Đảng Nhân dân Cách mạng Lào

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đảng Nhân dân Cách mạng Lào
ພັກປະຊາຊົນປະຕິວັດລາວ
Pug Pasason Patiwat Lao
Phắc Pa-xa-xôn Pa-ti-vắt Lào
Flag of LPRP.svg
Thành lập 1955
Tách ra từ Đảng Cộng sản Đông Dương
Trụ sở Viêng Chăn, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Tổ chức thanh niên Đoàn thanh niên Cách mạng Nhân dân Lào
Thành viên (1991) 60.000
Hệ tư tưởng/
vị thế chính trị
Chủ nghĩa cộng sản
Chủ nghĩa Mác-Lênin
Quốc kỳ Lào
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Emblem of Laos.svg

Chính trị và chính phủ
Lào





Các nước khác

Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (tiếng Lào: ພັກປະຊາຊົນປະຕິວັດລາວ, phiên âm: Phắc Pa-xa-xôn Pa-ti-vắt Lào) là đảng cộng sản của Lào. Kể từ năm 1975, đảng này đã là đảng duy nhất lãnh đạo đất nước Lào. Cơ quan hoạch định chính sách của tổ chức này là Bộ Chính trịBan Chấp hành Trung ương của đảng này. Các cuộc đại hội đảng được tổ chức 5 năm một lần. Đại hội đảng trước đây thường bầu ra Ban Bí thư nhưng cơ quan này đã bị bãi bỏ năm 1991.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đảng này có nguồn gốc từ Đảng Cộng sản Đông Dương do Hồ Chí Minh sáng lập năm 1930 (xem Đảng Cộng sản Việt Nam). Vào lúc đầu, Đảng Cộng sản Đông Dương hoàn toàn là người Việt nhưng đã phát triển khắp Đông Dương thuộc Pháp và đã có thể thành lập một "bộ phận Lào" nhỏ vào năm 1936. Giữa thập niên 1940, một chiến dịch thu nhận người vào tổ chức của đảng đã được triển khai vào năm 1946 hoặc 1947, Kaysone Phomvihane, một sinh viên luật khoa tại Viện Đại học Đông Dương (tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội hiện nay), đã được tuyển mộ cùng với Nouhak Phoumsavanh.

Tháng 2 năm 1951, Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương đã ra nghị quyết giải tán đảng và thành lập 3 đảng riêng biệt đại diện cho 3 quốc gia của Đông Dương. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Đông Dương là một tổ chức của Việt Nam và 3 đảng riêng biệt mới thành lập vẫn do người Việt chi phối dù cho ba tổ chức ở 3 quốc gia khác nhau. Một phong trào được gọi là Pathet Lào đã được thành lập và người Việt đã thuyết phục Hoàng thân Souphanouvong làm lãnh đạo tổ chức này. Về lý thuyết đây là một phong trào kháng chiến cộng sản chiến đấu sát cánh với Việt Minh chống lại Thực dân Pháp trong cuộc Chiến tranh Đông Dương thứ nhất. Tuy nhiên tổ chức này trên thực tế không bao giờ chiến đấu nhiều và nó được tổ chức như một tổ chức dự bị của Việt Minh. Ngày 22 tháng 3 năm 1955, tại Đại hội Đảng lần thứ nhất, Đảng Nhân dân Lào hoạt động bí mật đã được chính thức công bố. Đại hội đầu tiên có 25 đại biểu đại diện cho 300-400 đảng viên tham dự. Đại hội đảng đã được người Việt giám sát và tổ chức. Đảng Nhân dân Lào và kế nhiệm nó là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào tiếp tục tồn tại bí mật cho đến năm 1975 công khai chỉ đạo các hoạt động thông qua các mặt trận như Pathet Lào.

Năm 1956 một cánh chính trị của Pathet Lào, Mặt trận Yêu nước Lào (Neo Lao Hak Xat), đã được thành lập và tham gia vào nhiều chính phủ liên hiệp. Thập niên 1960, Pathet Lào do Việt Nam kiểm soát đã được giao nhiệm vụ ở các khu vực do Việt Nam chiếm giữ ở Lào. Pathet Lào đã tham gia trong cuộc chiến giữa những người ủng hộ Miền Bắc Việt Nam và các lực lượng phi chính quy Lào ủng hộ Hoa Kỳ. Tuy không bao giờ trực tiếp tự mình giành được thắng lợi, đảng này vẫn giành được quyền lực gián tiếp nhờ sự giúp đỡ của Việt Nam ở các vùng phía Đông và phía Bắc của Lào. Phathet Lào chưa bao giờ là một lực lượng quân sự mạnh trừ phi được ủng hộ trực tiếp của quân đội miền Bắc Việt Nam.

Tháng 2 năm 1972, tại Đại hội Đảng lần thứ 2, tên Đảng được đổi từ Đảng Nhân dân Lào sang Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.

Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII[sửa | sửa mã nguồn]

Bầu tháng 3 năm 2006, theo thứ tự:

  1. Choummaly Sayasone, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước
  2. Samane Vignaket, Chỉ đạo Công tác Tư tưởng, Lý luận và Văn hóa Trung ương
  3. Thongsing Thammavong, Chủ tịch Quốc hội
  4. Bounnhang Vorachith, Phó chủ tịch Lào, thường trực Ban bí thư
  5. Sisavath Keobounphanh,Chủ tịch Mặt trận xây dựng Tổ quốc
  6. Asang Laoly, phó thủ tướng, chủ tịch Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng
  7. Bouasone Bouphavanh, Thủ tướng
  8. Thongloun Sisoulith, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao, Trưởng ban Đối ngoại TW
  9. Douangchay Phichith, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng
  10. Somsavat Lengsavad, Phó thủ tướng thường trực
  11. Pany Yathotou, Phó Chủ tịch Quốc hội

Ban Bí thư[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Bounnhang Vorachith (thường trực)
  2. Asang Laoly
  3. Douangchay Phichith
  4. Bunthong Chitmani, Trưởng Ban tổ chức TW
  5. Sombat Yealyheu, Bí thư thành ủy Viên Chăn
  6. Thongbanh Sengaphone, Bộ trưởng An ninh

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]