Thái Ngạc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thái Ngạc
GeneralQaoAoCampañaDeYunnan.jpg
Tướng Thái Ngạc
Chức vụ
Đốc quân Vân Nam
Nhiệm kỳ 1911 – 1913, 1916
Kế nhiệm Đường Kế Nghiêu
Thông tin chung
Đảng Đồng minh hội
Sinh 19 tháng 12, 1882(1882-12-19)
China Qing Dynasty Flag 1889.svg Thiệu Dương, Hồ Nam
Mất 8 tháng 11, 1916 (33 tuổi)
Cờ của Nhật Bản Fukuoka, Kyūshū, Đế quốc Nhật Bản
Học trường Thời Vụ Học đường
Tokyo Zhengwu College
Học viên Lục quân Đế quốc Nhật

Thái Ngạc (giản thể: 蔡锷; phồn thể: 蔡鍔; bính âm: Cài È; Wade–Giles: Ts'ai O; 18 tháng 12, 1882 – 8 tháng 11, 1916) là một lãnh tụ cách mạng và quân phiệt Trung Hoa. Ông vốn tên là Thái Cấn Dần (蔡艮寅 Cài Gěnyín), tự Tùng Pha (松坡 Sōngpō), sinh tại Thiệu Dương, Hồ Nam. Thái trở thành một quân phiệt thế lực tại Vân Nam, và nổi tiếng với vai trò thủ lĩnh lực lượng chống lại mưu đồ đế chế của Viên Thế Khải.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp buổi đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Thái theo học tại Thời Vụ Học đường nổi tiếng theo khuynh hướng tiến bộ, học với Lương Khải SiêuĐường Tài Thường, và sang Nhật Bản du học năm 1899. Thái trở về Trung Hoa năm 1900, khi mới 18 tuổi, và dự định tham gia một cuộc khởi nghĩa phản Thanh, do Đường Tài Thường lãnh đạo. Khi khởi nghĩa thất bại, Thái quay lại Nhật Bản. Thái sau đó gia nhập Đồng minh hội, một tổ chức cách mạng Trung Hoa.[1]

Thái trở lại Vân Nam không lâu sau khi Cách mạng Tân Hợi bắt đầu ngày 10 tháng 10, 1911. Chỉ huy Lữ đoàn 37, Thái chiếm được Vân Nam. Sau cách mạng, Thái trở thành Tham mưu trưởng Chính phủ quân sự Vân Nam.[2]

Thái Ngạc là Đốc quân Vân Nam từ năm 1911-1913.[3] Sau cách mạng, Thái nổi tiếng là người ủng hộ mạnh mẽ cho dân chủ và cho chính trị gia Quốc dân đảng Tống Giáo Nhân. Sau khi Tống bị Viên Thế Khải ám sát, và Viên trở thành Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc, Viên cách chức Thái, rồi giam lỏng ông tại gia ở Bắc Kinh.[2] Đường Kế Nghiêu thay Thái làm Đốc quân Vân Nam năm 1913.[4]

Chống Viên Thế Khải[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1915, Viên Thế Khải công bố kế hoạch khôi phục đế chế. Sau khi biết tin, Thái trốn thoát ngày 11 tháng 11, đầu tiên sang Nhật, rồi về Vân Nam.[2] Sau khi trở lại Vân Nam, Thái thành lập quân Hộ quốc để chống Viên và bảo vệ Dân Quốc.[5]

Ngày 12 thang 12, Viên chỉnh thức "chấp thuận" những lời "khuyến tiến", lên ngôi Hoàng đế. Cả Trung Hoa phản đối dữ dội. Ngày 23 tháng 12, Thái gửi điện báo tới Bắc Kinh, dọa tuyên bố độc lập nếu Viên không từ bỏ kế hoạch trong 2 ngày. Khi Viên từ chối, Thái tuyên bố độc lập ngày 25 tháng 12, và chuẩn bị tấn công Tứ Xuyên. Đốc quân Quý Châu theo gương Thái, tuyên bố độc lập ngày 27 tháng 12. Viên tự phong Hoàng đế ngày 1 tháng 1, 1916, và Thái chiếm được Tứ Xuyên không lâu sau đó.[5]

Viên phái 2 viên tướng giỏi nhất từ phương Bắc xuống đánh Thái; nhưng, dù chiến ưu thế về quân số, các tướng của Viên lại không thắng được hoặc không muốn đánh nhau với Thái. Khi quân của Thái sắp thắng lợi, hàng loạt các tỉnh theo Thái phản Viên. Tháng 3, Quảng TâySơn Đông tuyên bố độc lập, tháng 4, Quảng ĐôngChiết Giang tuyên bố độc lập, và Sơn Tây, Tứ XuyênHồ Nam tuyên bố độc lập vào tháng 5. Được sự ủng hộ của nhiều tỉnh, phe cách mạng thành công buộc Viên thoái vị ngày 20 tháng 3, 1916.[5]

Sau khi Viên chết, ngày 6 tháng 6, 1916, Thái trở thành Đại soái và Đốc quân Tứ Xuyên. Thái sau đó cùng năm sang Nhật chữa bệnh, nhưng chết không lâu sau khi tới Nhật. Không có một chính phủ trung ương vững mạnh và quyền lực các tỉnh rơi vào tay các đốc quân, Trung Hoa chìm trong hỗn chiến quân phiệt.

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều quân phiệt dưới quyền Viên Thế Khải không ủng hộ mưu đồ xưng đế của Viên, và Thái Ngạc là một trong những lãnh tụ có công buộc Viên thoái vị. Ông trở thành cảm hứng cho Chu Đức, về sau trở thành Nguyên soái Hồng quân, người sáng lập Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tháng 10 năm 2009, TVB công chiếu bộ phim về Thái Ngạc và Tiểu Phụng Tiên

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nhạc Lộc viện
  2. ^ a b c Schemmel
  3. ^ J. C. S. Hall (1976). The Yunnan provincial faction, 1927-1937. Dept. of Far Eastern History, Australian National University : distributed by Australian National University Press, 1976. tr. 69. ISBN 0909524122. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2010. 
  4. ^ Сергей Леонидович Тихвинский (1983). Модерн хисторий оф Чина. Progress Publishers. tr. 624. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2010. 
  5. ^ a b c Beck "Yuan Shikai's Presidency 1912-16"

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]