Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Chóng mặt lành tính do tư thế”

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Tạo với bản dịch của trang “Benign paroxysmal positional vertigo”)
(Không có sự khác biệt)

Phiên bản lúc 17:50, ngày 27 tháng 4 năm 2020

Chóng mặt lành tính do tư thế là một rối loạn phát sinh từ một vấn đề ở tai trong . [1] Các triệu chứng được lặp đi lặp lại, những đợt chóng mặt ngắn ngủi với chuyển động, nghĩa là cảm giác quay tròn khi thay đổi vị trí của đầu. [2] Điều này có thể xảy ra với việc xoay người trên giường hoặc thay đổi vị trí. Mỗi đợt chóng mặt thường kéo dài dưới một phút. Buồn nôn thường cũng xảy ra. [3] Rối loạn tiền đình là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của chứng chóng mặt. [4]

Chóng mặt lành tính do tư thế có thể là kết quả của chấn thương đầu hoặc đơn giản là xảy ra ở những người lớn tuổi. Một nguyên nhân cụ thể thường không được tìm thấy. Cơ chế cơ bản liên quan đến một otolith bị vôi hóa di chuyển lỏng lẻo bên trong tai trong. Đây là một loại rối loạn cân bằng cùng với viêm tai trongbệnh Ménière . [1] Chẩn đoán thường được thực hiện khi xét nghiệm Dixp Hallpike cho kết quả là chứng giật nhãn cầu (một kiểu chuyển động cụ thể của mắt) và các nguyên nhân có thể khác đã được loại trừ. [2] Trong đa số trường hợp, việc chụp hình ảnh y tế là không cần thiết.

Chóng mặt lành tính do tư thế thường được điều trị bằng một số động tác đơn giản như thao tác Epley hoặc bài tập Brandt-Daroff . [1] [5] Thuốc có thể được sử dụng để giúp buồn nôn . Có bằng chứng dự kiến rằng betahistine có thể giúp điều trị chứng chóng mặt nhưng nhìn chung việc sử dụng nó không cần thiết. [2] [6] Chóng mặt lành tính do tư thế không phải là một tình trạng nghiêm trọng. Thông thường nó giải quyết trong vài ngày đến vài tháng. [7] Nó, tuy nhiên, có thể tái phát ở một số người. [3]

Mô tả y tế đầu tiên về tình trạng này được Robert Barany mô tả vào năm 1921. [8] Khoảng 2,4% số người bị ảnh hưởng tại một số thời điểm trong đời. [2] Trong số những người sống đến 80 tuổi, 10% đã bị ảnh hưởng. [4] Chóng mặt lành tính do tư thế ảnh hưởng đến nữ gấp đôi so với nam. [3] Khởi phát bệnh thường xuất hiện ở những người trong độ tuổi từ 50 đến 70.

  1. ^ a b c “Balance Disorders”. NIDCD. 10 tháng 8 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2016.
  2. ^ a b c d Bhattacharyya N, Baugh RF, Orvidas L, Barrs D, Bronston LJ, Cass S, Chalian AA, Desmond AL, Earll JM, Fife TD, Fuller DC, Judge JO, Mann NR, Rosenfeld RM, Schuring LT, Steiner RW, Whitney SL, Haidari J (tháng 11 năm 2008). “Clinical practice guideline: benign paroxysmal positional vertigo”. Otolaryngology–Head and Neck Surgery. 139 (5 Suppl 4): S47-81. doi:10.1016/j.otohns.2008.08.022. PMID 18973840. Tóm lược dễ hiểuAAO-HNS (1 tháng 11 năm 2008).
  3. ^ a b c “Positional vertigo: Overview”. PubMed Health (bằng tiếng Anh). 30 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2016.
  4. ^ a b Dickson, Gretchen (2014). Primary Care ENT, An Issue of Primary Care: Clinics in Office Practice, Volume 41, Issue 1 of The Clinics: Internal Medicine. Elsevier Health Sciences. tr. 115. ISBN 9780323287173. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2016.
  5. ^ Hilton MP, Pinder DK (tháng 12 năm 2014). “The Epley (canalith repositioning) manoeuvre for benign paroxysmal positional vertigo”. The Cochrane Database of Systematic Reviews (12): CD003162. doi:10.1002/14651858.CD003162.pub3. PMID 25485940.
  6. ^ Murdin L, Hussain K, Schilder AG (tháng 6 năm 2016). “Betahistine for symptoms of vertigo” (PDF). The Cochrane Database of Systematic Reviews (6): CD010696. doi:10.1002/14651858.CD010696.pub2. PMID 27327415.
  7. ^ “Benign Paroxysmal Positional Vertigo”. NORD (National Organization for Rare Disorders). Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2020.
  8. ^ Daroff, Robert B. (2012). “Chapter 37”. Bradley's neurology in clinical practice (ấn bản 6). Philadelphia, PA: Elsevier Saunders. ISBN 9781455728077. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2016.