Phong cùi
| Leprosy (Hansen's disease) | |
|---|---|
| Phân loại và tư liệu bên ngoài | |
Một người đàn ông Na Uy 24 tuổi với các triệu chứng phong cùi trên mặt |
|
| ICD-10 | A30. |
| ICD-9 | 030 |
| OMIM | 246300 |
| DiseasesDB | 8478 |
| MedlinePlus | 001347 |
| eMedicine | med/1281 derm/223 neuro/187 |
| MeSH | D007918 |
| Wikipedia tiếng Việt không bảo đảm tính pháp lý cho các thông tin có liên quan đến y học và sức khỏe. Đề nghị liên hệ và nhận tư vấn từ các bác sĩ hay các chuyên gia. |
Bệnh phong, còn gọi là bệnh hủi hay cùi, do vi khuẩn Hansen gây ra. Vì không có bào tử nên vi khuẩn này không lây qua vật chủ trung gian. Khi ở ngoài, nó chỉ tồn tại được 1 đến hai ngày.
Mục lục |
Mô tả [sửa]
Da thịt người mắc bệnh thường phát nhọt, lở loét. Khi nặng hơn vết thương lõm vào da thịt. Lông mày rụng, mắt lộ ra, thanh quản bị lở nên giọng nói khàn.
Tình trạng mất cảm giác xuất hiện ở một vài bộ phận trên cơ thể do dây thần kinh bị nhiễm trùng. Sau đó các bắp thịt tiêu đi, gân cốt co làm hai bàn tay co quắp. Ở mức độ nặng ngón tay ngón chân rụng dần.
Góc độ xã hội và sự lây nhiễm [sửa]
Trong xã hội Việt Nam, người bị nhiễm bệnh trước đây thường chịu thành kiến sai lầm, chịu sự hắt hủi, xa lánh thậm chí bị ngược đãi (trôi sông, chôn sống, bỏ vào rừng cho thú dữ ǎn thịt).
Thực ra bệnh chỉ lây khi tiếp xúc lâu dài với các thể phong nặng (phong hở) như phong ác tính, phong đang tiến triển, chảy nước mũi nhiều và có tổn thương lở loét ở da, ở bàn tay, bàn chân.
Các thể phong nhẹ khác như phong bất định, phong củ ít có khả nǎng lây hơn nhiều.
Tỷ lệ lây giữa vợ chồng chỉ là 2-3%. Bệnh không di truyền và có thể chữa khỏi.
Hiện có nhiều loại thuốc điều trị rất có hiệu quả. Trong đó khi dùng thuốc Rifampicine sau 5 ngày sẽ hạn chế khả năng lây lan của vi khuẩn tới 99,9%.
Tại Việt Nam [sửa]
Việt Nam có các trại phong ở Quỳnh Lập, Vǎn Môn, Sóc Sơn (Hà Nội), Phú Bình, Sơn La, Quy Hòa, Bến Sắn, Đắc Nông, Chư Prông, Đức Cơ - thuộc tỉnh Gia Lai (chỗ này thực chất không phải là một trại phong chính thức (được tổ chức qui củ, cụ thể và có kèm theo bệnh viện, trạm xá, nhân viên y tế). Đây là một làng, nằm ở trong rừng, có cư dân là những bệnh nhân phong sống với nhau. Hiện nay có vài tu sĩ Công Giáo đang cùng họ chiến đấu với bệnh phong ở đây).
Hiện nay ở Việt nam, con số bệnh nhân phong cùi tiềm tàng có từ 120.000 đến 150.000, 23.371 đã được chữa lành, 18.000 còn biểu hiện di chứng, tỷ lệ mắc phải 0,1/10.000 (1/100.000 dân), tổng số làng phong đếm được là 13.
| Tên trại | Địa điểm | Sáng lập | Dân số | Bệnh nhân |
|---|---|---|---|---|
| Bến Sắn | Bình dương | 1959 | 39 hộ | 664 |
| Bình Minh | Đồng nai | 1974 | 295 hộ | 141 |
| Cẩm Thủy | Thanh hóa | 1967 | - | 70 |
| Di Linh | Lâm đồng | 1927 | 30 hộ | 150 (1) |
| Đắc Kia | Kontum | 1920 | Nhi | 373 |
| Phú Bình | Thái nguyên | 1960 | 200 hộ | 105 |
| Phước Tân | Đồng nai | 1968 | ? | 270 (2) |
| Quả Cảm | Bắc Ninh | 1913 | ? | 257 |
| Quy Hòa | Quy nhơn | 1929 | 365 hộ | 430 (3) |
| Quỳnh Lập | Quỳnh lưu | 1957 | ? | 300 |
| Sóc Sơn | Hà nội | ? | ? | 31 |
| Thanh Bình | Tp HCM | 1967 | 105 hộ | 357 |
| Văn Môn | Thái bình | 1900 | > 600 | 366 (4) |
(1): do cha Jean Cassaigne (1895-1973), Hội Thừa Sai sáng lập.
(2): do Giáo hội Tin Lành và mạnh thường quân Na Uy sáng lập.
(3): do Cha Paul Maheu sáng lập (Ngày 3 tháng 3 năm 1930, một buổi diễn thuyết được BS Lemoine và cha Maheu tổ chức ở Saigon, do các giám mục địa phận Saigon (Dumortier), Quy Nhơn (Tardieu), Gouin (Lào) và Blois (Thẩm Dương) bảo trợ ngõ hầu vận động đóng góp tài chánh cho công trình xây dựng trại phong Quy Hòa cho hơn 1500 bệnh nhân. Sau đợt này, nhà nước thuộc địa cũng vận động sáng lập một trại khác ở Cù lao Rồng (Mỹ Tho), đến năm 1971 được giải thể, dời vào Qui Hòa.
(4): lâu đời nhất và đông nhất Bắc kỳ.
Tham khảo [sửa]
- "A Saigon dans les annees 30, un journal militant:<<La Lutte>> (1933-1937): Daniel Hémery [1]
- "Prevention et traitement de la lèpre en Indochine": Exposition coloniale internationale. Paris 1931, par les Drs Gaide, medecin-géneral, inspecteur géneral des Services sanitaires et médicaux en Indochine et Bodet, médecin lieutenant-colonel, adjoint à l'Inspecteur géneral. Éd. IDEO (Imprimeries d'Extreme-Orient), in-8o, 47 pp, Hanoi, 1930 [ở Đông dương vào năm 1900, có từ 12.000 đến 15.000 bệnh nhân phong trên tổng dân số 13 triệu, ước tính riêng ở VN là trên dưới 10.000, chia ra, Bắc kỳ (5000), Trung kỳ (2000), Nam kỳ (5000) ].
- "Étude sur la Lèpre dans la péninsule Indochinoise et dans le Yunnan" Edouard Jeanselme Éd G.Carre et C.Naud, 1900 (Năm 1898, Édouard Jeanselme được chính phủ Pháp phái qua Đông Dương, Diến Điện, Indonesia, Xiêm và Trung Quốc để nghiên cứu và khảo sát thổ nhưỡng của bệnh phong cùi trong 18 tháng).
- "La Lèpre" Édouard Jeanselme, 700 pages, Paris, 1934.
- "La protection de la maternite et de l'enfance dans les colonies: la Lèpre" Chronique documentaire 80 II, Chap.IV, BIU Sante, Drs Grosfilez et Lefevre, 1938 [năm 1938, theo tư liệu này, số bệnh nhân phong cùi ở VN là 8.104, gồm, Bắc kỳ (2.772), Nam kỳ (4.132), nghĩa là, Nam kỳ chiếm xấp xỉ 55%, Bắc kỳ chiếm 35%, Trung kỳ 10%], con số thực tế lẽ ra phải cao hơn nhiều, do chưa tính số bệnh tiềm tàng lẩn trốn tăng vọt từ khi có quyết định xây dựng trại phong, theo chính sách bản xứ của tân Toàn quyền Đông Dương Albert Sarrault (1911-1914) rồi (1916-1919), vì sợ bị đầy ải vào đó và mặc cảm bị phân biệt, kỳ thị).
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Phong cùi. |
- Phong cùi trên trang Open Directory Project
| Bài này còn sơ khai. Mời bạn góp sức viết thêm để bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp về cách sửa bài. |