Thông bối quyền

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thông bối quyền (chữ Hán: 通背拳, bính âm: Tongbeiquan, dịch nghĩa tiếng Anh Back-through Boxing hay Arm-through Chuan) là một bộ môn quyền thuật của võ thuật Trung Hoa. Bài viết đề cập các lưu phái này với các tên gọi khác nhau.

Nguồn gốc và danh xưng[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Thông bối quyền ra đời tại Trung Quốc khá sớm, tương truyền từ thời nhà Tống dưới triều của Tống Thái tổ Triệu Khuông Dẫn đã có vị danh tướng là Hàn Thông Hựu rất giỏi kỹ kích của Thông Bối quyền và tiếng tăm khắp dải Hà Bắc.

Sau này các môn đồ Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam đã tích hợp và cải biến theo phong cách Thiếu Lâm quyền và gọi tên là Thông tý quyền gồm hai quyền lộ: Tiểu Thông Tý quyềnĐại Thông Tý quyền có nội dung kỹ pháp hoàn toàn khác biệt với Thông bối quyền lưu truyền trong dân gian.

Ý nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt ý nghĩa của quyền "Thông bối" trong Thông bối quyền thì bốilưngtay đều bao hàm cùng nghĩa, lấy sự thông suốt giữa tay và lưng làm chủ tựa như không có nguyên tắc khác nhau. Thông bối quyền phần lớn nhấn mạnh và lấy lưng vượn (viên bối) hay tay vượn (viên tý) để thủ thế nên xưa còn gọi là "Thông bối viên hầu" (suốt lưng khỉ vượn), "Bạch viên Thông tý" (Vượn trắng suốt tay).

Theo Viện Nghiên cứu Võ thuật Trung Quốc thống nhất tên gọi là Thông bối quyền bao gồm sự kết hợp Thông bối quyền trong dân gian và Thông tý quyền của Thiếu Lâm quyền. Do đó Thông tý quyền của chùa Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam (với hai bài Tiểu Thông tý quyềnĐại Thông tý quyền) có nội dung không giống hoàn toàn Thông bối quyền của viện và Thông bối quyền đang lưu truyền trong dân gian.

Thông bối quyền lưu truyền khá rộng, lưu phái cũng lắm. Từ Bạch Viên Thông bối ra, còn Ngũ Hành Thông bối, Lục hợp Thông bối, Phách quải Thông bối, Lưỡng Dực (hai cánh) Thông bối, Thông bối 24 thức v.v... Lưu truyền tương đối sớm nhất ở Sơn Tây là Hồng Động Thông bối cũng là một lưu phái thuộc hệ thống Thông bối quyền.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Về tên gọi thì có 3 cách gọi tên :

  1. Thông tý quyền: là tay. Gọi là vì ám chỉ việc sử dụng cánh tay là chính, các động tác thủ pháp (đòn tay) thường chuyển động theo vòng tròn theo hai bên hông trông như tay vượn vươn ra ngoài.
  2. Thông bối quyền: bốibối tích tức chỉ vùng lưng. Gọi là bối bao hàm ý nghĩa là tay quyền phải liên thông và phát kình lực từ lưng, tay và lưng thông nhau một dải khi xuất thủ tấn công để có thể vươn dài ra đến cự ly xa.
  3. Thông bị quyền: bị tức là chuẩn bị. Gọi là bịhình ý thông thần đạt hóa, giữa thể (phần bài tập) và dụng (phần thực hành) kiêm bị đầy đủ.

Ba cách gọi này tam hành cùng tồn tại cho đến năm 1983 trong phiên bản mới nhất của tài liệu Trung Quốc Đại Bách khoa Toàn thư đã thống nhất tên gọi Thông Bối quyền vì tên gọi này thể hiện hết nội dung phong cách, đặc điểm của nó là kình lực liên thông một dải eo lưng và tay. Trong dân gian có nhiều tên gọi khác nhau cùng tồn tại tùy theo đặc điểm phong cách từng vùng.

Ở Trung Quốc ba vùng Đại Liên, Thương ChâuBắc Kinh thịnh hành Ngũ Hành Thông Bối quyềnBạch Viên Thông Bối quyền.

Đặc điểm kỹ pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Thông Bối quyền thuộc loại quyền pháp trường kích (đánh trường trận, tầm xa) điển hình nhất trong tất cả các loại quyền pháp thuộc miền Bắc Trung Hoa, chú trọng tầm xa đánh rộng, chủ về tấn công cự ly xa dựa trên nguyên tắc nhất thốn trường, nhất thốn cường nghĩa là dài thêm một tấc, mạnh thêm một tấc trong các môn phái võ Trung Hoa lên đến đỉnh cao nhất.

Trong vấn đề khống chế khoảng cách và không gian chiến đấu, đấu pháp sở trường của Thông Bối quyền là viễn tắc trường kích, cận tắc lãnh trừu nghĩa là xa thì đánh dài, gần thì rút ngắn, có thể phóng có thể thâu, có thể dài có thể ngắn.

Thông Bối quyền lưu hành đến nay đã hình thành nên rất nhiều lưu phái phong cách đa dạng, nội dung kỹ pháp phong phú, quyền thuật và khí giới đều hoàn chỉnh trên nguyên tắc phóng trường kích viễn nghĩa là di chuyển dài và đánh tầm xa.

Đặc điểm kỹ pháp của thông bối quyền là: thế thức động tác mở rộng khép lớn, liên hoàn dày đặc, vươn hông hất lưng (yêu bạt bối), phóng dài đánh xa, lắc bả vai rung cổ tay, phát kình lãnh đạm, đánh đòn nhanh nhẹn âm thanh vang lừng, né tránh linh hoạt, bộ pháp khép chân, mắt ưng thần vượn, khí thế hoàn chỉnh.

Các lưu phái chủ yếu là: Bạch Viên Thông bối quyền, Kỳ Thị Thông bối quyền, Ngũ Hành Thông bối quyền, Lưỡng Dực Thông bối quyền, Hồng Động Thông bối quyền, Ngũ Hầu (5 khỉ) Thông bối quyền, ngoài ra còn có Hoạt Diệp Thông bối quyền, Phách quải Thông bối quyền, Thái Cực Thông bối quyền,v.v...

Quá trình phát triển của Thông bối quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Thông Bối quyền là một môn võ xuất xứ từ chốn dân gian ở miền Bắc Trung Hoa và ban đầu không phải của Thiếu Lâm, đây là môn võ thuần chủng nội địa được sản xuất tại Trung Hoa đại lục (made in China), nhưng lại không được người đời sau xếp vào Nội gia quyền thì mới biết là sự phân chia võ phái Nội giaNgoại gia là không có cơ sở thống nhất rõ ràng mà do quan điểm và ý thích cá nhân.

Sự phát triển của Thông Bối quyền do vậy cũng lưu hành trong dân gian, không hề có sự tham gia của các võ quan trong chốn quan trường như một số môn võ khác (chẳng hạn Phiên tử quyền, Ưng trảo quyềnHình Ý Linh Thú quyền của Nhạc Phi, một danh tướng thời Nam Tống hay như Yến Thanh quyềnBát quái chưởng cũng đã từng lưu lạc trong chốn quan viên).

Trường võ thuật dạy Thông Bối quyền đầu tiên là Trung Ương Quốc Thuật Quán thành lập tại Nam Kinh năm 1928 bởi Tưởng Giới Thạch sau vụ các thuộc hạ của ông ta phóng hỏa đốt chùa Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam [1]. Người chủ nhiệm chương trình này là Thượng tướng lục quân Trương Chi Giang dưới thời Trung Hoa Dân Quốc, từ đó võ thuật Trung Quốc mới được vinh danh là Quốc thuật. Sự thành lập tổ chức này đã đẩy phong trào luyện võ lên cao chưa từng thấy trong lịch sử võ thuật Trung Hoa và kéo dài cho đến thời kỳ sau này của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa do Đảng Cộng Sản Trung Quốc lãnh đạo.

Trong thời kỳ hưng thịnh của Trung Ương Quốc Thuật Quán, cơn sốt võ thuật lan rộng khắp Trung Hoa, nhiều cuộc khảo thí các bộ môn quyền thuật được tổ chức khắp nơi, Thông bối quyền và các môn quyền thuật khác cũng được phát triển mạnh trong thời kỳ này. Danh gia Tu Kiếm Si người tỉnh Hà Nam được mời làm trọng tài Quốc thuật năm 1933, ông vừa làm trọng tài vừa truyền thụ Thông bối quyền nhiều năm làm cho Thông bối quyền trở nên phát triển rộng ra sau này.

Sau khi nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa được thành lập (1949), võ thuật (Wushu) được Đảng Cộng Sản Trung Quốc và nhà nước coi trọng và xem là tài sản văn hóa của quốc gia, các chương trình huấn luyện và tổ chức thi đấu được đưa vào phạm vi chương trình giáo dục thể thao toàn quốc. Thông bối quyền chính thức được đưa vào nội dung thi đấu các bộ môn quyền thuật truyền thống.

Năm 1977 Thông bối quyền được đưa vào mục thi đấu võ thuật truyền thống toàn quốc. Năm 1980, võ thuật được phân loại thành các nhóm bộ môn quyền thuật và xếp theo mục tổ chức thi đấu theo loại nhóm quyền, có hai nhóm được phân chia ra theo truyền thống võ thuật Trung Hoa cổ điển: Trường quyền gồm các môn quyền của miền Bắc và Nam quyền gồm các môn quyền của miền Nam. Thông bối quyền, Phách quải quyền, và Phiên tử quyền có phong cách giống nhau nên được phân loại vào mục thi đấu thứ hai (thi đấu theo nhóm quyền), động tác được chỉnh lý qui phạm hóa theo qui định của Qui tắc thi đấu võ thuật của Ủy ban Thể dục Thể thao Toàn quốc.

Từ năm 1980 trở đi, Thông bối quyền được phát triển theo hai hướng: một là xuất phát từ võ thuật truyền thống được phát triển và lưu truyền trong dân gian, hai là phát triển theo hướng nâng cao hiệu suất biểu diễn nghệ thuật để tạo ấn tượng trong thi đấu bài quyền chính thức, tức là các Sáo lộ (Taolu), hai hướng này dần dà xa cách nhau về ý thức chủ đạo, kết cấu bài quyền và kỹ thuật, cũng như mục đích huấn luyện. Hiện tượng này không chỉ xảy ra đối với Thông bối quyền mà ở tất cả các bộ môn quyền thuật khác.

Các lưu phái Thông bối quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Thông Bối quyền có rất nhiều lưu phái lưu truyền khắp vùng Hà Bắc Trung Hoa. Sau đây là một số lưu phái đang thịnh hành nhất.

Bạch Viên Thông bối quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Tương truyền rằng Bạch Viên Thông bối quyền là do Bạch Viên Công truyền dạy từ thời Chiến Quốc cách đây hơn 2000 năm trước.

Các truyền nhân sau này đều suy tôn Bạch Viên Công là thủy tổ của môn quyền này. Bạch Viên Công họ Bạch, tên là Sĩ Khấu, tự là Y Tam, đạo hiệu là Đông Linh Tử.

Bạch Viên Công đã mô phỏng các động tác duỗi tay duỗi chân của loài vượn núi rồi căn cứ theo đó sáng lập nên môn quyền này. Sau khi luyện thành, Bạch Viên Công truyền lại cho ba môn đồ là Lý Nghĩa, Vương Đạo, và Hàn Thành. Từ đó Bạch Viên Thông bối quyền được lưu truyền rộng rãi từ thời nhà Tùy. Sau này có người họ Nhâm ở huyện Hoàng thuộc tỉnh Sơn Đông truyền thụ môn quyền pháp này cho một thương khách tên là Thạch Hồng Thắng ở gần Tăng Thọ, Quảng An Môn, Bắc Kinh.

Thạch Hồng Thắng đã chuyên tâm khổ luyện Bạch Viên Thông bối quyền. Sau khi thành công ông mở trường dạy võ và có nhiều môn sinh theo học rất đông. Trong số những người học trò thành danh có Lưu Tử Anh, Hạng Trọng Sơn, Trương Văn Thành, Hàn Động Nhất, Mã Tiểu Hợp.

Bắc Kinh, Ngưu Nhai, môn quyền này rất được người Hồi ưa chuộng và thịnh hành, họ dung hợp môn này với môn vật của họ thành môn vừa đánh quyền cước vừa pha vật lộn.

Bạch Viên Thông bối quyền xuất thủ chiêu thức trường kình mạnh mẽ và linh lợi như vượn, chú trọng giao đấu thực chiến.

Kỳ Thị Thông bối quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Kỳ Thị Thông bối quyền bắt đầu truyền từ thời Đạo Quang nhà Thanh do Kỳ Tín truyền dạy.

Kỳ Tín là người tỉnh Chiết Giang, có thuyết cho rằng ông là người Sơn Tây hay Hà Nam, sáng lập ra Kỳ Gia môn. Kỳ Tín mở trường dạy võ ở Cố An, Hà Bắc.

Kỳ gia Thông bối quyền chủ về cương kình, đánh dài và xa rộng, phong cách mạnh mẽ dữ dội. Về sau con của Kỳ Tín là Kỳ Thái Xương cũng luyện Kỳ gia Thông bối quyền nhưng lại chủ về nhu kình, động tác mềm mại, biến hóa đa dạng. Do đó Kỳ gia Thông bối quyền sau này chia làm hai lưu phái: Kỳ gia Lão phái và Kỳ gia Thiếu phái. Môn đồ của Kỳ gia môn rất đông. Thông bối quyền Kỳ gia hiện đại có Trương Sách, Lưu Trí, Tu Kiếm Si đều là những truyền nhân rất thành công và nổi tiếng.

Ngũ Hành Thông bối quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Ngũ Hành Thông bối quyền dựa trên cơ sở của Kỳ Thị Thông bối quyền.

Ngũ Hành Thông bối quyền đặt nền tảng trên loại chưởng pháp là suất, phách, xuyên, niêm làm thủ pháp cơ bản, lấy Lão Chiết quyền Minh Đường công, Ngũ Chưởng Đơn Tháo làm khung đỡ.

Danh gia phát triển Ngũ Hành Thông bối quyền là Tu Kiếm Si, truyền nhân của Kỳ Thị Thông bối quyền, đã cùng các môn đồ của mình cải tiến không ngừng và dần dần đã hoàn thiện Ngũ Hành Thông bối quyền thành môn quyền có nội dung kỹ thuật phong phú và một nền tảng lý luận rõ ràng.

Ngũ Hành Thông bối quyền phát triển mạnh ở Đại Liên vùng Đông Bắc là quê hương của Tu Kiếm Si.

Lưỡng Dực Thông bối quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Lưỡng Dực Thông bối quyền do Lưu Nghĩa, người tỉnh Sơn Đông truyền bá. Lưu Nghĩa từng tham gia cuộc khởi nghĩa nông dân của Tống Cảnh Thi, sau khi khởi nghĩa thất bại, ông đã lưu lạc đến vùng huyện Dực, tỉnh Hà Bắc.

Lưu Nghĩa truyền Lưỡng Dực Thông bối quyền cho Trương Lão Tùy và Trương Chí Lễ, hai người lại truyền ra thành hai nhánh, nhánh của Trương Lão Tùy phát triển mạnh ở vùng Nhâm Khâu, nhánh của Trương Chí Lễ lưu truyền rộng ở vùng Đại Hưng.

Lưỡng Dực Thông bối quyền sau này còn có tên gọi khác là Lưỡng Hy Viên quyền.

Về kỹ thuật môn này chú trọng tấn công trước (Tiên hạ thủ vi cường) làm chiến đấu pháp. Thủ pháp thường vận động sang hai phía bên hông thành vòng tròn giống như hai cánh chim đang bay, cho nên gọi là Lưỡng Dực (hai cánh).

Đặc điểm của môn quyền này là bộ hình thay đổi theo thân hình, hai cánh tay vận động không ngừng niêm, chuyển, vặn, trở, lật, xung triển tung hoành, chiêu nối chiêu, thức nối thức, thế quyền liên tiếp châu sa. Quyền thuật có bài Thập Nhị Liên quyền là bài quyền mang tính tiêu biểu nhất.

Hồng Động Thông bối quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng Động Thông bối quyền còn có tên gọi là Thái Cực Thông bối quyền.

Môn quyền thuật này tương truyền vào thời nhà Thanh do Quách Vĩnh Phước người tỉnh Hà Nam truyền dạy. Quách Vĩnh Phước vốn làm nghề Tiêu sư (Bảo tiêu) đi khắp vùng nam bắc. Sau này phạm tội ngộ sát bị quan phủ tầm nã phải trốn từ Hà Nam đến Hồng Động tỉnh Sơn Tây. Tại trấn Tô Bảo, quan phủ là Lưu Bỉnh Điềm thấy ông thân thủ bất phàm nên yêu mến tài năng dùng ngân lượng (vàng) đích thân mời ông đến Thiên Quan Phủ dạy võ.

Quách Vĩnh Phước đã đào tạo được những cao đồ như Giá Hoài Bích, Trương Tú Đồ.

Hồng Động Thông bối quyền có 108 thức, đặc điểm kỹ pháp là: tay bám đối phương, tùy cơ ứng biến mà trói buộc, lách người luồn sâu nhập nội mau lẹ khéo léo.

Hồng Động Thông bối quyền phổ và Trần Thức Thái Cực quyền phổ có nhiều chỗ giống nhau đáng kinh ngạc nên có thuyết cho rằng Hồng Động Thông bối quyền chính là Trần Thức Thái Cực quyền phổ đã sớm thất truyền nên cần khảo chứng lại.

Ngũ Hầu Thông bối quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Ngũ Hầu Thông bối quyền do danh thủ Trương Sách truyền lại.

Ngũ Hầu Thông bối quyền mô phỏng theo động thái của 5 loại khỉ (hầu hình quyền) hợp thành gồm: thạch hầu, mã hầu, di hầu, viên hầu, trường tý hầu, mỗi loại hầu đều phân ra các thủ pháp như niêm, xuyên, phách, suất, về kình lực lấy lãnh đạn kình làm chủ phóng xa bật nhanh. Có thập tự quyết ca như sau:

Lãnh đạn tụy khoái ngạnh,
triêm liên miên niêm tùy

tạm dịch nghĩa:

dùng kình phát nhanh dứt khoát để tốc độ đạt sức mạnh cương cường,
khéo léo và mềm mại liên tục thế quyền không dứt khóa đối phương

Ngũ Hầu Thông bối quyền chuyên chú luyện nghệ bất luyện hình (luyện quyền pháp tinh diệu biến ảo chứ không luyện chiêu thức), khi diễn luyện thân pháp tựa gió tạt lá sen, chân như đạp lên bùn non, động tác phiêu diêu mà trầm ổn, có lực, hung mãnh cương kình tiềm ẩn bên trong chứng tỏ quyền pháp hùng hậu công phu mới có thể gọi là luyện đạt thành.

Vào thời Trung Hoa Dân Quốc có Hằng Thọ nổi danh là Đại lực HằngBắc Kinh chuyên gia cự phách về Ngũ Hầu Thông bối quyền, học trò của ông là Trương Khánh Hòa đến nay đã bách niên giai lão và thuộc hàng thế kỷ lão nhân vào những năm 1980 vẫn còn luyện môn quyền này. Ở Lang Phường tỉnh Hà Bắc có lão tiên sinh Trần Mậu Phương cũng nổi danh là truyền nhân của Thông bối quyền từ Trương Sách.

Thông Tý quyền Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Thông tý quyền Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam là bài quyền cơ bản trong hệ thống quyền pháp của Thiếu Lâm sau bài La Hán Thập Bát Thủ (18 phép đánh tay của Phật A La Hán), bài Tâm ý bả, và Tâm Ý quyền. Sau bài Thông tý quyền là bài Triều Dương quyền (Chao Yang quan).

Bài Thông tý quyền Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam có hai bài quyền lộ: Tiểu Thông tý quyềnĐại Thông tý quyền được sáng tạo vào thời nhà Tùy là giai đoạn khai sơn phá thạch của Thiếu Lâm quyền. Tuy ra đời rất sớm trong thời kỳ đang trưởng thành của Thiếu Lâm nhưng hai bài Tiểu Thông tý quyềnĐại Thông tý quyền tỏ ra là những bài quyền tinh túy xuất sắc mà những động tác của nó chính là nền tảng của các bài quyền của Thiếu Lâm quyền sau này.

Đặc điểm kỹ pháp là thế quyền tinh gọn, dũng mãnh, phát lực hùng hậu, động tác trông rất dứt khoát không hoa mỹ hoa dạng, thế quyền oai phong, mã bộ rắn chắc, các động tác thủ pháp như gọt đá đẽo núi đòi hỏi người luyện phải kỳ công biến các bộ phận tay chân thành vũ khí mạnh mẽ mới phát huy tối đa hiệu quả đòn đánh, bằng không chỉ là những động tác múa của vũ đạo.

Để luyện đạt thành Thông tý quyền Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam, người luyện phải có đủ công phu nội khí trong người dồi dào, các môn ngoại ngạnh công phải đạt tới một trình độ nhất định thì mới phát huy hiệu quả khi xuất thủ vì các chiêu thức của Thông tý quyền Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam rất đơn giản trông như các môn võ Karatedo hiện đại của Nhật Bản nhưng tầm hữu hiệu thì đòi hỏi cao.

Yếu lý quyền pháp của Thông bối quyền[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1. Thâm kiên bạt bối, phóng trường kích viễn: trầm sâu vai và căng cơ lưng thì tay được dài ra và phát lực mạnh hơn. Thông bối quyền rất quan yếu đến tư thế đòi hỏi tam chiết cửu khấu, tam chiết là tý chiết (tay nối), thân chiết (thân nối), và thối chiết (chân nối) nghĩa là gập tay, gập thân và gập chân. Tam chiết làm thân thể thu lại thành hình ngũ trương cung (năm cánh cung là thân mình và hai tay, hai chân) chuẩn bị phát tên như năm cánh cung căng (trương ra) dây cung sắp bật, thu mình để tích lực sắp sửa bung kình. Cửu khấu là chín bộ phận co vào gồm ngón tay, cổ tay, khuỷu tay (cùi chỏ), vai, ngực, lưng, thắt lưng (eo bộ), đầu gối, bàn chân. Cửu khấu làm cho cơ thể buông lỏng tự nhiên thì khí lực mới thông suốt quán xuyến từ đầu đến gót chân mà xung kình.
  • 2. Lãnh đạn nhu tiến, kiên nhận giao thác: lãnh là vùng vẫy như cá thoát khỏi tay (thủ trung thoát ngư ), đạn là rung lắc như gà vàng (kim kê sạ đẩu ), tụy là dứt khoát như rìu chém củi khô (phủ đoạn can sài), khoái là mau lẹ như sao băng điện xẹt (lưu tinh thiểm điện).
Nhu tiến là đấu pháp của Thông bối quyền, không chủ trương tiến tới tấn công mạnh bạo mà lấy nhu làm chủ, phát kình theo lãnh, đạn nghĩa là thật nhanh. Kiên nhận giao thác là cương nhu phối triển cùng nhau tương trợ công thủ có niêm luật phép tắc phong tỏa cẩn mật như Thiếu Lâm quyền bắt nguồn từ câu xuất quyền như pháo phát, dụng chưởng tu kiên nhận nghĩa là tay phóng quyền như súng đại bác (thần công) nã đạn, thu chưởng về để tạo thế công thủ cương nhu hỗ tương.
  • 3. Thiểm tấn linh hoạt, bộ nội hàm thối: Thông bối quyền dựa trên yếu lĩnh dĩ thân vi bộ, dĩ bộ lĩnh thân nghĩa là lấy thân pháp làm bộ pháp, lấy bộ pháp điều chỉnh thân pháp khi thực hiện các động tác quyền thức. Thân bộ hợp nhất, thân đâu bộ đó không rời nhau, thân pháp khi lách, né, xoay chuyển, vươn dài đều dựa vào bộ pháp (bước chân) linh hoạt, đa biến làm thành một chỉnh thể thân-bộ trọn vẹn, trong cước pháp (đòn đá chân) có bộ và ngược lại. Thông bối quyền ít dùng đòn chân đá (cước pháp) mà thường là ám thối (đá kín) không lộ hình rõ ràng nhưng bất ngờ xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bịngộ biến tùng quyền khiến đối phương bị xuất kích bất ngờ không kịp phòng bị. Nguyên tắc dùng đòn chân là minh, ám, kỳ, tuyệt nghĩa là rõ ràng chắc chắn, giấu ẩn, bất ngờ, dứt khoát.
  • 4. Khí thế quán xuyến, phát lực bão mãn: diễn luyện Thông bối quyền yêu cầu động tác xuyên suốt liền một hơi không dứt, kình lực thông suốt một dải từ đầu đến chân, động tác hài hòa cương nhu tương tế không được dừng lại một chỗ nào. Thông bối quyền lấy eo lưng phát lực, lấy hông dẫn tay, kình lực dồi dào sung mãn, điểm đánh rõ mạnh dứt khoát, động tác nhịp nhàng, khí thế liên hoàn, quyền dứt mà ý không dứt.
  • 5. Kiên bối tùng thuận, kích phách tụy lượng: vai lưng buông lỏng thuận thế tự nhiên, phối hợp tràn đầy, các động tác quăng cánh tay, rung cổ tay đều phối hợp thân-bộ nhịp nhàng khi phóng kình phát lực, động tác mạnh rõ dứt khoát, không được ngập ngừng do dự khi phát quyền, vỗ tay vỗ chân... là phương cách diễn luyện độc đáo của Thông bối quyền.

Yếu lý đấu pháp của Thông bối quyền[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1. Xuất thủ bất ly diện, lạc thủ phách tam sơn: ra đòn không rời khuôn mặt đối phương là mục tiêu hữu hiệu nhất, động tác không hoa hòe, hạ thủ nhanh chóng và chính xác, ba mục tiêu trọng yếu nhất là quai hàm trái, quai hàm phải, sống mũi của đối phương gọi là tam sơn.
  • 2. Phóng trường kích viễn, trực xuất trực nhập: Thân-bộ hợp nhất vươn xa đánh dài, xoay vai thẳng tay, ra đòn tay phải thẳng, rút tay về thật nhanh theo đường thẳng, có bài ca quyết rằng:
Cấp thượng hựu gia cấp,
đả đảo hoàn hiềm mạn
tạm dịch nghĩa:
Đã nhanh lại phải nhanh hơn nữa,
hạ gục địch thủ rồi mà còn lo chậm.
Thông bối quyền dựa trên cơ sở biến hóa đa dạng của bộ pháp và sự lanh lẹ của tấn pháp, thân pháp, linh hoạt đa biến, bộ pháp ẩn cước pháp và thường hay đá kín bất ngờ.
  • 3. Xuất thủ vi chưởng, điểm báo thành quyền: nghĩa là khi mới xuất thủ thì tay là chưởng (bàn tay xòe ra), đến khi chạm mục tiêu thì tay là quyền (bàn tay nắm lại), Thông bối quyền dùng chưởng pháp là chính yếu, rất ít dùng quyền, chưởng quyền bất phân minh hư hư thực thực biến ảo khôn lường.

Thân, thủ, bộ của Thông bối quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đây là những yêu cầu về thân, thủ, bộ khi diễn luyện Thông bối quyền:

  • Đầu: phải luôn ngay ngắn, đỉnh đầu thẳng, cằm hơi gặp vào một tí, cổ thẳng tự nhiên không cứng đơ, không nghiêng ngả trái, phải, trước, sau. Đầu là điểm chuẩn điều chỉnh thân, thủ, bộ phối hợp khi xuất quyền.
  • Mắt: Thông bối quyền yêu cầu mắt phải nhãn độc tự nhật xạ hàn sương nghĩa là mắt dữ như mặt trời chiếu tan sương lạnh, nhật mục viên thần nghĩa là mắt dữ như chim ưng, thần thái như vượn, mắt phải quan sát các hướng kỹ lưỡng.
  • Vai: vai, eo và hông là bộ phận mấu chốt để giữ cơ thể cân bằng. Vai buông lỏng, không được gồng cứng. Thông bối quyền yêu cầu vai như cánh quạt, hai tay liên tục như sao băng. Mục đích vai buông lỏng để làm cho vai được trầm (hạ) xuống, lưng căng ra hết mức để tiện cho tay vươn dài ra (phóng trường kích viễn).
  • Cánh tay: cánh tay chia làm ba khớp là vai, khuỷu (cùi chỏ) và cổ tay; và gồm ba đoạn là cánh tay trong (từ vai đến khuỷu), cẳng tay (từ khuỷu đến cổ tay) và chưởng (lòng bàn tay). Cánh tay phải luôn mềm lỏng như roi da, xoay chuyển linh hoạt, lưng bàn tay phải cứng như sắt. Cánh tay buông lỏng, co duỗi tự nhiên thì phát kình mới cương mãnh, cương như sắt và nhu như bông.
  • Lưng: Thông bối quyền yêu cầu hàm hung bạt bối nghĩa là ngực co lõm vào, lưng căng ra thì khi phát kình mới đạt sức mạnh tối đa khi xuất thủ. Nếu ưỡn ngực, thóp bụng sẽ làm lưng thẳng cứng và khí lực không thông suốt toàn thân, kình lực không phát ra được.
  • Eo hông: phải luôn thả lỏng, linh hoạt từ khớp háng lên, quyền phổ nói: "eo hông uyển chuyển như rắn, háng vận động như ngựa phi".
  • Chân: chân cũng chia làm ba khớp từ háng trở xuống gồm khớp háng, đầu gối, mắt cá cổ chân. Khi diễn luyện hai đầu gối luôn co vào che hạ bàn. Cước pháp (đòn chân) luôn ẩn tàng trong bộ pháp (bước đi).

Có thể nói rằng các yêu cầu trên của Thông bối quyền tựa hệt Thiếu Lâm quyềnThái Cực quyền. Sau này có rất nhiều môn đồ Hồng Gia Quyền của Hồng Hy Quan khi diễn tập quyền thuật đã không tuân thủ các yêu cầu này mà lại ưỡn ngực, thóp bụng làm cho Thiếu Lâm quyền càng ngày sai lệch, đã vậy lại cho là như vậy mới đúng là kỹ pháp Thiếu Lâm quyền thì thật tình không còn chỗ nào để mà nói nữa !

Vấn đề phát kình trong Thông bối quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Vấn đề phát kình là vấn đề trọng yếu nhất trong các bộ môn quyền thuật Trung Hoa. Đây cũng chính là vấn đề thống nhất trong các phái võ Trung Hoa.

Về quan điểm kình, đã có nhiều người nghiên cứu cho rằng đây là sự ly kỳ hóa và làm cho thần bí của các võ sư về lực nghĩa là sức mạnh [2].

Thật ra kìnhlực khác nhau. Kình do nội khí hóa thành chuyển ra gân, gân chứ không phải cơ bắp xác thịt. Lực do cơ bắp xác thịt và xương tạo ra khi nâng vật nặng. Kình đòi hỏi buông lỏng khớp và các cơ bắp, gân xương. Lực làm căng cứng cơ bắp (nghĩa là gồng).

Trong Thái Cực quyền, Vịnh Xuân quyền, Bạch Mi quyền, Thiếu Lâm quyền luôn đòi hỏi phải buông lỏng thì khí mới thông xuốt toàn thân mà hóa kình. Điều này hợp lý với khoa học hiện đại vì khi cơ thể gồng cứng cơ bắp sẽ tạo ra stress (sự căng thẳng thần kinh) thì rất dễ sinh bệnh do cơ thể rối loạn chức năng bắt đầu từ não bộ và các trung khu thần kinh. Thế mà sau này các môn đồ Hồng Gia Quyền của Hồng Hy Quan lại yêu cầu phải súc kình, co kình và làm cho cơ bắp căng cứng thì không hiểu làm thế nào mà họ có thể vận khí hóa kình và phát kình ra được để cho đòn đánh có hiệu quả ! Chúng ta thử suy nghĩ xem chúng ta có thể nào gồng cứng cơ thể (nghĩa là khóa cứng các khớp xương lại) suốt cả ngày được không ? Khi gồng cứng cơ thể thì nội khí không di chuyển trong châu thân khi đó làm sao ta có thể vận động đi lại được !

Về vấn đề vận khí luôn có sự tập trung tư tưởng kết hợp hơi thở điều hòa và sâu lắng để khí được vận lên và truyền dẫn đến các khớp và hóa kình tạo thành sức mạnh, tức là phát kình; nếu không vận khí khi phát kình thì có thể làm tổn thương các dây chằng tại các khớp và rất đau đớn, trong võ thuật gọi là bị nội thương. Phần lớn các môn đồ sau này của Hồng Gia Quyền của Hồng Hy Quan đều không biết đến điều này nên càng ngày xa rời tông pháp nguyên ủy của Thiếu Lâm quyền và của võ thuật Trung Hoa nói chung, như Thông bối quyền đây thì đề cập khá rõ đến kình nhưng không thấy nói đến khíkhí chính là nền tảng của kìnhlực [3].

Một đặc điểm nữa khi phát kình trong khi diễn luyện các bộ môn quyền thuật Trung Hoa là dùng các động tác rung, lắcuốn éo các khớp xương cho khí được vận hành làm nóng các đầu khớp xương để tạo kình, chuẩn bị phóng kình.

Khi phát kình thì toàn thể các khớp xương cùng phối hợp và tập trung khí từ các khớp và gân (gân chứ không phải cơ bắp xác thịt) vào một điểm là đối tượng cần công phá.

Đa số các môn quyền thuật Trung Hoa trong phần lý luận về kình đều cho rằng kình xuất phát từ eo lưng. Các môn Nam quyền lại cho rằng kình xuất phát từ gót chân lên eo lưng rồi đến ngực mà phát ra ! Thật ra không phải vậy mà kình là sản phẩm từ khí vận động thông suốt châu thân từ gót chân lên đến đỉnh đầu. Thiếu Lâm yếu quyết quyền lý có nói rõ điều này:

  • Hư linh đỉnh kình: đầu cổ và xương sống luôn ngay ngắn để tập trung khí lực dễ dàng.
  • Hàm hung bạt bối: co ngực căng lưng để cho khí lực trầm xuất tại đan điền dễ vận chuyển đến cánh tay.
  • Ý thủ đan điền: hơi thở và khí lực tập trung tại đan điền thì trọng tâm cơ thể mới được hạ thấp xuống đôi chân làm cho cơ thể bình ổn mới phát động được khí lực hóa kình, câu này và câu trên nhập làm một khi tác động vào quyền thuật và luyện công.
  • Chủ tể tại yêu: eo là chúa tể đưa khí lực về đó (khắp vùng đan điền) tập trung tối đa sức mạnh của cơ thể.
  • Kỳ căn tại cước: tuy eo là chúa tể tạo sức mạnh nhưng thật ra cái gốc là tại chân, tại gót chân thông suốt lên đỉnh đầu (Hư linh đỉnh kình), do vậy eo là cái trục khi vận khí thông suốt khắp châu thân.

Đa phần các môn quyền thuật của các lưu phái Thiếu Lâm quyền dù là Bắc Thiếu Lâm hay Nam Thiếu Lâm sau này không thấy nói đến (hay có lẽ thất truyền) các yếu lý trên và càng ngày làm cho Thiếu Lâm quyền trở thành môn võ chỉ dùng sức mạnh bì phu (bên ngoài da thịt) của kẻ vũ dũng thô bạo mà mất đi tính vi tế sâu sắc của Thiếu Lâm quyền tập trung tại khái niệm về khí.

Tiểu truyện vài danh thủ Thông bối quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Kỳ Tín[sửa | sửa mã nguồn]

Kỳ Tín, là người có vai trò quan trọng trong Ngũ Hành Thông bối quyền dựa trên cơ sở của Kỳ Thị Thông bối quyền do ông truyền dạy.

Kỳ Tín là người Triết Giang, sinh vào năm Đạo Quang thời nhà Thanh, do lánh nạn nên đến cư ngụ tại phủ họ Y ở sông Lưu Ly, Cố An, Hà Bắc.

Một ngày kia, hai họ Y và Đỗ có xích mích dẫn đến đánh nhau khốc liệt. Nghe tin, chẳng hề sợ hãi Kỳ Tín đã cầm côn đến tham chiến giúp họ Y và đã một mình tả xung hữu đột phá tan đám đông nhà họ Đỗ với đủ loại khí giới vây quanh. Nhà họ Y thắng. Danh tiếng của Kỳ Tín vang lừng, thiên hạ đến xin học nghề và ông đã mở trường dạy võ. Từ đó, Kỳ Gia Môn xuất hiện trên võ đàn Trung Quốc truyền đến ngày nay.

Sau này con của Kỳ Tín là Kỳ Đại Xương luyện Kỳ Gia Thông bối quyền thành đạt chủ về nhu kình biến hóa đa dạng và hình thành Kỳ Gia Thiếu phái. Kỳ Gia Môn của Kỳ Tín chủ về cương kình dũng mãnh được gọi là Kỳ Gia Lão phái.

Cuối thời nhà Thanh đầu thời Trung Hoa Dân Quốc, Ngũ Hành Thông bối quyền rất thịnh hành và cao thủ rất nhiều. Truyền môn nhân của Kỳ Gia Môn như Tu Kiếm Si (danh hiệu "Yên Bắc Đại Hiệp") và Lưu Trí (danh hiệu "Khoái Thủ") rất nổi tiếng

Trương Sách[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Sách, tự là Tú Lâm, người huyện Hà Hương, tỉnh Hà Bắc, bản tính khẳng khái hiếu nghĩa, khiêm tốn, hòa nhã, học võ nghệ từ Trần Khánh người ở Lương Hương, tỉnh Hà Bắc.

Sau khi Trần Khánh qua đời, Trương Sách theo sư huynh đồng môn là Vương Chiếm Xuân khổ luyện 9 năm trường mới luyện đạt thành được người đời gọi là "Tỳ Thánh", "Thiết Hài".

Trương Sách luyện công rất khắc khổ, ngày nào cũng thức dậy canh ba, mặc giáp sắt, mang giày sắt (mỗi chiếc nặng 10 cân) rồi luyện Thông bối quyền không ngừng nghỉ.

Khi luyện Thông bối quyền, Trương Sách luyện mỗi chiêu mỗi thức lên đến cả ngàn lần rồi mới đổi chiêu đổi thức. Khi luyện Lãnh tụy kình trong thương thuật, Trương Sách ban đêm đốt nhang rồi luyện đâm mũi thương vào đầu nhang đang cháy cho đến sáng mới thôi!

Đơn đao là binh khí mà Trương Sách luyện đạt đến thượng thừa danh lừng thiên hạ, cao thủ bốn phương tới thách đấu đều bị rớt đao xuống đất. Có một cao thủ đao thuật đến thách đấu, sau khi từ chối mãi không xong, hai bên cùng giao đấu sau vườn nhà ông, hàng xóm kéo đến xem rất đông. Lúc đó đang vào mùa hè, tiết trời rất nóng, hai người mặc áo trắng cầm đao nhập nội vào nhau vờn nhau loang loáng trông rất đẹp mắt. Đang giao đấu, tự nhiên Trương Sách tung mình nhảy ra ngoài rồi cười lớn nói: "Ông còn muốn giao đấu nữa sao?" Vị cao thủ đao thuật kia nghe xong ngơ ngác không hiểu, khách quan xem vây quanh nói: "Ông thử xem lại sau lưng xem sao?" Vị cao thủ kia cởi áo ra xem thì thấy lưng áo bị chém nát tả tơi mà da thịt trên lưng vẫn không hề gì! Sau đó vị cao thủ kia xấu hổ quá lẳng lặng xếp đao lại và bỏ đi không nói một lời nào!

Trương Sách qua đời năm 1934, thọ hơn 70 tuổi, học trò của ông có Vương Trọng Du, Châu Cảnh Hải, Hàn Kiếm Ngao, Ngô Đồ Nam khá nổi tiếng.

Tu Kiếm Si[sửa | sửa mã nguồn]

Tu Kiếm Si, tự là Yên Y, lại có tên là Tu Minh, người Mãn Châu, ở huyện Cố An, tỉnh Hà Bắc, có danh xưng là "Yên Bắc Đại Hiệp".

Tu Kiếm Si từ thuở nhỏ đã rất thông tuệ và hiếu học. Ông đã được truyền nhân của Kỳ Gia Môn là Hứa Thiên Hòa truyền dạy cho Thông bối quyền.

Sau khi luyện đạt thành Thông bối quyền, Tu Kiếm Si mở trường dạy võ truyền thụ Ngũ Hành Thông bối quyền. Năm 1933 được mời làm trọng tài võ thuật tỉnh Hà Nam và ở lại đó làm huấn luyện viên võ thuật. Hết nhiệm kỳ, ông trở về Đại Liên.

Tu Kiếm Si căn cứ vào kinh nghiệm luyện công và giảng dạy nhiều năm của mình đã sáng tạo và chỉnh lý Ngũ Hành Thông bối quyền mở ra một bước đột phá về lý luận.

Cuối đời Tu Kiếm Si soạn sách lập thuyết, dựa trên các bài quyền cũ mà sáng tạo và biên soạn hệ thống bài quyền như Thông bối chưởng, Thông bối quyền, Thông bối thương, Thông bối công, Thông bối đao nên gọi là Ngũ Hành Thông bối quyền. Do vậy Tu Kiếm Si là nhân vật trọng yếu nhất trong Thông bối quyền vào giai đoạn cận đại và hiện đại.

Tu Kiếm Si có nhiều môn đồ thành nghệ rất đông, trong đó phải kể đến Vương Chi Hòa ở Quí Châu, Sa Quốc Chính ở Vân Nam, Thành Truyền Nghệ,... đều nổi danh thiên hạ. Các cao thủ Thông bối quyền hiện đại thành danh đa số đều là học trò của Tu Kiếm Si.

Thông bối quyền luận[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đây là các bài ca quyết của Thông bối quyền:

  • Bài thứ nhất: Luận Hư Thực
Thắng bại toàn nhậm hư thực,
thực tắc dị phá,
hư tắc nan công,
nhược bỉ hư ngã thực tắc tính tham,
tham tắc tính mãnh,
mãnh tắc xuất thủ vô hư,
ngộ địch nhất biến thúc thủ hỹ.
Tạm dịch nghĩa: Bàn về lẽ Hư Thực
Thắng hay bại đều dựa vào hư và thực,
thực (chắc và đầy) thì dễ phá,
hư (rỗng) thì khó tấn công (vì không xác định chính xác),
nếu địch thủ hư mà ta thực thì là ta tham,
tham thì hung mãnh,
hung mãnh thì ra đòn không có "hư" (nghĩa là cứng nhắc không biến hóa)
nếu gặp địch thủ biến chiêu thì ta phải bó tay.
  • Bài thứ hai: Bát Hốt Luận
Hốt tất hốt thoái,
hốt khúc hốt trực,
hốt cao hốt đê,
hốt như đại bàng triển dực,
hốt như viên hầu nhập động.
Tạm dịch nghĩa: Bàn về 8 yếu tố nhanh và bất ngờ
Thoắt tiến, thoắt lui,
thoắt co, thoắt thẳng,
thoắt cao, thoát thấp,
như đại bàng tung cánh,
thoắt như khỉ về hang.
  • Bài thứ ba: Khí Pháp Luận
Tập võ tiên luyện khí,
Dụng khí chi pháp,
thân động khí mạc phù,
phù tắc túc hạ vô căn.
Nghi bình kỳ khí tắc khí tự nhiên hạ trầm,
bất khả cưỡng trầm,
cưỡng trầm tắc thương cập nội thể.
Tạm dịch nghĩa: Bàn về Phép luyện Khí
Tập võ nên luyện Khí trước,
phép dùng khí là: thân động thì đừng nâng khí lên,
khí nâng thì chân không vững,
Nên điều hòa khí thì tự nhiên khí sẽ trầm (hạ thấp) xuống,
không nên ép khí trầm (nghĩa là hít hơi vào rồi nén chắt xuống đan điền),
ép khí trầm sẽ tổn hại đến nội tạng. (Khí ở đây cũng có nghĩa là hơi thở tạo Khí) [4]
  • Bài thứ tư: Ngũ Hành Chưởng Luận
Đập chưởng như đạn bay,
kình phát từ cổ tay,
rung, giật, đập, rút.
Vỗ chưởng như điện chớp,
kình phát từ vai.
Đâm chưởng như sao xẹt,
kình phát ra ngón tay.
Khoan chưởng như tên bắn,
kình phát ra từ eo hông.
Chém chưởng như sét đánh,
kình phát từ lưng.
  • Bài thứ năm: Thân Thủ Luận
Đầu đỉnh cảnh lỉnh,
tiền không hậu phong,
hư hung ao đỗ,
thâm bối tùng kiên,
tý trường uyển hoạt,
tý bà cốt hoạt như phiến,
lưỡng thủ tương liên tự tinh chuyển,
Kiên, trửu, uyển, khoa, tất; tâm lực khí huyết đảm.
Thủ bối như thiết, uyển như miên
Lưỡng chỉ các bác như bì tiên
Kiên tự phong luân, hung như động
Lưỡng uyển phát động hoạt như điện
Tạm dịch nghĩa: Bàn về Thân Thủ
Đầu cổ ngay thẳng,
trước trống, sau đầy,
ngực trống, bụng thót,
căng lưng lỏng vai,
cánh tay vươn dài,
cổ tay linh hoạt.
Khớp xương vai xoay như quạt,
hai tay nối tiếp nhau như sao chuyển.
(Phải chú ý) vai, chỏ, cổ tay, hông, gối, cũng như tâm, lực, khí, huyết,sự gan dạ.
Lưng bàn tay cứng như sắt nhưng cổ tay mềm như bông
Hai cánh tay vung lên như roi da
Vai xoay như bánh xe, ngực thâu vào như hang
Hai cổ tay vận động linh hoạt như điện
  • Bài thứ sáu: Ứng Dịch Luận (Phần quan trọng nhất)
Kiến động địch thủ như bạt thảo
Tựa đề anh nhi nhất ban đồng
Quyền pháp bất ly trung bình chính
Doanh hư toàn tại linh cơ động
Dục thoái lai địch ổn chuẩn lang
Niêm Y phát kình lãnh cấp ngạnh
Lưỡng thủ linh hoạt xảo liên hoàn
Cước đạp trung môn vãng lý toàn
Phát chiêu biến hóa mãnh như lãng
Thiểm triển giao thác chiêu như điện
Lưỡng nhân đối trận quan hung đường
Động thủ tâm mạc hoảng, phá trừ thâu pháp khứ, tất định hữu chủ trương
Xuất thủ tâm mạc thiện, phát chiêu tiên đả liễm
Xuất thủ bất đả lưỡng thái dương, nhĩ căn não hậu nhất mệnh vong.
Tạm dịch nghĩa: Bàn về Phép Ứng chiến (Ca quyết Chiến đấu pháp)
Thấy đối phương động thủ như phát cỏ
Xem giống như nâng đứa hài nhi lên vậy
Quyền không rời ở giữa, ngay chính
Thắng hay thua là do sự cơ trí linh động
Muốn đánh lui địch thủ phải vững, chính xác và mạnh bạo
Bám sát phát kình nhanh và mạnh
Hai tay khéo léo đi liên hoàn
Chân bước ở giữa chêm vào trong
Phát chiêu biến hóa mạnh như sóng dội
Xoay trở né tránh, ra chiêu như điện xẹt
Khi đối trận thực chiến nên quan sát vùng ngực đối phương
Khi ra đòn thì đừng kinh hãi, phải trừ ý nghĩ thua trận, phải xác lập lòng tin
Ra đòn tâm ý phải dứt khoát, ra chiêu đánh vào mặt trước
Không nên tấn công vào thái dương, gốc tai và sau não vì rất dễ gây chết người.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Xin xem Chùa Thiếu Lâm và võ thuật Trung Hoa của Nguyễn Duy Chính trong bài Võ Thiếu Lâm
  2. ^ Xem bài Chùa Thiếu Lâm và võ thuật Trung Hoa của Nguyễn Duy Chính trong bài Võ Thiếu Lâm
  3. ^ Xem thêm bài Phép đạo dẫn
  4. ^ Xem thêm chi tiết bài Phép đạo dẫn

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Sách tham khảo chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thông Bối Quyền Toàn Thư, nguyên tác Trung văn Quyền sư Lưu Ba, dịch giả Thiên Tường sưu tập và biên dịch, Nhà Xuất Bản Mũi Cà Mau xuất bản năm 2003
  • Thông Tý Quyền Sổ tay võ thuật xuất bản năm 1999
  • Thiếu Lâm Các Bài Quyền Căn Bản - tập 1 Thiếu Lâm Bách Khoa Toàn Thư - trọn bộ 23 tập - Nguyên tác Trung Văn Thiếu Thất Sơn Nhân, dịch giả Hồ Tiến Huân, nhà xuất bản Thể Dục Thể Thao - Hà Nội năm 2002 - nhà sách Hoa Niên, số 494 đường Nguyễn Thị Minh Khai, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) phát hành