Trang Hiến Thế tử

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul 사도세자 or 장헌세자 or 장조, 장종
Hanja (Hán tự) 思悼世子 or 莊獻世子 or 莊祖, 莊宗
Romaja quốc ngữ SadoSeja, JangHeonSeja, JangJo, JangZong
McCune-Reischauer SadoSeja, JangHeonSeja, JangJo, JangZong

Trang Hiến Thế tử (tiếng Triều Tiên:사도세자, Hanja:思悼世子, tháng một năm 1735 - tháng năm năm 1762) là con thứ hai của vua Triều Tiên Anh Tổ.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Trang Hiến thế tử sinh năm 1735 - Anh Tổ năm thứ 11 - tại xương Khánh cung, Tập Phúc hiên (昌慶宮集福軒).Tên húy ông là Lý Huyên (李愃, Yi Seon) Sau khi ông sinh được 1 năm, vua Anh Tổ sắc phong làm Vương Thế tử.

Do anh trai của ông, Hiếu Chương Thế tử đã chết trẻ vào năm 1728, Trang Hiến thế tử là người kế vị vương tộc Triều Tiên. Ngay từ nhỏ ông đã được giáo dục 1 cách nghiêm khắc. Anh Tổ năm thứ 25, do bắt gặp Thế tử đang chơi đùa với cung nữ tại Trữ Thừa điện nên vua Anh Tổ bắt đầu trở nên lạnh nhạt với Thế tử. Khoảng cách giữa Anh Tổ và Thế tử ngày càng xa dần, Thế tử bản tính rất sợ phụ vương nổi giận nên rất lo lắng, sau này nó phát triển thành chứng trầm cảm. Về sau khi bệnh càng ngày càng trầm trọng thì ông bắt đầu có các hành động khác như giết hại cung nữ hay đưa các tăng ni vào cung,...

Năm 1762 - Anh Tổ năm thứ 35 - vua Anh Tổ trở lại Xương Đức cung, quyết định phế vị Thế tử xuống làm thứ dân và yêu cầu ông tự vẫn. Sau khi tự vẫn không có kết quả, Anh Tổ đã ra lệnh nhốt Thế tử trong một vựa gạo lớn, nơi ông qua đời 8 ngày sau. Nhưng sau này vua Anh Tổ hết sức hối tiếc vì điều đó, đã ban thụy là Tứ Điệu (思悼, Sado)

Con trai của ông đã trở thành người kế vị, tức vua Triều Tiên Chính Tổ đã truy tôn hiệu ông là Trang Hiến (莊獻). Trong thế kỷ 19 có tin đồn rằng Trang Hiến Thế tử không này không bị bệnh tâm thần mà bị vu oan, tuy nhiên, những lời đồn là mâu thuẫn theo cuốn hồi ký của vợ ông. Về sau, con trai ông là Triều Tiên Chính Tổ đã khổ công tìm ra những chứng cứ để rửa sạch nỗi hàm oan cho cha mình.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Song thân[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hiến Kính Vương hậu họ Hồng hay Huệ Khánh cung ở Phong Sơn(獻敬王后 洪氏, 헌경왕후 홍씨, Heongyeong Wanghu Hongssi, 1735 - 1815). Bà là con gái của Vĩnh Phong phủ viện quân Hồng Phụng Hán (永豊府院君洪鳳漢) và Hàn Sơn phủ phu nhân họ Lý ở Hàn Sơn (韓山府夫人韓山李氏)
  • Túc tần họ Lâm ở Phù An (肅嬪林氏, Sukbin Imssi). Vốn là Lương đệ. Cao Tông năm thứ 36 truy phong Túc tần
  • Cảnh tần họ Phác (景嬪朴氏, Gyeongbin Parkssi, ? - 1761). Vốn là Thủ tắc. Cao Tông năm thứ 36 truy phong Quý nhân. Cao Tông năm thứ 38 truy phong Cảnh tần
  • Thủ tắc họ Lý (守則李氏). Vốn là Lương nhân. Chính Tổ năm thứ 15 phong vị Thủ tắc

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

Thụy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • 思悼綏德敦慶弘仁景祉章倫隆範基命彰休贊元憲誠啓祥顯熙莊獻世子
  • Tứ Điệu Tuy Đức Đôn Khánh Hoằng Nhân Cảnh Chỉ Chương Luân Long Phạm Cơ Mệnh Chương Hưu Tán Nguyên Hiến Thành Khải Tường Hiển Hi Trang Hiến Thế tử
  • 莊宗神文桓武莊獻廣孝大王
  • Trang Tông Thần Văn Hoàn Vũ Trang Hiến Quảng Hiếu Đại vương
  • Jangjong Sinmun Hwanmu Jangheon Qwanghyo Daewang

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]