Shimamiya Eiko

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Shimamiya Eiko
島みやえい子
Sinh 20 tháng 4
Nguyên quán Cờ của Nhật Bản Sapporo, Hokkaidō, Nhật Bản
Nghề nghiệp Ca sĩ, Nhạc sĩ
Thể loại J-pop, Trance, Techno, New Age
Năm 1998 – nay
Hãng đĩa Geneon Entertainment
Hợp tác I've Sound
Love Planet Five
Website SHIMAMIYAN CHANT
Shimamiya Eiko
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Shimamiya. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tên người Nhật hiện đại khi viết bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).

Shimamiya Eiko (Nhật: 島みやえい子 (Đảo Cung Vinh Tử)? sinh ngày 20 tháng 4, còn gọi là EIKO hay PEKO) là một nữ ca sĩ J-Pop và hiện là thành viên của ban nhạc I've Sound từ khi album đầu tay của họ được ra mắt. Cô nổi tiếng nhờ thực hiện thành công ca khúc chủ đề mở đầu của loạt anime Higurashi no Naku Koro ni. Eiko cũng tham gia giảng dạy trong một học viện âm nhạc mang tên Shimamiya Size (S-size) ở quê hương cô: Sapporo, Hokkaido, Nhật Bản. Shimamiya công bố vào ngày 10 tháng 5, 2010 qua Twitter rằng mình đã bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư tuyến giáp[1]. Tour diễn "Perfect World Live Tour" của cô, được dự kiến sẽ bắt đầu vào tháng 6, đã phải hủy bỏ ngay sau đó[2]. Tuy nhiên, căn bệnh của cô đã được chữa khỏi và buổi biểu diễn vẫn sẽ tổ chức vào ngày 13 tháng 5, 2011[3].

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Solo[sửa | sửa mã nguồn]

Maxi single[sửa | sửa mã nguồn]

# Thông tin đĩa đơn Doanh số
Đầu tay "Higurashi no Naku Koro ni"
  • Phát hành: 24 tháng 5, 2006
  • Từ album: O
  • Xếp hạng Oricon tốp 200: #18
  • Ca khúc chủ đề trong: Higurashi no Naku Koro ni
34.700
2 "Naraku no Hana" 34.300
3 "Wheel of Fortune (Unmei no Wa)" 7.800
4 "Chikai" 3.600
5 "Super Scription of Data" 3.900
6 "Paranoia"
  • Phát hành: 29 tháng 7, 2009
  • Xếp hạng Oricon tốp 200: #185
4.600

Album[sửa | sửa mã nguồn]

# Thông tin album Doanh số
Đầu tay O
  • Phát hành: 4 tháng 10, 2006
  • Xếp hạng Oricon tốp 200: #35
10.000
2 Hikari Nadeshiko
  • Phát hành: 2 tháng 4, 2008
  • Xếp hạng Oricon tốp 200: #27
7.300
3 Perfect World
  • Phát hành: 26 tháng 4, 2010
  • Xếp hạng Oricon tốp 200: #94
1.480

Đĩa đơn khác[sửa | sửa mã nguồn]

Takino no Mori[sửa | sửa mã nguồn]

(phát hành năm 2000)

  1. Takino no Mori
  2. Takino no Mori -phối khí-

Aoi Kajitsu[sửa | sửa mã nguồn]

(phát hành 1 tháng 1, 2003)

  1. Aoi Kajitsu
  2. Scarborough Fair
  3. Aoi Kajitsu -phối khí-

Atashi wa Melon[sửa | sửa mã nguồn]

(phát hành 25 tháng 10, 2003)

  1. Atashi wa Melon
  2. Kimi na no
  3. Atashi wa Melon -phối khí-
  4. Kimi na no -phối khí-

Yume no Rosen/Anata o Nosete[sửa | sửa mã nguồn]

(phát hành 1 tháng 12, 2004)

  1. Yume no Rosen
  2. Anata wo Nosete

EP[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát trong I've[sửa | sửa mã nguồn]

Với Regret (24 tháng 12, 1999):

  • Last regrets -X'mas floor style-.

Với Verge (17 tháng 7, 2000):

  • Dreamer (ca khúc mở đầu trong Senpai)
  • Now and heaven (trong Midara na Tsumi ~Etsuraku no Shuujitsu~ (淫らな罪 ~悦楽の終日~))
  • Hyouketsu no Yoru (氷結の夜) (ca khúc mở đầu trong Shin Ruri Iro no Yuki ~Furimukeba Tonari ni~)
  • Around the Mind (ca khúc mở đầu trong Mugen No Meikyuu II)
  • Garasu no Tsuki (ガラスの月) (ca khúc kết thúc trong Dawn Slave 2)
  • verge (trong Zetsubou PLUS)

Với Disintegration (26 tháng 6, 2002):

  • To Lose in Amber (ca khúc mở đầu trong 奴隷市場 (dorei ichiba))
  • Ouji yo ~Tsuki no Ura Kara~ (王子よ ~月の裏から~)

Với LamentOut Flow (5 tháng 9, 2003):

  • SNOW -Album mix- (ca khúc mở đầu remix trong SNOW)
  • Sora wo Mau Tsubasa -Album mix- (空を舞う翼)
  • Suna no Shiro -The Castle of Sand- (砂の城) (từ chương đầu tiên của 朱 (Aka))

Với Collective (30 tháng 9, 2005):

  • Automaton (ca khúc mở đầu trong Shin Setsu Ryouki no Ori (真説 猟奇の檻))

Với I've Sound 10th Anniversary 「Departed to the future」Special CD BOX (25 tháng 3, 2009):

  • Paranoia
  • To lose in amber -I'VE in BUDOKAN 2009 Live ver.-
  • Paranoia -instrumental-
  • Paranoia PV
  • 「Departed to the future」Chapter3:EIKO

I've Special Unit[sửa | sửa mã nguồn]

  1. "See You ~Chiisa na Eien~" (See You ~小さな永遠~) (P.V ver.) (phát hành 5 tháng 9, 2003)
  2. "Fair Heaven" (phát hành 30 tháng 7, 2005)
  3. "Tenjou wo Kakeru Monotachi (天壌を翔る者たち) (trình bày như Love Planet Five) (phát hành 4 tháng 4, 2007)

Healing Leaf (Shimamiya Eiko + Kawada Mami)[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Ame ni Utau Tanshikyoku (雨に歌う譚詩曲) (trong Ame ni Utau Tanshikyoku ~A rainbow after the rain~) (phát hành 1 tháng 2, 2002)
  2. Akikaze ni Kimi wo Omou (秋風に君を想ふ) (trong Hajirahi) (phát hành 20 tháng 9, 2002)
  3. Slow Step (trong Slow Step ~Hajimete no Ren'ai~)) (phát hành 24 tháng 12, 2004)

Kotoko & Shimamiya Eiko[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Otomegokoro+√Nekomimi=∞ (乙女心+√ネコミミ=∞) (trong Ouritsu Nekomimi Gakuen ~Anata no Tame no Hatsujouki~)

Bài hát khác[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ADSR (trong Silent Half)
  2. Amazing Grace (Eiko Shimamiya Live 2005 "ULYSSES")
  3. Aoao to (trong Green Plan)
  4. cover link (trong Rensa Byoutou)
  5. cross my heart (trong innocent world)
  6. Dreamer -Remix- (trong Senpai)
  7. Fortress (trong Deep Fantasy)
  8. Fuyuzora no Kiseki (trong Snow Drop)
  9. Juggernaut (trong ...SPLIT)
  10. Komoriuta (trong Shin ruri iro no yuki ~furimukeba tonari ni~)
  11. Michibikareshi Tamashii no Keifu (trong Maboroshi Rin no Hime Shōgun II ~Michibikareshi Tamashii no Keifu~)
  12. Pirouette (trong ONE and ONLY)
  13. PREY (opening theme trong Nightmare 4.1)
  14. Sad Vibration (trong doll~Utahime Vol.5 - Hibiki)
  15. sacred words (trong Sense Off)
  16. sensitive2001 (trong imouto mini FanDisc)
  17. Shiawase na Yoru (trong 「KYO→」(Koizumi Kyōko no ARUBAMU))
  18. Sora wo Mau Tsubasa (trong Blue-Sky-Blue ~Sora wo Mau Tsubasa~)
  19. Tooryanse (trong Tooryanse)
  20. Tooryanse (remix) (trong Tooryanse)
  21. Tsutaeyuku Uta (trong Minefukakise ni tayutau uta)
  22. Verge -Revive Mix- (trong C-LICK)
  23. Warawanai Musume (trong doll~Utahime Vol.5 - Hibiki)
  24. World My Eyes (trong diRTY GiFT)

Sản xuất đĩa CD[sửa | sửa mã nguồn]

Aoi Kajitsu/Uchuu no Hana/Flower in the Universe[sửa | sửa mã nguồn]

(phát hành 25 tháng 6, 2003, đĩa đơn của Tae)

  1. Aoi Kajitsu
  2. Uchuu no Hana
  3. Flower in the Universe

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Shimamiya Eiko (2010). “Shimamiya Eiko's Twitter Page” (bằng tiếng Nhật). Twitter. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2010. 
  2. ^ I've Sound (2010). “Eiko Shimamiya 2010 LIVE “Perfect World”公演中止のお知らせ” (bằng tiếng Nhật). Perfect World Official Website. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2010. 
  3. ^ “島みやえい子 アコースティックライブの開催が決定” (bằng tiếng Nhật). I've Sound. 2 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]