Tokugawa Keiki

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Tokugawa. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tên người Nhật hiện đại khi viết bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Tokugawa Keiki
TokugawaYoshinobu.jpg
Tokugawa Keiki trong quân phục Pháp, khoảng 1867
Chức vụ
Tiền nhiệm Tokugawa Iemochi
Kế nhiệm Không
Mạc phủ sụp đổ[1]
Thông tin chung
Sinh 28 tháng 10, 1837(1837-10-28)
Mito, Ibaraki, Nhật Bản
Mất 22 tháng 11, 1913 (76 tuổi)

Tokugawa Keiki (徳川 慶喜 Đức Xuyên Khánh Hỉ), còn gọi là Yoshinobu, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1837, mất ngày 22 tháng 11 năm 1913) là Tướng quân thứ 15 và là Tướng quân cuối cùng của Mạc phủ Tokugawa, Nhật Bản. Ông là một phần của phong trào có mục đích cải cách chính quyền Mạc phủ già cỗi, nhưng cuối cùng không thành công. Sau khi từ ngôi vào cuối năm 1867, ông vui thú điền viên, và tránh tối đa con mắt của công chúng trong suốt phần đời còn lại.

Tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Tokugawa Keiki sinh ra ở Mito, tỉnh Hitachi, là con trai thứ bảy của Tokugawa Nariaki, daimyo của Mito. Mito là một trong các gosanke, ba chi của gia tộc Tokugawa đủ tư cách để được chọn làm Chinh di Đại Tướng quân.

Sinh ra với cái tên Matsudaira Shichirōma[2], ông lớn lên dưới sự trông nom và giam sát nghiêm ngặt và khổ hạnh [3]. Ông được dạy viết chữ và võ thuật, cũng như tiếp nhận nền giáo dục thuần nhất các quy tắc về nên chính trị và chính quyền.[4]

Do sự xúi giục của cha mình, Shichirōma được gia đình Hitotsubashi-Tokugawa nhận nuôi để có cơ hội tốt hơn thừa kế chức Chinh di Đại Tướng quân.[5] Ông trở thành tộc trưởng năm 1847, đến tuổi trưởng thành cùng năm đó, nhận chức vụ và tước hiệu triều đình, và lấy tên là Yoshinobu.[6] Sau cái chết của vị Tướng quân thứ 13 là Tokugawa Iesada, năm 1858, Keiki được đề của làm người kế vị tiềm năng.[7] Những người ủng hộ ông vin vào khả năng và hiệu quả của ông trong việc xử lý các sự vụ trong gia đình. Tuy nhiên, phe đối lập, do Ii Naosuke dẫn đầu, chiến thắng. Ứng cử viên của họ, Tokugawa Yoshitomi trẻ tuổi, được chọn, và trở thành Iemochi thứ 14.[8] Không lâu sau đó, trong cuộc Thanh trừng An Chính, Keiki và những người ủng hộ ông bị giam lỏng.[9] Keiki tự mình rời khỏi vị trí tộc trưởng nhà Hitotsubashi.

Thời kỳ thống trị chính quyền Tokugawa của Ii được đánh dấu bằng sự quản lý tồi và các cuộc đấu đá chính trị. Khi Ii bị ám sát năm 1860, Keiki lại trở thành tộc trưởng của nhà Hitotsubashi, và năm 1862 được đề của làm Tướng quân Hậu kiến Chức (将軍後見職 shōgun atomi-shoku?), và nhận tước vị này ít lâu sau đó.[10] Cùng lúc đó, 2 đồng minh thân cận nhất của ông, Matsudaira YoshinagaMatsudaira Katamori, được để cử vào 2 vị trí cao khác: Yoshinaga là Chính trị Tổng tài chức (政治総裁職 seiji sōsai shoku?)[11], Katamori là Thủ hộ Kyoto (京都守護職 Kyoto Shugoshoku?)[12]. 3 người này sau đó tiến hành nhiều bước để dập tắt sự bất ổn ở khu vực Kyoto, và tập hợp các đồng minh để chống lại các hành vi nổi loạn của phiên Chōshū. Họ là những nhân vật quan trọng trong đảng chính trị kōbu-gattai, tìm kiếm sự hòa giải giữa Mạc phủ và triều đình.[13]

Năm 1864, Keiki, là Chủ huy trưởng của Thị vệ Hoàng cung, đánh bại được quân Chōshū khi họ cố chiếm cổng Hamaguri của Hoàng cung. Điều này đạt được là nhờ sử dụng liên quân Aizu-Satsuma.[14]

Tướng quân Keiki (1866)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cái chết của Tokugawa Iemochi năm 1866, Keiki được chọn thừa kế Iemochi, và trở thành Chinh di Đại tướng quân (Shōgun) thứ 15 của Mạc phủ Tokugawa.[15] Ông là Tướng quân duy nhất đóng đại bản doanh ngoài thành Edo trong suốt thời kỳ nắm quyền; ông không bao giờ đặt chân vào thành Edo với tư cách Tướng quân [16].

Phái đoàn Quân sự Pháp đến Nhật Bản, được Tokugawa Keiki mời để hiện đại hóa quân đội của ông, năm 1867.

Ngay khi Keiki lên ngôi Tướng quân, những sự thay đổi to lớn được thực hiên. Một sự xem xét lại kỹ lưỡng chính quyền được cam đoan để khởi động những cải cách để củng cố chính quyền Tokugawa. Đặc biêt là với sự giúp đỡ của Đệ nhị đế chế Pháp, với việc xây dựng kho súng Yokosuka dưới sự giám sát của Leonce Verny, và cử Phái đoàn Quân sự Pháp để hiện đại hóa quân đội Mạc phủ.[17]

Lục quân và Hải quân quốc gia, đã nằm dưới sự chỉ huy của nhà Tokugawa, được gia tăng sức mạnh với sự giúp đỡ của người Pháp, và các trang thiết bị quân sự được mua từ Hoa Kỳ.[18] Quan điểm của nhiều người rằng Mạc phủ Tokugawa đang đạt tới nền tảng quyền lực và sức mạnh mới; tuy vậy, thực tế thì nó sẽ sụp đổ trong vòng chưa đầy một năm sắp tới.

Chiến tranh Mậu Thìn (1867–1869)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chiến tranh Boshin

Lo sợ vì sự củng cố mới của Mạc phủ Tokugawa dưới sự lãnh đạo sáng suốt mà mạnh mẽ của người chủ mới, các võ sĩ từ Satsuma, Chōshū và Tosa kết liên minh để chống lại chế độ Mạc phủ. Dưới khẩu hiệu '"Tôn Hoàng, Nhương Di" (sonnō jōi) cùng với nỗi sợ hãi về một Tướng quân được mệnh danh là "Ieyasu tái sinh" sẽ tiếp tục tiếm đoạt quyền lực của Thiên hoàng, họ hành động để làm Mạc phủ sụp đổ, mặc dù họ khác nhau trong cách tiếp cận. Đặc biệt, Tosa vừa phải hơn, họ đề xuất một cuộc thương lượng nhờ đó Keiki sẽ từ ngôi Tướng quân, nhưng chủ trì một Hội đồng các Thống đốc Quốc gia bao gồm nhiều daimyo. Cuối cùng, Yamauchi Toyonori, daimyo Tosa, cùng với cố vấn của ông, Gotō Shōjirō, thỉnh cầu Keiki từ ngôi[19] để biến điều này thành hiện thực.

Keiki tuyên bố từ bỏ tước vị Chinh di Đại tướng quân năm 1867, chính thức "trả lại đại quyền" về cho Thiên hoàng.[20] Ông sau đó rời khỏi Kyoto để đến Osaka. Tuy vậy, các phiên Satsuma và Chōshū, trong khi ủng hộ một Hội đồng cai quản các lãnh chúa Đại danh, lại chống lại việc Keiki sẽ lãnh đạo nó.[19] Họ bí mật giành được một chiếu chỉ [19] kêu goi dùng quân đội đánh lại Keiki (sau này mới biết đó là giả mạo[21]) và đưa một số lượng lớn quân Satsuma và Chōshū đến Kyoto.[22] Có một cuộc họp tại Hoàng cung, ở đó Keiki bị tước mọi danh hiệu và đất đai [23], bất chấp việc ông không làm gì để có thể kết luận đó là sự công kích hay tội lỗi. Bất kỳ ai có thể chống lại việc đó đều không có mặt trong cuộc họp.[22] Keiki chống lại động thái đó, và soạn một bức thư phản đối gửi đến triều đình [24]; với sự thúc giục của những người từ Aizu, Kuwana, va các phiên khác, và với tình hình có một số lượng lớn quân Satsuma và Chōshū tại Kyoto, ông gửi đi kèm một số quân lớn để chuyển bức thư đến triều đình.[25]

Khi quân đội Tokugawa đến ngoại ô Kyoto, họ bị từ chối cho vào, và bị quân đội Satsuma và Choshu tấn công, mở đầu Trận Toba-Fushimi, trận đánh đầu tiên trong Chiến tranh Boshin.[26] Mặc dù quân đội Tokugawa có lợi thế rõ ràng về số lượng, Keiki từ bỏ quân đội mình vào giữa trận đánh, và chạy đến Edo[27]. Ông tự đặt mình vào thế giam cầm, và tỏ ý khuất phục triều đình. Tuy vậy, một thỏa ước hòa bình đạt được theo đó Tayasu Kamenosuke, chi trưởng một chi của gia đình Tokugaway, được nhận làm con nuôi và trở thành tộc trưởng của nhà Tokugawa[28]; thành Edo được trao cho quân đội triều đình[29] và thành phố tránh được họa chiến tranh.

Cùng với Kamenosuke (nay lấy tên là Tokugawa Iesato), Keiki chuyển đến Shizuoka, nơi Tokugawa Ieyasu, người sáng lập Mạc phủ Tokugawa đã an dưỡng tuổi già vài thế kỷ trước đó. Iesato được phong làm đại danh của phiên Shizuoka mới, nhưng mất tước hiệu này vài năm sau đó khi hệ thống phiên bị giải thể.

Nhiều hatamoto cũng đến định cư ở Shizuoka; một phần lớn trong số họ không tìm được những cách thức để nuôi sống bản thân mình. Kết quả là, nhiều người trong số họ bất mãn với Keiki, một số còn tới mức muốn ông phải chết.[30] Tokugawa Keiki nhận thức được điều này và lo sợ về một cuộc ám sát đến nỗi ông sắp xếp lại giấc ngủ của mình để đánh lừa một tên sát thủ có thể tới.[31]

Cuộc sống sau này[sửa | sửa mã nguồn]

Sống một cuộc đời hưu trí yên bình, Keiki có nhiều thú vui, bao gồm tranh sơn dầu, bắn cung, săn bắn, nhiếp ảnh, và thậm chí cả đạp xe.[32] Một vài bức ảnh của Keiki được xuất bản những năm gần đây bởi cháu 4 đời của ông là Yoshitomo.[33]

Năm 1902, Thiên hoàng Minh Trị cho phép ông tái lập gia tộc của riêng mình như một nhánh của nhà Tokugawa (bekke) với tước cao nhất trong hệ thống quý tộc, nhất đẳng công tước (kōshaku), vì sự phục vụ trung thành của ông với nước Nhật[34] Công tước Tokugawa Keiki qua đời ngày 21 tháng 11 năm 1913 lúc 4:10 chiều.

Các thời kỳ của Tướng quân Keiki[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm Ienari làm Chinh di Đại Tướng quân được nhận ra một cách đặc biệt hơn so với các niên hiệu khác ở Nhật Bản.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Takano, Tokugawa Yoshinobu, p. 257.
  2. ^ Takano, Tokugawa Yoshinobu, p. 26. Các con trai của daimyo Mito không lấy họ Tokugawa trừ khi chính họ trở thành daimyo tiếp theo.
  3. ^ Tokugawa, Tokugawa yonbyakunen no naishobanashi, pp. 138-140.
  4. ^ Takano, p. 28.
  5. ^ Takano, p. 38.
  6. ^ Takano, p. 48.
  7. ^ Borton, Japan's Modern Century, p. 40.
  8. ^ Borton, pp. 39-40.
  9. ^ Takano, pp. 12-13.
  10. ^ Murray, Japan, p. 362; Kobiyama, Matsudaira Katamori no shōgai, p. 75; Bolitho, Collapse of the Tokugawa Bakufu, p. 9.
  11. ^ Kobiyama, p. 75.
  12. ^ Takano, pp. 132-133.
  13. ^ Kobiyama, pp. 84-87; Totman, p. 45; Takano, p. 20.
  14. ^ See Japan 1853-1864, Or, Genji Yume Monogatari, trans. by Ernest Mason Satow. (Tokyo: Naigai Shuppan Kyokai), for more.
  15. ^ Borton, p. 63.
  16. ^ Tokugawa, Tokugawa yonbyakunen no naishobanashi, vol. 2, p. 162.
  17. ^ Sims, French Policy Towards the Bakufu and Meiji Japan, 1854-95, p. 236.
  18. ^ Treat, Japan and the United States: 1853-1921, p. 89
  19. ^ a ă â Beasley, The History of Modern Japan, p. 96.
  20. ^ Takano, p. 256.
  21. ^ Yamakawa, Aizu Boshin Senshi, pp. 7-9.
  22. ^ a ă Beasley, p. 97.
  23. ^ Beasley, p. 97; Yamakawa, Aizu Boshin Senshi, p. 148-151.
  24. ^ Totman, p. 416. Một bản copy từ bản gốc, xem Yamakawa, pp. 89-90.
  25. ^ Totman, p. 417.
  26. ^ Sasaki, pp. 23-24; Bolitho, pp. 420-422.
  27. ^ Kobiyama, p. 124.
  28. ^ Griffis, The Mikado: Institution and Person, p. 141.
  29. ^ Takano, p. 267.
  30. ^ Tokugawa Munefusa, Tokugawa yonbyakunen no naisho banashi, vol. 1, p. 131
  31. ^ Tokugawa, pp. 131-133
  32. ^ Tokugawa, p. 136-138.
  33. ^ Ví dụ về các bức ảnh của Keiki, xem: Tokugawa Yoshitomo, Tokugawa Yoshinobu-ke e yōkoso, p. 73.
  34. ^ Takano, p. 273.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Beasley, W.G. (1963). The modern history of Japan. (New York: Praeger).
  • Borton, Hugh (1955). Japan's Modern Century. (New York: The Ronald Press Company).
  • Griffis, William E. (1915). The Mikado: Institution and Person. (Princeton: Princeton University Press).
  • Kobiyama Rokurō (2003). Matsudaira Katamori no shōgai. (Tokyo: Shin Jinbutsu Ōraisha).
  • Murray, David (1905). Japan. (New York: G.P. Putnam's Sons).
  • Sasaki Suguru (1977). Boshin sensō. (Tokyo: Chūōkōron-shinsha).
  • Sims, Richard L. (1998). French Policy Towards the Bakufu and Meiji Japan, 1854-95. (London: Routledge).
  • Takano Kiyoshi 高野澄 (1997). Tokugawa Yoshinobu: kindai Nihon no enshutsusha 德川慶喜: 近代日本の演出者. (Tokyo: Nihon Hōsō Shuppan Kyōkai 日本放送出版協会).
  • Tokugawa Munefusa 徳川宗英 (2004). Tokugawa Yonbyaku-nen no naisho-banashi 徳川四百年の内緒話 Vol. 1. (Tokyo: Bungei-shunju).
  • Tokugawa Munefusa 徳川宗英 (2004). Tokugawa Yonbyaku-nen no naisho-banashi 徳川四百年の内緒話 Vol. 2: Raibaru tekishō hen. (Tokyo: Bungei-shunju).
  • Tokugawa Yoshitomo 徳川慶朝 (2003). Tokugawa Yoshinobu-ke ni Youkoso: Waga ie ni tsutawaru aisubeki "Saigo no Shogun" no Yokogao 徳川慶喜家にようこそわがが家に伝わる愛すべき「最後の将軍」の横顔. (Tokyo: Bungei-shunju). ISBN 4-16-765680-9
  • Totman, Conrad (1980). The Collapse of the Tokugawa Bakufu, 1862-1868. (Honolulu: University of Hawai'i Press)
  • Treat, Payson J. (1921). Japan and the United States: 1853-1921. (New York: Houghton Mifflin Company).
  • Yamakawa Kenjirō (1933). Aizu Boshin Senshi. (Tokyo: Tokyo Daigaku Shuppankai).

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Matsuura Rei 松浦玲 (1975). Tokugawa Yoshinobu: shōgun-ke no Meiji-ishin 德川慶喜: 將軍家の明治維新. (Tokyo: Chūōkōronsha 中央公論社).
  • Satow, Ernest M., trans. (1905). Japan 1853-1864, Or, Genji Yume Monogatari. (Tokyo: Naigai Shuppan Kyokai).
  • Shibusawa Eiichi 渋沢栄一, ed. (1967-1968) Tokugawa Yoshinobu-kō den 德川慶喜公伝. (Tokyo: Heibonsha 平凡社).

Works of fiction:

  • Shiba, Ryōtarō (1998). The Last Shogun: The Life of Tokugawa Yoshinobu, trans. Juliet Winters Carpenter. (New York: Kodansha International). ISBN 1-56836-246-3