| The Velvet Rope |
 |
| Album phòng thu của Janet Jackson |
| Phát hành |
7 tháng 10, 1997 |
| Thu âm |
Tháng 1 – Tháng 7 năm 1997
Flyte Tyme Studios
(Edina, Minnesota) |
| Thể loại |
Pop, R&B |
| Thời lượng |
75:23 (Phiên bản Standard)
78:50 (Phiên bản Bonus track) |
| Hãng đĩa |
Virgin |
| Sản xuất |
Janet Jackson, Jimmy Jam and Terry Lewis, René Elizondo, Jr. |
| Thứ tự album của Janet Jackson |
|
|
|
| Alternative cover |
Bìa phiên bản Australian tour
|
| Đĩa đơn từ The Velvet Rope |
- "Got 'til It's Gone"
Phát hành: 22 tháng 9, 1997
- "Together Again"
Phát hành: 2 tháng 12, 1997
- "I Get Lonely"
Phát hành: 8 tháng 5, 1998
- "Go Deep"
Phát hành: 15 tháng 6, 1998
- "You"
Phát hành: 3 tháng 9, 1998
- "Every Time"
Phát hành: 16 tháng 11, 1998
|
"The Velvet Rope" là album phòng thu thứ sáu ca sĩ người Mỹ Janet Jackson, phát hành vào ngày 07 tháng 10 năm 1997 bởi hãng Virgin Records. Trước khi ra mắt, Jackson trở thành trung tâm của một cuộc đấu thầu thứ hai để giành hợp đồng thu âm với cô. Sau khi phát hành album tuyển tập các hit đứng đầu của cô Design of a Decade 1986/1996 vào năm 1995, hợp đồng của cô với Virgin đã hết hạn. Công ty Walt Disney và PolyGram đã cố gắng ký hợp đồng với cô, trong khi Virgin đã tìm cách đàm phán lại với cô để giữ chân cô. Cuối cùng, Jackson ở lại hãng Virgin và kí một hợp đồng mới trị giá 80 triệu đôla. Điều này đem về cho cô danh hiệu một trong những nữ nghệ sĩ được trả cát-xê cao nhất mọi thời đại.
Sau một thời gian dài đấu tranh với chứng trầm cảm, Jackson bắt đầu thực hiện album. Cô đã phát triển album như một album khái niệm, nội quan là chủ đề chính của nó. Tiêu đề của album, The Velvet Rope, là một ám chỉ nhu cầu đặc biệt của một cá nhân, cũng như một phép ẩn dụ cho ranh giới tình cảm. Về ca từ, cô muốn cho khán giả một cơ hội để vượt qua sợi dây thừng của chính cô, khám phá cảm xúc chán nản của cô qua album. Mặc dù cô đã giới thiệu tình dục vào âm nhạc của cô qua album Janet, The Velvet Rope lại có khái niệm một bước xa hơn, bao gồm Bạo dâm và các mối quan hệ đồng tính, cũng như giải quyết các vấn đề xã hội như chứng sợ đồng tính và bạo lực gia đình. Về mặt âm nhạc, album là ví dụ nhỏ về trip hop, pha trộn giữa hip hop và nhạc điện tử. Quá trình Jackson sáng tác là kết quả của sự hợp tác với nhà sản xuất lâu năm của mình là Jimmy Jam và Terry Lewis và chồng cô sau này là René Elizondo, Jr.; cô là tác giả của tất cả các lời bài hát cùng với Elizondo, Jr., Jackson và Elizondo, Jr. là nhà điều hành sản xuất của album này. Các nghệ sĩ đã đóng góp cho dự án The Velvet Rope bao gồm nghệ sĩ dương cầm người Anh Vanessa-Mae, rapper Q-Tip, và ca sĩ-nhạc sĩ người Canada Joni Mitchell, người đã cho phép Jackson lấy mẫu đĩa đơn năm 1970 của cô "Big Yellow Taxi". Album đã nhận được những đánh giá cao từ các nhà phê bình âm nhạc, họ gọi nó là một kiệt tác. The Velvet Rope cũng được liệt kê vào danh sách 500 Album vĩ đại nhất mọi thời đại của tạp chí Rolling Stone.
The Velvet Rope ra mắt tại vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard 200, trở thành album thứ tư liên tiếp của Jackson đứng đầu bảng xếp hạng danh giá này. Nó cũng nằm trong top 5 của nhiều quốc gia, bao gồm Anh, Úc, và Canada. Mặc dù doanh số không cao bằng album Janet trước đó, Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA) đã chứng nhận album 3 đĩa bạch kim, với doanh số bán hàng trên toàn thế giới trên 10 triệu bản. 6 đĩa đơn đã được phát hành từ album, trong đó thành công nhất là đĩa đơn "Together Again", khi bán được 6 triệu bản trên toàn cầu và là một trong những đĩa đơn bán chạy nhất mọi thời đại. Bài hát đạt vị trí quán quân trên Billboard Hot 100, và nằm trong top 5 tại hầu hết các bảng xếp hạng đĩa đơn trên thế giới. Ngoài ra, "I Get Lonely" đã trở thành đĩa đơn thứ 18 liên tiếp của cô nằm trong top 10 Hot 100, thiết lập kỷ lục nữ nghệ sĩ duy nhất làm được điều này, giúp cô vượt qua 2 huyền thoại là Elvis Presley và The Beatles. Với album này, Jackson nhận được một đề cử giải Grammy cho Trình diễn giọng R&B xuất sắc nhất cho "I Get Lonely" và thắng một giải Video hình thái ngắn xuất sắc nhất cho "Got 'til It's Gone". Để quảng bá cho album, Jackson bắt tay thực hiện chuyến lưu diễn The Velvet Rope World Tour, nhận được lời khen ngợi cho sân khấu và khả năng hát sống.
Danh sách bài hát [sửa]
| Người viết |
Sản xuất |
| 1. |
"Interlude: Twisted Elegance" |
|
|
0:41 |
| 2. |
"Velvet Rope" (song ca với Vanessa-Mae) |
Janet Jackson, James Harris III, Terry Lewis, René Elizondo, Jr., Malcolm McLaren, Trevor Horn, Mike Oldfield |
Harris, Lewis, Jackson |
4:55 |
| 3. |
"You" |
Jackson, Harris, Lewis, Elizondo, Harold Brown, Sylvester Allen, Morris Dickerson, Howard Scott, Leroy Jordan, Lee Oskar, Charles Miller |
Harris, Lewis, Jackson |
4:42 |
| 4. |
"Got 'til It's Gone" (song ca với Q-Tip và Joni Mitchell) |
Jackson, Harris, Lewis, Elizondo, Joni Mitchell, Kamaal Ibn Fareed |
Harris, Lewis, Jackson |
4:01 |
| 5. |
"Interlude: Speaker Phone" |
|
|
0:54 |
| 6. |
"My Need" |
Jackson, Harris, Lewis, Elizondo, Marilyn McLeod, Pam Sawyer, Nickolas Ashford, Valerie Simpson |
Harris, Lewis, Jackson |
3:44 |
| 7. |
"Interlude: Fasten Your Seatbelts" |
|
|
0:19 |
| 8. |
"Go Deep" |
Jackson, Harris, Lewis, Elizondo |
Harris, Lewis, Jackson |
4:42 |
| 9. |
"Free Xone" |
Jackson, Harris, Lewis, Elizondo, James Brown, Billy Buttier, Archie Bell, Michael Hepburn |
Harris, Lewis, Jackson |
4:57 |
| 10. |
"Interlude: Memory" |
|
|
0:04 |
| 11. |
"Together Again" |
Jackson, Harris, Lewis, Elizondo |
Harris, Lewis, Jackson |
5:01 |
| 12. |
"Interlude: Online" |
|
|
0:19 |
| 13. |
"Empty" |
Jackson, Harris, Lewis, Elizondo |
Harris, Lewis, Jackson |
4:32 |
| 14. |
"Interlude: Full" |
|
|
0:12 |
| 15. |
"What About" |
Jackson, Harris, Lewis, Elizondo |
Harris, Lewis, Jackson |
4:24 |
| 16. |
"Every Time" |
Jackson, Harris, Lewis, Elizondo |
Harris, Lewis, Jackson |
4:17 |
| 17. |
"Tonight's the Night" |
Rod Stewart |
Harris, Lewis, Jackson |
5:07 |
| 18. |
"I Get Lonely" |
Jackson, Harris, Lewis, Elizondo |
Harris, Lewis, Jackson |
5:17 |
| 19. |
"Rope Burn" |
Jackson, Harris, Lewis, Elizondo |
Harris, Lewis, Jackson |
4:15 |
| 20. |
"Anything" |
Jackson, Harris, Lewis, Elizondo |
Harris, Lewis, Jackson |
4:54 |
| 21. |
"Interlude: Sad" |
|
|
0:10 |
| 22. |
"Special" (bao gồm bài "Can't Be Stopped", bắt đầu từ 3:42) |
Jackson, Harris, Lewis, Elizondo |
Harris, Lewis, Jackson |
7:55 |
| Người viết |
Sản xuất |
| 22. |
"Special" |
Jackson, Harris, Lewis, Elizondo |
|
3:21 |
| 23. |
"God's Stepchild" (bao gồm bài "Can't Be Stopped", bắt đầu từ 3:42) |
Jackson |
|
7:55 |
| 1. |
"Got 'til It's Gone" (Armand Van Helden Bonus Beats) |
5:05 |
| 2. |
"Together Again" (Tony Humphries 12" Mix chỉnh sửa) |
9:57 |
| 3. |
"I Get Lonely" (Janet vs Jason – The Club Remix) |
8:10 |
| 4. |
"Go Deep" (Vocal Deep Disco Dub) |
8:12 |
| 5. |
"Every Time" (Jam & Lewis Disco Remix) |
4:10 |
- Ghi chú
Xếp hạng và chứng nhận [sửa]
Xếp hạng tuần [sửa]
|
Chứng nhận [sửa]
|
Xếp hạng cuối năm [sửa]
| Bảnh xếp hạng cuối năm (1997/1998) |
Xếp hạng |
| Australian Albums Chart (1997)[21] |
42 |
| Australian Albums Chart (1997)[22] |
82 |
| Belgian Flanders Albums Chart (1998)[23] |
43 |
| Belgian Wallonia Albums Chart (1997)[24] |
85 |
| Belgian Wallonia Albums Chart (1998)[25] |
39 |
| Canadian Albums Chart (1998)[26] |
34 |
| Dutch Albums Chart (1998)[27] |
20 |
| French Albums Chart (1998)[28] |
17 |
| Italy End-Year Chart 50 (1998)[29] |
42 |
| Swiss Albums Chart (1998)[30] |
43 |
| U.S. Billboard 200 (1997)[12] |
115 |
| U.S. Billboard 200 (1998)[31] |
27 |
Tham khảo [sửa]
Liên kết ngoài [sửa]
|
|
|
|
|
|
| Album phòng thu |
|
|
| Album tổng hợp |
|
|
| Remix album |
|
|
| Video phát hành |
|
|
| Lưu diễn |
|
|
| Truyền hình |
|
|
| Phim tham gia |
|
|
| Sách |
|
|
| Nhãn hiệu |
|
|
| Bài viết liên quan |
|
|
|
|
|