Y tế Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phòng thí nghiệm ở Viện Pasteur Sài Gòn, nơi bào chế vắc-xin chích ngừa bệnh đậu mùa cho Việt Nam Cộng hòa

Y tế Việt Nam Cộng hòa là hệ thống cung cấp dịch vụ y khoa công cộng của Việt Nam Cộng hòa. Cơ cấu này tồn tại trong thời gian 20 năm, từ năm 1955 đến 1975.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ Y tế có tổng trưởng đứng đầu. Bộ trực tiếp điều hành một số bệnh viện công như Bệnh viện Từ Dũ, Bình dân, Nhi đồng, Vì dân, Hùng Vương[1]Chợ Lớn nhưng vào cuối thập niên 1960 thì nhiều cơ sở chuyển sang quy chế tự trị.

Bộ Y tế còn có cơ sở điều trị khác như Trung tâm bài trừ ma túy ở Ngã ba Tam Hiệp, Biên Hòa.[2]

Y tế dân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu bệnh viện[3]
Bệnh viện Số giường (số theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ) Số bệnh nhân trung bình
Chợ Rẫy 1.085 1.200
Hùng Vương 244 (147) 350
Hồng Bàng 459 (290) 600
Nhi đồng 443 500
Bình dân 350 (192) 350
Từ Dũ 435 600
Sài Gòn (Đô thành) 250 (150) 300
Nguyễn Văn Học 600 600
Chợ Quán 778 (442)

Dịch vụ y tế bắt đầu ở cấp . Mỗi xã có một ủy viên y tế và một nữ hộ sinh, thường gọi là "cô đỡ" trông coi và giúp đỡ sản phụ ở thôn quê. Ủy viên y tế làm việc dưới sự giám sát của Hội đồng xã.[4]

Ở cấp quận thì có Chi y tế dưới sự điều hành của cán sự y tế. Mỗi tỉnh thì có một bệnh viện thuộc Ty y tế. Trưởng ty y tế là một bác sĩ phụ trách chương trình y tế trong tỉnh. Giám đốc bệnh viện cũng là một bác sĩ y khoa. Bệnh nhân nhập viện vào các bệnh viện công cộng không phải trả tiền. Những bệnh viện công cộng lớn gồm có Bệnh viện Chợ Rẫy, Vì Dân, Bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn, và Bệnh viện Từ Dũ.

Tổng số bệnh viện dân sự toàn quốc vào năm 1965 là 101 cơ sở với 25.000 giường. Riêng thủ đô Sài Gòn có 11 bệnh viện công cộng cung cấp gần 5.000 giường.[5] Tính vào năm 1970 thì trên toàn quốc có hơn 570.000 ca nhập viện.[6]

Một số chuyên khoa có bệnh viện riêng như Bệnh viện Nhi đồng Sài Gòn. Khoa tâm thần có ba cơ sở chính: Bệnh viện Chợ Quán ở Sài Gòn, Bệnh viện Huế, và Bệnh viện Nguyễn Văn Hoài ở Biên Hòa.[5]

Nằm ngoài hệ thống của chính phủ là các phòng mạch, dưỡng đường và bệnh viện tư nhân (bốn bệnh viện ở Sài Gòn với hơn 800 giường). Vào giữa thập niên 1960 Việt Nam Cộng hòa có khoảng 800 bác sĩ y khoa.[5] Bệnh viện tư lớn phải kể Bệnh viện GrallBệnh viện Saint PaulSài Gòn, Bệnh viện Sùng Chính[7] (200 giường) ở Chợ Lớn.[8] Riêng Giáo hội Công giáo sở hữu 48 bệnh viện, 35 viện dưỡng lão, tám trại phong và 159 phòng phát thuốc.[9]

Quân y[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài hệ thống bệnh viện cho thường dân, vì tình hình chiến cuộc, Việt Nam Cộng hòa còn có hệ thống quân y viện và hệ thống tản thương. Trụ sở chính cũng là cơ sở lớn nhất là Tổng Y viện Cộng hòa ở Sài Gòn với 1.800 giường[10] trong khi ở những địa phương khác như Nha Trang, Quy Nhơn cũng có bệnh viện. Tổng số bệnh viện quân y là 19 cơ sở với 9.000 giường.[5]

Ngoài cơ sở điều trị là một số trung tâm hồi lực cho những thương binh. Ở Thủ Đức có nguyên một làng cho thương phế binh định cư.[11] Con số thương binh bị cụt tay chân là khoảng 35.000 người và 31.000 người mù mắt.[12]

Cơ sở đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài hai trường đại học y khoa ở Sài GònHuế đào tạo hơn 250 bác sĩ y khoa hằng năm, Việt Nam Cộng hòa có 11 trường y tá, mỗi năm cho tốt nghiệp gần 600 y tá vào thập niên 1970. Trong khi đó Trường Đại học Dược khoa Sài Gòn cung cấp 542 dược sĩ năm 1970.[13]

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình y tế công cộng ở miền Nam Việt Nam gồm những dịch vụ bài lao, chống cùi, trừ muỗi để ngừa bệnh sốt rét.

Đối với sản phụ và nhi đồng thì có chương trình "Bảo trợ mẫu nhi" và chiến dịch chích ngừa các bệnh truyền nhiễm như bạch hầu, uốn ván, ho gà cho các trẻ nhỏ. Viện Pasteur Sài Gòn, Nha TrangĐà Lạt cung cấp vắc-xin bào chế ở quốc nội cho các đợt chích ngừa bệnh đậu mùa.[5]

Chính phủ còn điều hành 16 trung tâm kế hoạch gia đình hầu giúp nữ bệnh nhân tự kiểm soát sinh đẻ.[14]

Nhân vật liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bác sĩ Trần Đình Đệ: Tổng trưởng Y tế 1960-1963[15]
  • Bác sĩ Trần Lữ Y: Tổng trưởng Y tế[16]
  • Bác sĩ Trần Minh Tùng: Tổng trưởng Y tế[17] 1969-1973[18]

Tham khảo & chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Từ Uyên. "Y tế Việt Nam: hôm qua, hôm nay, ngày mai". Truyền Thông số 37-38. St-Léonard, Canada, 2010. tr 217-244.
  • Ruhe, William et al. Saigon Medical School, An Experiment in International Medical Education. American Medical Association, 1998.
  1. ^ Lịch sử Bệnh viện Hùng Vương
  2. ^ Trại tù T 4 Hồi ký
  3. ^ Ruhe, trang 18
  4. ^ Donoghe, John. Cam An a Fishing Village in Central Vietnam. Saigon: Michigan State University Vietnam Advisory Group. 1961.
  5. ^ a ă â b c Smith, Harvey, et al. Handbook for South Vietnam. Washington, DC: US Government Printing Office, 1967. tr 128-33.
  6. ^ "Public Health Program". Vietnam Magazine. Vol IV, No 9, 1971. tr 4
  7. ^ Sau năm 1975 là Trung tâm chấn thương chỉnh hình
  8. ^ Quá tải bệnh viện... theo Tinnhanh.com
  9. ^ Nguyễn Văn Lục. "Sài Gòn không còn ngày". Nguồn Bộ III số 26, 2006. tr 25-32.
  10. ^ "Hope Comes to Vitims with Disfigured Faces". Viet Nam Magazine. Vol IV. No 2, 1971. tr 18-21
  11. ^ Vietnam Y tế
  12. ^ "Public Health Program". Vietnam Magazine. Vol IV, No 9, 1971. tr 10
  13. ^ "Public Health Program". Vietnam Magazine. Vol IV, No 9, 1971. tr 6-7
  14. ^ "Public Health Program". Vietnam Magazine. Vol IV, No 9, 1971. tr 11
  15. ^ Tưởng nhớ giáo sư Trần Đình Đệ
  16. ^ Lễ tưởng niệm Bác sĩ Trần Lữ Y
  17. ^ Thông báo tang lễ Bác sĩ Trần Minh Tùng
  18. ^ "Cựu Tổng Trưởng Y Tế VNCH, bác sĩ Trần Minh Tùng, vừa qua đời"