードキャプターさくらイラストコレクションチェリオ! (3)” [Animation Cardcaptor Sakura Illustration Collection Cheerio! (3)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  118. ^ “カードキャプターさくらクロウカードセット” [Cardcaptor Sakura Clow Card Set] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  119. ^ “クロウカードフォーチュンブック―カードキャプターさくら” [Clow Card Fortune Book – Cardcaptor Sakura] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  120. ^ “カードキャプターさくらメモリアルブック” [Cardcaptor Sakura Memorial Book] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  121. ^ “テレビアニメーションカードキャプターさくらコンプリートブック (クロウカード編)” [TV Animation Cardcaptor Sakura Complete Book (Clow Card Arc)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  122. ^ “テレビアニメーションカードキャプターさくらコンプリートブック (2)” [TV Animation Cardcaptor Sakura Complete Book (2)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  123. ^ “劇場版カードキャプターさくらコンプリートブック” [Cardcaptor Sakura: The Movie Complete Book] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  124. ^ “劇場版カードキャプターさくら封印されたカード コンプリートブック” [Cardcaptor Sakura Movie 2: The Sealed Card Complete Book] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  125. ^ “カードキャプターさくら 1 (なかよしメディアブックス 51 アニメブックス)” [Cardcaptor Sakura 1 (Nakayoshi Media Books 51 Anime Books)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  126. ^ “カードキャプターさくら 10 (なかよしメディアブックス 60 アニメブックス)” [Cardcaptor Sakura 10 (Nakayoshi Media Books 60 Anime Books)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  127. ^ “カードキャプターさくら さくらカード編 1 (なかよしメディアブックス 61 テレビアニメシリーズ)” [Cardcaptor Sakura Sakura Card Arc 1 (Nakayoshi Media Books 61 TV Anime Series)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  128. ^ “カードキャプターさくら さくらカード編 3 (なかよしメディアブックス 64 テレビアニメシリーズ)” [Cardcaptor Sakura Sakura Card Arc (Nakayoshi Media Books 64 TV Anime Series)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  129. ^ “カードキャプターさくら 1 (講談社のテレビ絵本 1028)” [Cardcaptor Sakura 1 (Kodansha's TV Picture Book 1028)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  130. ^ “カードキャプターさくら 4 (講談社のテレビ絵本 1147)” [Cardcaptor Sakura 4 (Kodansha's TV Picture Book 1147)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  131. ^ “カードキャプターさくらシールあそびえほん” [Cardcaptor Sakura Seal Asobi Ehon] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  132. ^ “カードキャプターさくらシールあそびえほん 2004―さくらカードがいっぱい!” [Cardcaptor Sakura Seal Asobi Ehon 2004 – Sakura Card ga Ippai!] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  133. ^ Oshiguichi, Takashi (Tháng 12 năm 2008). “Anime Focus: On Cardcaptor Sakura”. Animerica (bằng tiếng Anh) (San Francisco, California: Viz Media) 8 (11): 70. ISSN 1067-0831. OCLC 27130932. 
  134. ^ “星雲賞リスト” [Seiun Award List] (bằng tiếng Nhật). Federation of the Science Fiction Fan Groups of Japan. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  135. ^ a ă Aoki, Deb. “2010 Comic-Con Best and Worst Manga Panel” (bằng tiếng Anh). About.com. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  136. ^ a ă Anderson, Lisa. “Cardcaptor Sakura v1” (bằng tiếng Anh). Manga Life. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  137. ^ a ă â Nguyen, Robert. “Cardcaptor Sakura Manga Vol. 1” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  138. ^ “第22回アニメグランプリ (2000年6月号)” [22nd Animage Grand Prix (June 2000 issue)] (bằng tiếng Nhật). Animage. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2009. 
  139. ^ “Japan's Top 10 Bestselling Anime”. Viz Media. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2001. 
  140. ^ Lew, Kevin; Carlos Ovalle, Winnie Chow (Tháng 12 năm 2000). “Animerica Spotlight: Cardcaptor Sakura”. Animerica (bằng tiếng Anh) (San Francisco, California: Viz Media) 8 (11): 15. ISSN 1067-0831. OCLC 27130932. 
  141. ^ Chow, Winnie (Tháng 3 năm 2001). “Anime Radar: News”. Animerica (bằng tiếng Anh) (San Francisco, California: Viz Media) 9 (2): 75. ISSN 1067-0831. OCLC 27130932. 
  142. ^ a ă “Cardcaptor Sakura DVD 18: Revelations” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. 21 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  143. ^ a ă Shepard, Chris. “Cardcaptor Sakura DVD 1 - The Clow” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  144. ^ Dong, Bamboo (1 tháng 1 năm 2003). “Cardcaptor Sakura DVD 11: Trust” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  145. ^ Beveridge, Chris (9 tháng 2 năm 2002). “Cardcaptor Sakura Vol. #01” (bằng tiếng Anh). Mania. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010. 
  146. ^ a ă â Godek, Jake L. “CardCaptors” (bằng tiếng Anh). THEM Anime. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  147. ^ “Taco Bell's Cardcaptor Promotion Runs through January 30” (bằng tiếng Anh). ICv2. 8 tháng 1 năm 2002. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2009. 
  148. ^ “Was Cardcaptors Promo Pulled Due to 'Occult' Complaints? Or Did It End on Schedule” (bằng tiếng Anh). ICv2. 5 tháng 2 năm 2002. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]