Savang Vatthana

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Savang Vatthana
Vua của Vương quốc Lào
Savang Vatthana.jpg
Tại vị 29 tháng 10, 1959–2 tháng 12, 1975
Tiền nhiệm Sisavang Vong
Kế nhiệm Pathet Lào lên nắm quyền năm 1975
Thông tin chung
Thê thiếp Vương hậu Khamphoui
Hậu duệ Thái tử Vong Savang
Vương tử Sauryavong Savang
Vương tử Sisavang Savang
Vương tử Savang
Công chúa Savivanh Savang
Công chúa Milena Savang
Công chúa Thala Savang
Hoàng tộc triều đại Khun Lo
Thân phụ Sisavang Vong
Thân mẫu Kham-Oun I
Sinh 13 tháng 11, 1907(1907-11-13)
Luang Phrabang, Lào
Mất 13 tháng 5, 1978 hay năm 1984
Sầm Nưa, Lào

Savang hay Sisavang Vatthana (tiếng Lào: ສີສະຫວ່າງວັດທະນາ), tên đầy đủ: Samdach Brhat Chao Mavattaha Sri Vitha Lan Xang Hom Khao Phra Rajanachakra Lao Parama Sidha Khattiya Suriya Varman Brhat Maha Sri Savangsa Vadhana) (13 tháng 11, 1907 − 13 tháng 5, 1978; hoặc năm 1984) là vị quốc vương cuối cùng của Vương quốc Lào. Ông bắt đầu cai trị vương quốc sau khi phụ thân qua đời vào năm 1959, và bị bắt buộc thoái vị vào năm 1975. Savang Vatthana đã không thể quản lý một đất nước có nền chính trị rối loạn. Sự cai trị của ông kết thúc với việc Pathet Lào tiếp quản chính quyền vào năm 1975, sau đó, ông và gia đình bị chính quyền mới đưa đến trại học tập cải tạo.

Ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Vương tử Savang Vatthana sinh vào ngày 13 tháng 11 năm 1907 tại Cung điện Vương gia Luang Prabang, ông là con trai của quốc vương Sisavang Vong và Vương hậu Kham-Oun I. Ông là người con thứ hai trong số 5 người con của Vương hậu, bốn người còn lại là Công chúa Sammathi, Vương tử Sayasack, Vương tử Souphantharangsri và Trưởng Công chúa Khampheng. Ông cũng là họ hàng xa của vương thân Souvanna Phouma và vương thân Souphanouvong. Năm 10 tuổi, Vương tử Savang được đưa sang Pháp học tập. Ông theo học trung học tại Montpellier, lấy bằng từ École Libre des Sciences Politiques tại Paris (nay gọi là Sciences Po), nơi đào tạo các nhà ngoại giao Pháp. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông tiếp tục theo học tại Pháp. Sau một thập niên, Savang Vatthana hồi quốc song ông không còn có thể nói được tiếng Lào, và đã được một công chức trong cung điện chỉ dẫn trong nhiều năm.

Ngày 7 tháng 8, 1930, ông kết hôn với Vương hậu Khamphoui và họ có với nhau 7 người con, Thái tử Vong Savang, Vương tử Sisavang Savang, Vương tử Savang, Vương tử Sauryavong Savang, Công chúa Savivanh Savang, Công chúa Milena Savang, và Công chúa Thala Savang. Giống như các gia đình vương gia Á châu khác vào thời đó, gia đình ông thường chơi quần vợt cùng nhau, và thích tham dự các giải đấu lớn trong những lần đi thăm quan nước ngoài. Ông cũng là một Phật tử thành kính và đã sử dụng vị thế của mình để bảo trợ cho tính nghiêm trang của quốc giáo.

Trong Thế chiến II, ông đại diện cho phụ thân tiếp xúc với các lực lượng Nhật Bản. Phụ thân cử ông đến trụ sở quân Nhật tại Sài Gòn, và tại đây ông đã phản đối mạnh mẽ các hành động của Nhật Bản khi họ xâm lược Lào và ép họ tuyến bố độc lập khỏi Pháp.

Vua Lào[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1951, ông trở thành Thủ tướng, và khi phụ thân lâm bệnh vào ngày 20 tháng 8, 1959, ông đã trở thành người nhiếp chính. Vào ngày 29 tháng 10, 1959, ông chính thức lên ngôi sau cái chết của phụ thân. Tuy nhiên, ông chưa từng chính thức được phong hiệu, lễ đăng quang của ông đã bị trì hoãn cho đến khi chấm dứt nội chiến. Trong thời gian trị vì, Savang Vatthana đã viếng thăm nhiều nước bang giao. Vào tháng 3 năm 1963, ông kinh lí thăm viếng 13 nước, bao gồm cả Hoa Kỳ, nơi ông dừng chân tại thủ đô Washington, D.C. để hội đàm với Tổng thống Kennedy. Đó điểm dừng chân thứ 2 trong chuyến công du 13 nước, ông đã ký kết Hiệp ước Genève và cam đoan "tính chất trung lập" của Vương quốc Lào. Điểm dừng chân đầu tiên là Moskva, và người Nga đã gửi tặng ông nhiều món quà, bao gồm cả xe hòm Chaika. Ông đi cùng với Thủ tướng của mình là Souvanna Phouma.

Ông tham gia vào chính trường Lào, cố gắng để ổn định đất nước của mình sau cuộc khủng hoảng chính trị bắt đầu từ Hiệp định Genève năm 1954, vốn công nhận hoàn toàn quyền độc lập của Lào song không giải quyết được vấn đề thế lực cai trị. Vương thân Souvanna Phouma, một người trung lập, hoạt động từ Vientiane, đã tuyên bố trở thành Thủ tướng và được Liên Xô công nhận; Vương thân Boun Oum của Champasak ở phía nam là một người cánh hữu, thân Hoa Kỳ, đã thống trị khu vực Pakse, được Hoa Kỳ công nhận là Thủ tướng; và ở cực bắc, Vương thân Souphanouvong dẫn đầu một phong trào kháng chiến cánh tả gọi là Pathet Lao, dưới sự hỗ trợ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cũng tuyên bố là Thủ tướng và được những người cộng sản ủng hộ. Để tránh tranh luận về việc Souvanna hay Boun Oum là Thủ tướng "hợp pháp", hai bên giải quyết thông qua vị vua thân phương Tây là Savang Vatthana.

Năm 1961, phần lớn các thành viên trong Quốc hội đã bầu chọn Boun Oum lên nắm quyền và Vua Savang Vatthana dời khỏi Luang Prabang, đến viếng thăm thủ đô để ban phúc cho chính phủ mới. Tuy nhiên, ông muốn ba vương thân thành lập một chính phủ liên hiệp, điều này đã xảy ra vào năm 1962 song chính phủ liên minh đã sụp đổ sau đó.

Năm 1964, hàng loạt vụ đảo chính đa dẫn đến việc Pathet Lào đối đầu với phe trung lập và cánh hữu. Từ thời điểm này, Pathet Lào từ chối tham gia bất kỳ đề nghị nào về chính phủ liên minh hay bầu cử quốc gia và Nội chiến Lào bắt đầu.

Thoái vị và mất[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 2 tháng 12 năm 1975, quốc vương bị buộc phải thoái vị sau khi Pathet Lào lên nắm quyền và ông sau đó được bổ nhiệm làm cố vấn tối cao cho chủ tịch nước. Ông từ chối đi sống lưu vong tại nước ngoài. Đến tháng 3 năm 1977, ông bị bắt cùng với Vương hậu Vong Savang, Vương tử Sisavang, và các huynh đệ là SouphantharangsriThongsouk. Ông bị đưa đến trại học tập cải tạo Sam-Neua tại Bắc Lào. Nơi này được gọi là "Trại số 1", nơi tập trung nhiều tù nhân chính trị quan trọng. Trong thời gian cựu vương ở trong trại, các thành viên vương tộc được phép di chuyển tự do trong ngày tại khu trại. Ông cũng là tù nhân cao tuổi nhất trong trại, với 70 tuổi trong những tháng đầu ở trại, trong khi độ tuổi trung bình tại đó là 55.[1]

Khoảng năm 1978, có ghi nhận rằng ông cùng với Vương hậu Khamphoui và Thái tử Vong Savang đã chết. Các mô tả chính xác hơn khẳng định ông mất vào giữa tháng 3 năm 1980. Khi tin tức về cái chết của Vua Savang Vatthana và Thái tử Vong Savang được đưa ra, người con trai út là Sauryavong Savang trở thành người đứng đầu vương tộc Lào, làm nhiếp chính cho cháu trai là Thái tử Soulivong Savang. Tuy nhiên, theo Kaysone Phomvihane, Vatthana mất năm 1984, ở tuổi 77.[2]

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Con của Savang Vatthana và Khumphoui:

Tên Sinh Mất Ghi chú
Thái tử Vong Savang 27 tháng 12, 1931 tháng 1, 1980 kết hôn với Mahneelai
Công chúa Savivanh Savang 1933 4 tháng 1, 2007 kết hôn với Mangkhala Manivong
Thala Savang 10 tháng 1, 1935 14 tháng 4, 2006 kết hôn với Sisouphanouvong Sisaleumsak
Vương tử Savang tháng 12, 1935 1978
Sauryavong Savang 22 tháng 1, 1937

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bamboo Palace, Kremmer. 2003, p. 1989. Truy cập 10 tháng 5, 2008.
  2. ^ Laos " Le roi est mort ", Le Monde. 16 tháng 12, 1989, p. 7. Truy cập 8 tháng 10, 2006.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Savang Vatthana
Sinh: 13 tháng 11 1907 Mất: 13 tháng 5 1984
Hiệu
Tiền vị:
Sisavang Vong
Quốc vương Lào
29 tháng 10, 1959 – 2 tháng 12, 1975
Chế độ phong kiến bị bãi bỏ
Chức vụ
Tiền vị:
Sisavang Vong
as Quốc vương Lào
Nguyên thủ quốc gia Lào
với vai trò Quốc vương Lào

29 tháng 10, 1959 – 2 tháng 12, 1975
Kế vị
Vương thân Souphanouvong
với vai trò Chủ tịch nước Lào
Tiền vị:
Phoui Sananikone
Thủ tướng Lào
15 tháng 10, 1951 – 21 tháng 11, 1951
Kế vị
Vương thân Souvanna Phouma
Tước hiệu thừa kế trên danh nghĩa
Chức vụ mới — DANH NGHĨA —
Quốc vương Lào
2 tháng 12, 1975 – 1984?
Kế vị
Vong Savang