Tư lệnh Tuần duyên Hoa Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tư lệnh Tuần duyên Hoa Kỳ

Admiral Papp 2010.jpg

Đương nhiệm:
Robert J. Papp, Jr.
từ: 25 tháng 5, 2010
Người đầu tiên Ellsworth P. Bertholf
Thành lập 14 tháng 12, 1889
Website Trang web chính thức

USCG COMDT W.svg

Tư lệnh Tuần duyên Hoa Kỳ (Commandant of the United States Coast Guard) là một thành viên cao cấp nhất của Tuần duyên Hoa Kỳ. Chức vụ tư lệnh này thường là một đô đốc bốn sao duy nhất trong Tuần duyên Hoa Kỳ. Người này được Tổng thống Hoa Kỳ bổ nhiệm, phục vụ trong nhiệm kỳ bốn năm nhưng trước hết phải được sự chấp thuận của Thượng viện Hoa Kỳ. Tư lệnh Tuần duyên được hỗ trợ bởi một vị Tư lệnh phó, hai Trợ tá Tư lệnh/Tư lệnh vùng và một Tham mưu trưởng. Tất cả những người này có cấp bậc phó đô đốc ba sao.

Không như những đơn vị trưởng của các quân chủng khác trong Quân đội Hoa Kỳ, Tư lệnh Tuần duyên Hoa Kỳ không phải là thành viên của Bộ Tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ; Tuy nhiên người này được nhận lương phụ trội tương tự như các vị tham mưu trưởng trong Bộ Tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ theo Điều khoản 37 Bộ luật Hoa Kỳ, Mục § 414(a)(5) ($4.000 mỗi năm, dựa theo năm 2009), và được chấp thuận có quyền ưu tiên về chỗ ngồi, theo Qui định Thượng viện Hoa Kỳ số XXIII(1), với tư cách de facto là thành viên của Bộ tổng Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ trong suốt các buổi đọc diễn văn của Tổng thống Hoa Kỳ. Hơn thế nữa, các vị tham mưu trưởng các quân chủng không có quyền tư lệnh đối với quân chủng của mình nhưng Tư lệnh Tuần duyên Hoa Kỳ có quyền tư lệnh đối với quân chủng Tuần duyên. Vị tư lệnh này báo cáo với Tổng thống Hoa Kỳ qua Bộ trưởng Nội an Hoa Kỳ. Trước khi Bộ Nội an Hoa Kỳ được thành lập vào năm 2003, Tư lệnh Tuần duyên Hoa Kỳ nằm dưới quyền của Bộ trưởng Giao thông Hoa Kỳ từ năm 1966 đến 2003. Trước khi Bộ Giao thông Hoa Kỳ được thành lập vào năm 1966, Tư lệnh Tuần duyên nằm dưới quyền của Bộ trưởng Ngân khố Hoa Kỳ kể từ năm 1790.

Tiến hóa của cấp bậc và chức vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ Commandant hay Tư lệnh có từ năm 1923. Trước năm 1923, cấp bậc và chức vụ của người đứng đầu lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ là "captain-commandant" (thuyền trưởng-tư lệnh). Cấp bậc "captain-commandant" có nguồn gốc từ Sở Quan thuế Biển Hoa Kỳ năm 1908.[1] Người giữ chức vụ gốc của cấp bậc này là Trưởng Sở Quan thuế Biển Hoa Kỳ. Chức danh Commandant có nguồn gốc từ Thuyền trưởng Leonard G. Shepard,[1] trưởng Cục Quan thuế Biển Hoa Kỳ (Revenue Marine Bureau) mặc dù ông chưa bao giờ chính thức nhận chức vụ Captain-Commandant (Thuyền trưởng-Tư lệnh).[2] Vị trí Thuyền trưởng-Tư lệnh được lập năm 1908 khi Thuyền trưởng Worth G. Ross là người đầu tiên thực sự giữ vị trí này.[3] Mặc dù ông đã về hưu nhưng Thuyền trưởng Charles F. Shoemaker được thăng lên cấp bậc Captain-Commandant.[4] Thuyền trưởng Shepard lúc đó đã mất và chưa được thăng lên cấp bậc này.

Các đơn vị trưởng của Cục Quan thuế Biển Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Các đơn vị trưởng hành xử tập quyền kiểm soát đối với Cục Quan thuế Biển.

  • Thuyền trưởng Alexander V. Fraser, 1843–1848
  • Thuyền trưởng Richard Evans, 1848–1849

Năm 1849, Cục Quan thuế Biển bị giải thể, và Quan thuế Biển rơi vào vòng kiển soát của Ủy viên Quan thuế cho đến khi Cục Quan thuế Biển Hoa Kỳ được thành lập lại vào năm 1869.

  • N. Broughton Devereux, 1869–1871
  • Ezra Clark, 1878–1885
  • Peter Bonnett, 1885–1889

Các tư lệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sở Quan thuế Biển Hoa Kỳ

1. Thuyền trưởng Leonard G. Shepard (1889–1895)

2. Thuyền trưởng Charles F. Shoemaker (1895–1905) (thăng khi về hưu lên Thuyền trưởng-Tư lệnh vào năm 1908)

3. Thuyền trưởng-Tư lệnh Worth G. Ross (1905–1911) (thăng khi tại chức lên Thuyền trưởng-Tư lệnh vào năm 1908)

4. Thuyền trưởng-Tư lệnh Ellsworth P. Bertholf (1911–1915)

Tuần duyên Hoa Kỳ

5. Chuẩn đô đốc William E. Reynolds (1919–1924)[6]

6. Chuẩn đô đốc Frederick C. Billard (1924–1932)

7. Chuẩn đô đốc Harry G. Hamlet (1932–1936)

8. Đô đốc Russell R. Waesche (1936–1946)[7]

9. Đô đốc Joseph F. Farley (1946–1949)

10. Phó đô đốc Merlin O'Neill (1949–1954)

11. Đô đốc Alfred C. Richmond (1954–1962)[8]

12. Đô đốc Edwin J. Roland (1962–1966)

13. Đô đốc Willard J. Smith (1966–1970)

14. Đô đốc Chester R. Bender (1970–1974)

15. Đô đốc Owen W. Siler (1974–1978)

16. Đô đốc John B. Hayes (1978–1982)

17. Đô đốc James S. Gracey (1982–1986)

18. Đô đốc Paul A. Yost, Jr. (1986–1990)

19. Đô đốc J. William Kime (1990–1994)

20. Đô đốc Robert E. Kramek (1994–1998)

21. Đô đốc James Loy (1998–2002)

22. Đô đốc Thomas H. Collins (2002–2006)

23. Đô đốc Thad W. Allen (2006–2010)

24. Đô đốc Robert J. Papp, Jr. (2010–nay)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Commandants of the U.S. Coast Guard & Chiefs of the Revenue Marine Division
  2. ^ Who were the Commandants of the Coast Guard?, U.S. Coast Guard Office of Historian FAQs
  3. ^ Capt. Ross's biography at the U.S. Coast Guard website
  4. ^ Capt. Shoemaker's biography at the U.S. Coast Guard website
  5. ^ Bertholf được tái bổ nhiệm là Tư lệnh sau khi Sở Quan thuế Biển Hoa Kỳ bị sát nhập vào Tuần duyên Hoa Kỳ mới được thành lập
  6. ^ “Commandants of the U.S. Coast Guard & Chiefs of the Revenue Marine Division”. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2009. “1919-1924 Rear Admiral William F. Reynolds, first Captain- and later Rear Admiral-Commandant. Re-appointed Commandant on January 12, 1923 with rank of Rear Admiral effective October 2, 1923. He was the first officer to attain this rank.” 
  7. ^ He was appointed Commandant with the rank of Rear Admiral on June 14, 1936. [1]
  8. ^ Appointed as a Vice Admiral; Received his fourth star on June 1, 1960 by act of Public Law 86-474, under which all Coast Guard Commandants thereafter are appointed to the grade of Admiral.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]