Đảng Cộng sản Hoa Kỳ
Đảng Cộng sản Hoa Kỳ | |
|---|---|
| Cơ quan thường trực | Đại hội Toàn quốc[1] |
| Đồng chủ tịch | Joe Sims Rossana Cambron |
| Người sáng lập | C. E. Ruthenberg[2] Alfred Wagenknecht |
| Thành lập | 1 tháng 9 năm 1919 |
| Sáp nhập | Communist Party of America Communist Labor Party of America United Toilers of America Workers Party of America |
| Chia tách | Đảng Xã hội Mỹ |
| Tiền thân | Left Wing Section of the Socialist Party |
| Trụ sở chính | 235 W 23rd St, New York, New York 10011 |
| Báo chí | People's World[3] |
| Tổ chức thanh niên | Young Communist League[note 1] |
| Số lượng thành viên (2026) | |
| Hệ tư tưởng | |
| Khuynh hướng | Cực tả[9] |
| Thuộc tổ chức quốc tế | Hội nghị quốc tế của các đảng Cộng sản và Công nhân (từ năm 1998) Đệ Tam Quốc tế (cho đến năm 1943) |
| Mà sắc chính thức | Đỏ |
| Khẩu hiệu | "People and Planet Before Profits" |
| Thành viên giữ chức vụ dân cử | 5[10][11][12][13][14] |
| Đảng kỳ | |
| Website | |
| www | |
Đảng Cộng sản Hoa Kỳ (Communist Party of the United States of America, ĐCSHK) là một đảng cộng sản ở Hoa Kỳ. ĐCSHK được thành lập vào năm 1919 sau Cách mạng Nga, tiền thân là cánh tả của Đảng Xã hội Mỹ. Đảng Cộng sản Hoa Kỳ chủ trương thiết lập chủ nghĩa xã hội ở Hoa Kỳ trên cơ sở chủ nghĩa Marx–Lenin, liên kết với Đệ Tam Quốc tế. ĐCSHK được coi là tổ chức cánh tả quan trọng nhất ở Hoa Kỳ cho đến giữa thế kỷ 20.[15]
Trong những năm đầu, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ có các cuộc đấu đá phe phái nội bộ và các hoạt động bí mật. Chính phủ Hoa Kỳ coi ĐCSHK là một mối đe dọa lật đổ chính phủ và tiến hành các vụ bắt giữ, trục xuất hàng loạt trong các cuộc truy quét Palmer. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ mở rộng ảnh hưởng, đặc biệt là trong giới công nhân công nghiệp, người nhập cư và người Mỹ gốc Phi. Vào thập niên 1920, ĐCSHK là một lực lượng nhỏ nhưng hiếu chiến. Trong thời kỳ Đại khủng hoảng, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức công đoàn và các phong trào chống phát xít dưới sự lãnh đạo của William Z. Foster và sau đó là Earl Browder. ĐCSHK khẳng định vị thế như một lực lượng đáng gờm trong phong trào lao động Hoa Kỳ thông qua các cuộc đình công, đặc biệt là thông qua Liên đoàn Công đoàn Công nghiệp. Vào giữa thập niên 1930, ĐCSHK theo đường lối "mặt trận bình dân" của Đệ Tam Quốc tế, liên minh với những thành phần tiến bộ và tự do. Đảng Cộng sản Hoa Kỳ ủng hộ Chính sách kinh tế mới của Franklin D. Roosevelt, thu hút sự ủng hộ của một bộ phận dân số. Số lượng đảng viên tăng vọt, ước tính đạt 70.000 người vào cuối thập niên 1930. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, ĐCSHK ban đầu phản đối Hoa Kỳ tham chiến, nhưng thay đổi lập trường sau khi Đức xâm lược Liên Xô vào năm 1941. Năm 1945, Earl Browder bị khai trừ khỏi đảng, chấm dứt giai đoạn mặt trận bình dân.
Đảng Cộng sản Hoa Kỳ chịu tổn thất nặng nề vào đầu Chiến tranh Lạnh khi vai trò của đảng trong các hoạt động gián điệp của Liên Xô tại Hoa Kỳ bị phanh phui. Vụ xét xử các lãnh đạo Đảng Cộng sản theo Luật Smith, một phần của chủ nghĩa McCarthy, làm suy yếu ĐCSHK và làm giảm số lượng đảng viên giảm xuống dưới 10.000 người vào giữa thập niên 1950. Chính sách tan băng của Khrushchyov và những tội ác của Iosif Stalin làm chia rẽ nội bộ đảng, khiến cho nhiều đảng viên rời bỏ đảng. Đảng Cộng sản Hoa Kỳ có vai trò mờ nhạt trong các phong trào xã hội vào thập niên 1960 và 1970. Tuy ủng hộ phong trào dân quyền, công đoàn và phong trào phản chiến trong Chiến tranh Việt Nam, nhưng ĐCSHK bị các tổ chức Cánh tả Mới chỉ trích vì tuân thủ cứng nhắc chủ nghĩa cộng sản Liên Xô. Chia rẽ Trung-Xô càng làm rạn nứt phong trào cộng sản, một số cựu đảng viên đào tẩu sang các nhóm theo Tư tưởng Mao Trạch Đông hoặc chủ nghĩa Trotsky. Dưới sự lãnh đạo của Gus Hall, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ tiếp tục trung thành với Liên Xô ngay cả khi những đảng cộng sản khác xa rời xa Liên Xô, khiến đảng bị gạt ra ngoài lề trong cánh tả Hoa Kỳ. Năm 1991, Liên Xô giải thể, giáng một đòn nặng nề vào ĐCSHK, dẫn đến khó khăn tài chính và số lượng đảng viên tiếp tục giảm.
Trong thế kỷ 21, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ tập trung vào các vấn đề quyền lao động, chống phân biệt chủng tộc, bảo vệ môi trường, chống chủ nghĩa tư bản doanh nghiệp và tiếp tục tham gia vào chính trị cánh tả. People's World là tờ nhật báo chính thức của ĐCSHK. Đến tháng 5 năm 2026, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ đang tái lập tạp chí lý luận, Political Affairs.[16]
Thành viên
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 2023, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ tuyên bố có 15.000 đảng viên.[17] Năm 2024, ĐCSHK tuyên bố có 20.000 người đăng ký danh sách gửi thư.[18] Trong cùng năm, The Guardian đưa tin rằng Đảng Cộng sản Hoa Kỳ có 5.000 đảng viên.[19]
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]
Trong nửa đầu thế kỷ 20, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ có ảnh hưởng trong nhiều cuộc đấu tranh. Nhà sử học Ellen Schrecker kết luận rằng hàng thập kỷ nghiên cứu gần đây cho thấy ĐCSHK một mặt là "một giáo phái theo chủ nghĩa Stalin gắn liền với một chế độ tàn bạo" mặt khác là tổ chức năng động nhất trong cánh tả Hoa Kỳ vào thập niên 1930 và 1940. Đảng Cộng sản Hoa Kỳ cũng là chính đảng đa chủng tộc đầu tiên ở Hoa Kỳ.[20]
Tháng 8 năm 1919, chỉ vài tháng sau khi thành lập, Đảng Cộng sản tuyên bố có từ 50.000 đến 60.000 đảng viên. Đảng Cộng sản cũng bao gồm những thành phần theo chủ nghĩa vô trị và những thành phần cánh tả cấp tiến khác. Vào thời điểm đó, Đảng Xã hội Mỹ chỉ còn 40.000 đảng viên vì bị truy tố hình sự về lập trường phản chiến trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Các chi bộ của Tổ chức Công nhân Quốc tế thuộc Đảng Cộng sản tổ chức chủ nghĩa cộng sản dựa trên ngôn ngữ và sắc tộc, cung cấp tương trợ và thực hiện các hoạt động văn hóa cho các thành viên Tổ chức Công nhân Quốc tế, đạt đỉnh điểm 200.000 người.[21]
Trong thời kỳ Đại khủng hoảng, Đảng Cộng sản tranh thủ một bộ phận dân số nhờ hoạt động tích cực của đảng trong các phong xã hội và kinh tế, bao gồm quyền của người Mỹ gốc Phi, quyền lao động và người thất nghiệp. Đảng Cộng sản đóng một vai trò quan trọng trong sự hồi sinh của phong trào lao động vào thập niên 1930.[22] Lập trường chống phát xít, thân Liên Xô của Đảng Cộng sản cũng thu hút những người lo ngại trước sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít ở Tây Ban Nha và Đức. Số lượng đảng viên Đảng Cộng sản tăng từ 7.500 người vào đầu thập niên lên 55.000 người vào cuối thập niên.[23]
Trong Nội chiến Tây Ban Nha, Đảng Cộng sản vận động ủng hộ Đệ Nhị Cộng hòa Tây Ban Nha.[24] Đảng Cộng sản Liên Xô và những tổ chức cánh tả trên khắp thế giới gây quỹ cứu trợ y tế Tây Ban Nha, trong khi nhiều đảng viên gia nhập Lữ đoàn Lincoln, một trong những Lữ đoàn Quốc tế, để hỗ trợ chính phủ Cộng hòa Tây Ban Nha.[25][24]

Đảng Cộng sản kiên quyết phản đối chủ nghĩa phát xít trong thời kỳ mặt trận bình dân. Số lượng đảng viên tăng lên khoảng 66.000 người vào năm 1939,[24] nhưng gần 20.000 đảng viên rời khỏi đảng vào năm 1943.[24] Vào đầu Chiến tranh thế giới thứ hai, Tổng Bí thư Earl Browder chỉ trích Đức xâm lược Ba Lan, nhưng Đảng Cộng sản sau đó nhận được một thông cáo từ Liên Xô yêu cầu ngừng ủng hộ chính phủ Ba Lan.[26] Từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 9, các lãnh đạo đảng tranh cãi về hướng đi của đảng.[26]

Ngày 17 tháng 9, Liên Xô xâm lược Ba Lan, sau đó phối hợp với lực lượng Đức ở Ba Lan theo Hiệp ước Xô-Đức.[27][28] Đảng Cộng sản chuyển trọng tâm vận động từ chống phát xít sang ủng hộ hòa bình, phản đối việc chuẩn bị quân sự. Đảng Cộng sản chỉ trích Thủ tướng Anh Neville Chamberlain và Thủ tướng Pháp Édouard Daladier, nhưng không công kích Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt, cho rằng điều này có thể gây tổn thất cho phong trào cộng sản tại Hoa Kỳ, thay vào đó đổ lỗi cho các cố vấn của Roosevelt.[29] Đảng Cộng sản lan truyền các khẩu hiệu và tiến hành một "cuộc canh thức hòa bình vĩnh viễn" trước Nhà Trắng, tuyên bố rằng Roosevelt là người đứng đầu "đảng hiếu chiến của giai cấp tư sản Mỹ".[30] Đảng Cộng sản hoạt động tích cực trong Ủy ban Ưu tiên nước Mỹ theo chủ nghĩa biệt lập. Sau khi Liên Xô xâm lược Phần Lan và buộc Estonia, Latvia và Litva ký các hiệp ước tương trợ, Đảng Cộng sản biện minh cho các hành động này là cần thiết vì an ninh của Liên Xô.[31] Tổng Bí thư Đệ Tam Quốc tế Georgi Dimitrov yêu cầu Browder ngừng ủng hộ Roosevelt.[31] Ngày 23 tháng 10, Đảng Cộng sản bắt đầu công kích Roosevelt.[30] Đảng Cộng sản bắt đầu ủng hộ Hoa Kỳ tham chiến sau khi Đức xâm lược Liên Xô vào ngày 22 tháng 6 năm 1941.
Sau khi đặc vụ Bộ Dân ủy Nội vụ Liên Xô Ramón Mercader ám sát Trotsky vào tháng 8 năm 1940, Browder tiếp tục duy trì quan điểm của Liên Xô rằng hung thủ là một người từng ủng hộ Trotsky nhưng vỡ mộng và đang hẹn hò với một trong những thư ký của Trotsky.[32]

Năm 1954, Quốc hội thông qua Luật Kiểm soát Cộng sản, cấm Đảng Cộng sản Hoa Kỳ, nhưng đạo luật không được được thực thi triệt để và một số điều khoản của đạo luật bị tòa án hủy bỏ vì vi phạm Hiến pháp Hoa Kỳ.[33] Năm 1957, số lượng đảng viên giảm xuống dưới 10.000 người, trong đó có khoảng 1.500 người là mật thám của Cục Điều tra Liên bang.

Đảng Cộng sản Hoa Kỳ cố gắng phục hồi bằng cách tham gia phong trào phản chiến trong Chiến tranh Việt Nam và phong trào dân quyền, nhưng sự ủng hộ vô điều kiện Liên Xô của đảng khiến cánh tả Hoa Kỳ gạt đảng này ra ngoài lề. Đồng thời, thành phần đảng viên của Đảng Cộng sản Hoa Kỳ ngày càng già đi, khiến đảng này xa rời Cánh tả Mới.[34]
Đảng Cộng sản Hoa Kỳ phản đối chính sách glasnost và perestroika của Mikhail Sergeyevich Gorbachyov, khiến Đảng Cộng sản Liên Xô cắt giảm mạnh nguồn tài trợ cho ĐCSHK vào năm 1989. Sau khi Liên Xô giải thể, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ triệu tập đại hội về việc duy trì chủ nghĩa Marx–Lenin. Đại hội khẳng định lại ĐCSHK là một đảng theo chủ nghĩa Marx thuần túy, khiến thành phần theo chủ nghĩa xã hội dân chủ ly khai khỏi đảng. Điều lệ đảng năm 2001 tuyên bố chủ nghĩa Marx–Lenin là kim chỉ nam của đảng.[35] Dự thảo điều lệ đảng năm 2014 tuyên bố vận dụng sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học trong bối cảnh lịch sử, văn hóa, truyền thống của Hoa Kỳ.

Đảng Cộng sản có trụ sở tại Thành phố New York. Từ năm 1922 đến năm 1988, ĐCSHK xuất bản Morgen Freiheit, một tờ nhật báo bằng tiếng Yiddish.[36] Trong nhiều thập kỷ, tờ báo của Đảng Cộng sản tại Bờ Tây là People's World và tờ báo tại Bờ Đông là The Daily World. Năm 1986, ĐCSHK hợp nhất hai tờ báo này thành People's Weekly World. People's Weekly World sau đó trở thành một ấn phẩm trực tuyến và đổi tên thành People's World. Đảng Cộng sản không còn tài trợ tờ báo.[37] Political Affairs là tạp chí lý luận cũ của ĐCSHK, đình bản vào năm 2016. International Publishers là nhà xuất bản của đảng.

Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Hoa Kỳ lần thứ 30 được tổ chức tại Chicago vào tháng 6 năm 2014.[38] Ngày 7 tháng 4 năm 2021, ĐCSHK tuyên bố sẽ bắt đầu tham gia bầu cử sau hơn 30 năm.[39] Steven Estrada là một trong những ứng cử viên đầu tiên tranh cử với tư cách là đảng viên ĐCSHK, ứng cử thành viên hội đồng thành phố ở Long Beach, tuy các cuộc bầu cử địa phương ở Long Beach chính thức là phi đảng phái.[40] Estrada nhận được 8,5% số phiếu bầu.[41] Năm 2025, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ tăng cường tham gia bầu cử. Hai ứng cử viên thành viên hội đồng thành phố của ĐCSHK ở Ithaca và Northampton vượt qua vòng bầu cử sơ bộ.[42] Tháng 11 năm 2025, Hannah Shvets, ứng cử viên ở Ithaca,[11] trúng cử với 64% số phiếu bầu.[43] Ngoài ra, Daniel Carson, một đảng viên,[12] trúng cử thành viên hội đồng thành phố Bangor, về nhì trong số chín ứng cử viên[44] trong một cuộc bầu cử phi đảng phái.[10][45]
Tháng 7 năm 2024, một bộ phận Đảng Cộng sản Hoa Kỳ ly khai thành lập Đảng Cộng sản Mỹ vì phản đối việc ĐCSHK ủng hộ Đảng Dân chủ và và cho rằng đảng đã từ bỏ chủ nghĩa Marx–Lenin.[46][47]
Cơ cấu tổ chức
[sửa | sửa mã nguồn]Điều lệ đảng
[sửa | sửa mã nguồn]Điều lệ Đảng Cộng sản Hoa Kỳ hiện hành được ban hành vào năm 2025, quy định ĐCSHK hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Đại hội toàn quốc là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Hoa Kỳ, được bầu với nhiệm kỳ bốn năm.
Hệ tư tưởng
[sửa | sửa mã nguồn]Cương lĩnh đảng
[sửa | sửa mã nguồn]Cương lĩnh đảng hiện tại được ban hành vào năm 2019 và được sửa đổi, bổ sung vào năm 2025. Nội dung bao gồm tăng lương tối thiểu, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; chống tư nhân hóa chương trình An sinh xã hội; tăng thuế đối với người giàu và các tập đoàn; siết chặt quản lý ngành tài chính; quản lý và thực hiện công hữu các tiện ích; tăng viện trợ liên bang cho các thành phố, tiểu bang; chống độc quyền; phản đối chiến tranh; phản đối các hiệp định thương mại tự do như Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ; giải trừ hạt nhân và giảm ngân sách quốc phòng; đảm bảo quyền công dân; cải cách tài chính vận động tranh cử, bao gồm tài trợ nhà nước cho các ứng cử viên; và sửa đổi luật bầu cử, bao gồm thực hiện bầu cử thay thế.[48]
Chủ nghĩa xã hội
[sửa | sửa mã nguồn]Đảng Cộng sản Hoa Kỳ chủ trương "xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Hoa Kỳ dựa trên truyền thống và cuộc đấu tranh cách mạng" của lịch sử Mỹ và mở rộng Tuyên ngôn nhân quyền Hoa Kỳ, bao gồm bổ sung quyền tự do khỏi thất nghiệp, nghèo đói, mù chữ, phân biệt đối xử và áp bức.
Dựa trên Tuyên ngôn Đảng Cộng sản (1848) của Karl Marx và Friedrich Engels, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ chủ trương xóa bỏ sở hữu tư nhân các ngành công nghiệp lớn, các tổ chức tài chính, các tập đoàn lớn khác và sự xa hoa thái quá của giới siêu giàu, nhưng đồng thời bảo vệ quyền sở hữu cá nhân của người lao động.
Đối ngoại
[sửa | sửa mã nguồn]Đảng Cộng sản Hoa Kỳ cho rằng chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ phát triển song song với lợi ích của tư bản quy mô lớn như các công ty đa quốc gia. Đảng Cộng sản Hoa Kỳ nhất quán phản đối Hoa Kỳ can thiệp vào Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh Việt Nam, Chiến tranh Vùng Vịnh, Chiến tranh Iraq và Chiến tranh Afghanistan. ĐCSHK cho rằng không thể giải quyết mối đe dọa khủng bố bằng chiến tranh.
Phụ nữ và các nhóm thiểu số
[sửa | sửa mã nguồn]
Đảng Cộng sản Hoa Kỳ ủng hộ bình đẳng nam nữ, trả lương bình đẳng cho phụ nữ, bảo vệ quyền sinh sản, chấm dứt phân biệt giới. ĐCSHK ủng hộ quyền phá thai và các dịch vụ xã hội cung cấp quyền tiếp cận phá thai vì cho rằng việc mang thai ngoài ý muốn là sự phân biệt đối xử với phụ nữ nghèo.[49] Ủy ban Bình đẳng Phụ nữ thuộc Đảng Cộng sản Hoa Kỳ công nhận vai trò của phụ nữ trong việc tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Tong lịch sử Hoa Kỳ, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ là đảng tiên phong đấu tranh cho quyền của người Mỹ gốc Phi và đóng vai trò lãnh đạo trong việc phản đối các vụ linsơ người Mỹ gốc Phi ở Nam Hoa Kỳ. ĐCSHK gọi phân biệt chủng tộc là "chiến thuật chia để trị cổ điển". Tại Thành phố New York, các tổ chức của Đảng Cộng sản Hoa Kỳ tham gia vào các hoạt động địa phương ở Harlem và những cộng đồng người Mỹ gốc Phi và thiểu số khác. Đảng Cộng sản Hoa Kỳ đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập Đại hội Cấp tiến Da đen vào năm 1998 và Hội Anh em Máu châu Phi.[50]
Đảng Cộng sản Hoa Kỳ phản đối suy diễn hành vi dựa trên chủng tộc, ủng hộ tiếp tục thi luật hành bảo vệ dân quyền và các chương trình hành động nâng đỡ các nhóm yếu thế.[51]
Quan hệ với những tổ chức khác
[sửa | sửa mã nguồn]Phong trào phản chiến
[sửa | sửa mã nguồn]Đảng Cộng sản Hoa Kỳ phản đối Chiến tranh Iraq.[52] Chi bộ New York của Đảng Cộng sản Hoa Kỳ là một thành viên Liên hiệp vì Hòa bình và Công lý (UFPJ), và Judith LeBlanc, một đảng viên, giữ chức đồng chủ tịch UFPJ từ năm 2007 đến năm 2009.[53]
Liên Xô
[sửa | sửa mã nguồn]Từ năm 1959 đến năm 1989, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ được Liên Xô tài trợ đáng kể. Có ít nhất một biên lai do Gus Hall ký trong kho hồ sơ lưu trữ của KGB.[54][55] Số tiền tài trợ ban đầu là 75.000 đô la Mỹ vào năm 1959, sau đó tăng dần lên 3 triệu đô la Mỹ vào năm 1987. Sở dĩ Liên Xô tài trợ ĐCSHK là vì đảng trung thành với đường lối của Liên Xô, trái ngược với Đảng Cộng sản Ý, Đảng Cộng sản Tây Ban và Đảng Cộng sản Anh theo chủ nghĩa cộng sản Tây Âu đi chệch khỏi đường lối chính thống từ cuối thập niên 1970. Các tài liệu lưu trữ của Liên Xô cho thấy tất cả các đảng cộng sản tuân theo đường lối của Liên Xô đều được Liên Xô tài trợ.
Chính phủ Hoa Kỳ
[sửa | sửa mã nguồn]
Năm 1949, chính phủ Hoa Kỳ truy tố Eugene Dennis, William Z. Foster và mười lãnh đạo Đảng Cộng sản khác với cáo buộc kêu gọi lật đổ chính phủ bằng vũ lực. Bên công tố sử dụng lời khai của các cựu đảng viên và các trích dẫn từ tác phẩm của Marx, Lenin và các nhà cách mạng khác để lập luận rằng các bị cáo bí mật ủng hộ lật đổ chính phủ.[56] Một số bị cáo và tất cả luật sư bào chữa bị kết tội khinh thường tòa án, 11 bị cáo còn lại bị kết tội kêu gọi lật đổ chính phủ và bi tuyên phạt tù từ ba đến năm năm. Tòa án tối cao Hoa Kỳ giữ nguyên bản án trong vụ Dennis kiện Hoa Kỳ sau khi các bị cáo kháng cáo rằng việc truy tố vi phạm quyền tự do ngôn luận. Chính phủ sau đó tiến hành truy tố hơn 140 đảng viên.[57]
Người Mỹ gốc Phi
[sửa | sửa mã nguồn]
Đảng Cộng sản Hoa Kỳ vận động bảo vệ quyền của người Mỹ gốc Phi vào thập niên 1930 và 1940. Chi bộ Alabama của Đảng Cộng sản Hoa Kỳ tổ chức những công nhân da đen thất nghiệp, Liên minh Tá điền Alabama và nhiều chiến dịch vận động chống linsơ. Ngoài ra, Chi bộ Alabama đào tạo các nhà hoạt động trẻ tuổi sau này trở thành những thành viên nổi bật trong phong trào dân quyền Hoa Kỳ, chẳng hạn như Rosa Parks.[58] Một số nhà lãnh đạo và nhà tư tưởng chính trị của ĐCSHK là người Mỹ gốc Phi. James Ford, Charlene Mitchell, Angela Davis và Jarvis Tyner ứng cử tổng thống hoặc phó tổng thống theo sự đề cử của Đảng Cộng sản Hoa Kỳ. Benjamin J. Davis, William L. Patterson, Harry Haywood, James Jackson, Henry Winston, Claude Lightfoot, Alphaeus Hunton, Doxey Wilkerson, Claudia Jones và John Pittman có những đóng góp quan trọng vào đường lói của đảng đối với các vấn đề lớn như nhân quyền, dân quyền, hòa bình, bình đẳng giới, đoàn kết giai cấp công nhân, tư tưởng xã hội chủ nghĩa và đấu tranh văn hóa. Những nhà tư tưởng, nghệ sĩ và nhà văn người Mỹ gốc Phi như Claude McKay, Richard Wright, Ann Petry, W. E. B. Du Bois, Shirley Graham Du Bois, Lloyd Brown, Charles White, Elizabeth Catlett, Paul Robeson, Gwendolyn Brooks từng là đảng viên hoặc ủng hộ ĐCSHK. Đảng Cộng sản Hoa Kỳ cũng có liên minh chặt chẽ với Hạ nghị sĩ Adam Clayton Powell Jr. từ Harlem.
Phong trào quyền LGBT
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 2005, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ thông qua nghị quyết ủng hộ quyền LGBT. Tháng 6 năm 2006, ĐCSHK ra tuyên bố kỷ niệm tháng tự hào LGBT.
Kết quả bầu cử
[sửa | sửa mã nguồn]Tổng thống
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Ứng cử viên tổng thống | Ứng cử viên phó tổng thống | Số phiếu bầu | Tỷ lệ | Tên gọi |
|---|---|---|---|---|---|
| 1924 | 38,669 | 0.1% | Đảng Công nhân Mỹ | ||
| 1928 | 48,551 | 0.1% | Đảng Công nhân (Cộng sản) Mỹ | ||
| 1932 | 103,307 | 0.3% | Đảng Cộng sản Hoa Kỳ | ||
| 1936 | 79,315 | 0.2% | |||
| 1940 | 48,557 | 0.1% | |||
| 1968 | Michael Zagarell |
1,077 | <0.1% | ||
| 1972 | 25,597 | <0.1% | |||
| 1976 | 58,709 | 0.1% | |||
| 1980 | 44,933 | 0.1% | |||
| 1984 | 36,386 | <0.1% | |||
Danh sách lãnh đạo Đảng Cộng sản Hoa Kỳ
[sửa | sửa mã nguồn]| Họ tên | Nhiệm kỳ | Chức danh |
|---|---|---|
| Charles Ruthenberg[59] | 1919–1927 | Executive Secretary of old CPA (1919–1920); Executive Secretary of WPA/W(C)P (May 1922 – 1927) |
| Alfred Wagenknecht | 1919–1921 | Executive Secretary of CLP (1919–1920); of UCP (1920–1921) |
| Charles Dirba | 1920–1921 | Executive Secretary of old CPA (1920–1921); of unified CPA (May 30, 1921 – July 27, 1921) |
| Louis Shapiro | 1920 | Executive Secretary of old CPA |
| L.E. Katterfeld | 1921 | Executive Secretary of unified CPA |
| William Weinstone | 1921–1922 | Executive Secretary of unified CPA |
| Jay Lovestone | 1922; 1927–1929 | Executive Secretary of unified CPA (February 22, 1922 – August 22, 1922); of W(C)P/CPUSA (1927–1929) |
| James P. Cannon[60] | 1921–1922 | National Chairman of WPA |
| Caleb Harrison | 1921–1922 | Executive Secretary of WPA |
| Abram Jakira | 1922–1923 | Executive Secretary of unified CPA |
| William Z. Foster[61] | 1929–1945; 1945–1957 | Chủ tịch Đảng; Tổng Bí thư |
| Earl Browder | 1932–1945 | Tổng Bí thư |
| Eugene Dennis | 1945–1961; 1957–1959 | Chủ tịch Đảng; Tổng Bí thư |
| Gus Hall | 1959–2000 | Tổng Bí thư |
| Elizabeth Gurley Flynn | 1961-1964 | Chủ tịch Đảng |
| Henry Winston | 1966-1986 | Chủ tịch Đảng |
| Sam Webb | 2000–2014 | Chủ tịch |
| John Bachtell | 2014–2019 | Chủ tịch |
| Rossana Cambron | 2019 – hiện tại | Đồng chủ tịch |
| Joe Sims | 2019 – hiện tại | Đồng chủ tịch |
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ The party voted to dissolve its youth wing in 2015 and voted to re-establish it in 2019. Final Resolutions for the 31st National Convention. June 10, 2019.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "CPUSA Organizational Chart". Communist Party USA. ngày 26 tháng 3 năm 2020.
- ↑ The Soviet World of American Communism. Yale University Press. 2008. ISBN 978-0-300-13800-9.
- ↑ "People's World". Library of Congress. OCLC 09168021. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019.
- ↑ Watson, Samuel E. (2024). "Communist Party of U.S." EBSCOhost. EBSCO Information Services. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2026.
- ↑ Sims, Joe (ngày 9 tháng 2 năm 2026). "After the Minneapolis general strike". Communist Party USA. Communist Party USA. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2026.
- 1 2 USA, Communist Party (ngày 25 tháng 7 năm 2025). "CPUSA Constitution". Communist Party USA (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "CPUSA Party Program". CPUSA.org. Communist Party USA. ngày 24 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Bill of Rights Socialism". CPUSA Online. ngày 1 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2017.
- ↑ Pierard, Richard (1998). "American Extremists: Militias, Supremacists, Klansmen, Communists, & Others. By John George and Laird Wilcox. Amherst, N.Y.: Prometheus Press, 1996. 443 pp. $18.95". Journal of Church and State. 40 (4). Oxford Journals: 912–913. doi:10.1093/jcs/40.4.912.
- 1 2 Atkins, C.J. "Communist Party members run for office, strengthening communities and building coalitions". People's World. Longview Publishing Inc. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 "First of the City and Last of the State: Benjamin Nichols and Ithaca's Flirtations with Socialism". Cosmonaut (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2025.
- 1 2 Rupertus, Annie (ngày 1 tháng 10 năm 2025). "City Council candidate wants Bangor to invest in housing and public services". bangordailynews.com. Bangor Daily News. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
- ↑ "Unofficial 2026 Primary Election Results". Philadelphia. ngày 25 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2026.
- ↑ "Christopher Semok (Columbia Falls City Council At-large, Montana, candidate 2025)". Ballotpedia (bằng tiếng Anh). Ballotpedia. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Anderson, Gary L., biên tập (2007). "Communist Party USA". Encyclopedia of Activism and Social Justice. Quyển 3. Chichester, West Sussex: Wiley-Blackwell. doi:10.4135/9781412956215.n198. ISBN 9781412956215.
Undoubtedly, from its origins in 1919 until the latter part of the 1950s, the Communist Party USA (CPUSA) was the most important left-wing organization in the United States. Reaching 85,000 members at its peak in 1942, just as America entered World War II, and with party supporters expanding the organization's strength an additional tenfold, the CPUSA enthusiastically rallied for backing the Soviet-American war effort against the Nazis. In addition, through their tireless roles as industrial union organizers during the mid-to late 1930s, Communist Party members had already become a major force in several important Congress of Industrial Organizations (CIO) unions by the early 1940s. In New York City, a stronghold of party support where Communists actively engaged in housing struggles, CPUSA candidates were elected to the city council during its zenith.
- ↑ "Instagram". www.instagram.com. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2026.
- ↑ Santana, Rebecca; Swenson, Ali (ngày 28 tháng 6 năm 2023). "Trump wants to keep 'communists' and 'Marxists' out of the US. Here's what the law says". AP News.
Communist Party USA has about 15,000 people on its membership list, said party co-chair Joe Sims. The list is "pruned regularly," he said, but some of that group may not be active members.
- ↑ "Joe Sims on Communist Party USA and Campaign 2024". C-Span. ngày 7 tháng 6 năm 2024. At 8m45s "When we are mailing today, we are mailing to close to 20,000 people". Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2025.
- ↑ Owen, Tess (ngày 24 tháng 5 năm 2024). "'A deranged fringe movement': what is Maga communism, the online ideology platformed by Tucker Carlson?". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Rose, Steve (ngày 24 tháng 1 năm 2016). "Racial harmony in a Marxist utopia: how the Soviet Union capitalised on US discrimination". The Guardian. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2019.
- ↑ Klehr, Harvey (1984). The Heyday of American Communism: The Depression Decade. Basic Books. tr. 3–5 (number of members). ISBN 978-0465029457.
- ↑ Hedges, Chris (2018). America: The Farewell Tour. Simon & Schuster. tr. 109. ISBN 978-1501152672.
The breakdown of capitalism saw a short-lived revival of organized labor during the 1930s, often led by the Communist Party.
- ↑ "Gilder Lehrman Institute of American History". gilderlehrman.org. ngày 15 tháng 8 năm 2012.
- 1 2 3 4 Crain, Caleb (ngày 11 tháng 4 năm 2016). "The American Soldiers of the Spanish Civil War". The New Yorker (bằng tiếng Anh). ISSN 0028-792X. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2019.
- ↑ "Soviet Union and the Spanish Civil War". Spartacus Educational. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2019.
- 1 2 Ryan JG (1997). Earl Browder: the failure of American communism. University of Alabama Press. tr. 162. ISBN 978-0-585-28017-2.
- ↑ Roberts, Geoffrey (2006). Stalin's Wars: From World War to Cold War, 1939–1953. Yale University Press. tr. 44. ISBN 978-0-300-11204-7.
- ↑ Sanford, George (2005). Katyn and the Soviet Massacre of 1940: Truth, Justice And Memory. London, New York: Routledge. ISBN 0-415-33873-5.
- ↑ Ryan JG (1997). Earl Browder: the failure of American communism. University of Alabama Press. tr. 164–165. ISBN 978-0-585-28017-2.
- 1 2 Ryan JG (1997). Earl Browder: the failure of American communism. University of Alabama Press. tr. 168. ISBN 978-0-585-28017-2.
- 1 2 Ryan JG (1997). Earl Browder: the failure of American communism. University of Alabama Press. tr. 166. ISBN 978-0-585-28017-2.
- ↑ Ryan JG (1997). Earl Browder: the failure of American communism. University of Alabama Press. tr. 189. ISBN 978-0-585-28017-2.
- ↑ Click, Kane Madison. "Communist Control Act of 1954". www.mtsu.edu (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2019.
- ↑ Naison, Mark. "The Communist Party USA and Radical Organizations, 1953–1960" (PDF).
- ↑ Constitution of the Communist Party of the United States of America. Communist Party of the United States of America. 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2014.
- ↑ Klehr, Harvey; Haynes, John Earl; Gurvitz, David (ngày 15 tháng 2 năm 2017). "Two Worlds of a Soviet Spy – The Astonishing Life Story of Joseph Katz". Commentary Magazine. Commentary, Inc. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2017.
- ↑ "About People's World". People's World. ngày 25 tháng 8 năm 2009.
- ↑ "Opening of the Communist Party's 30th national convention". People's World. ngày 13 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2014.
- ↑ "It's time to run candidates: A call for discussion and action". ngày 9 tháng 4 năm 2021.
- ↑ "Steven Estrada for District One". Steven Estrada for District One (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2021.
- ↑ "Steven Estrada – Ballotpedia" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2023.
- ↑ CPUSA Political Action Commission (ngày 26 tháng 7 năm 2025). "Communist candidates: Bringing our "plus" to the political arena". Communist Party USA (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Corbo, Eamon (ngày 5 tháng 11 năm 2025). "Results for Ithaca's 2025 general election". theithacan.org. The Ithacan. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
- ↑ "Daniel A. Carson (City Councilor Bangor Maine, Maine, candidate 2025)". ballotpedia.org. Ballotpedia. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
- ↑ "City of Bangor - Official Results - November 4, 2025". bangormaine.gov. City of Bangor. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2025.
- ↑ Steinberg, Julia. "The MAGA Communists Launched a Party". www.thefp.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2025.
- ↑ "American Communist Party". acp.us (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2025.
- ↑ "CPUSA Party Program". Communist Party USA (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2026.
- ↑ Kern, Michelle (ngày 27 tháng 6 năm 2016). "What is the CPUSA's position on abortion rights?". Cpusa.org. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2018.
- ↑ "Blacks and the CPUSA (by L. Proyect)". www.columbia.edu. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2019.
- ↑ "Communist Party Immediate Program for the Crisis". Lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2009 tại Portuguese Web Archive. Retrieved August 29, 2006.
- ↑ "Communist Party USA calls Bush's war illegal". Communist Party USA (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 3 năm 2003. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2026.
- ↑ "Judith LeBlanc | C-SPAN.org". www.c-span.org. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2021.
- ↑ Klehr, Harvey; Haynes, John Earl; Anderson, Kyrill M. (2008). The Soviet World of American Communism (bằng tiếng Anh). Yale University Press. tr. 155. ISBN 978-0300138009.
- ↑ Dobbs, Michael (ngày 8 tháng 2 năm 1992). "U.S. Party Said Funded by Kremlin". Washington Post (bằng tiếng Anh). ISSN 0190-8286. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2021.
- ↑ Taylor, Clarence (2011). "The First Wave of Suspensions and Dismissals". Reds at the Blackboard: Communism, Civil Rights, and the New York City Teachers Union. Columbia University Press. tr. 141–142. ISBN 978-0231526487. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Urofsky, Melvin I. (2012). "Eugene Dennis". 100 Americans Making Constitutional History: A Biographical History. CQ Press. tr. 44–46. doi:10.4135/9781452235400. ISBN 978-1452235400. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Kelley, Robin D.G. (1990). Hammer and hoe : Alabama Communists during the Great Depression (ấn bản thứ 2). Chapel Hill: University of North Carolina Press. tr. 2–10. ISBN 0807819212.
- ↑ "C. E. Ruthenberg Page".
- ↑ "The James P. Cannon Library".
- ↑ "William Z. Foster" Lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2019 tại Wayback Machine.
Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Arnesen, Eric, "Civil Rights and the Cold War at Home: Postwar Activism, Anticommunism, and the Decline of the Left", American Communist History (2012), 11#1 pp 5–44.
- Draper, Theodore, The Roots of American Communism. New York: Viking, 1957.
- Draper, Theodore, American Communism and Soviet Russia: The Formative Period. New York: Viking, 1960.
- Draper, Theodore, The Roots of American Communism. New Brunswick, New Jersey: Transaction Publishers (Originally published by Viking Press in 1957). ISBN 0765805138.
- Howe, Irving and Lewis Coser, The American Communist Party: A Critical History. Boston: Beacon Press, 1957.
- Isserman, Maurice, Which Side Were You On?: The American Communist Party During the Second World War. Wesleyan University Press, 1982 and 1987.
- Jaffe, Philip J., Rise and Fall of American Communism. Horizon Press, 1975.
- Klehr, Harvey. The Heyday of American Communism: The Depression Decade, Basic Books, 1984.
- Klehr, Harvey and Haynes, John Earl, The American Communist Movement: Storming Heaven Itself, Twayne Publishers (Macmillan), 1992.
- Klehr, Harvey, John Earl Haynes, and Fridrikh Igorevich Firsov. The Secret World of American Communism. New Haven: Yale University Press, 1995.
- Klehr, Harvey, Kyrill M. Anderson, and John Earl Haynes. The Soviet World of American Communism. New Haven: Yale University Press, 1998.
- Lewy, Guenter, The Cause That Failed: Communism in American Political Life. New York: Oxford University Press, 1997.
- McDuffie, Erik S., Sojourning for Freedom: Black Women, American Communism, and the Making of Black Left Feminism. Durham: Duke University Press, 2011
- Ottanelli, Fraser M., The Communist Party of the United States: From the Depression to World War II. New Brunswick, NJ: Rutgers University Press, 1991.
- Maurice Spector, James P. Cannon, and the Origins of Canadian Trotskyism, 1890–1928. Urbana, IL: Illinois University Press, 2007
- Palmer, Bryan, James P. Cannon and the Origins of the American Revolutionary Left, 1890–1928. Urbana, IL: Illinois University Press, 2007.
- Service, Robert. Comrades!: a history of world communism (2007).
- Shannon, David A., The Decline of American Communism: A History of the Communist Party of the United States since 1945. New York: Harcourt, Brace and Co., 1959.
- Starobin, Joseph R., American Communism in Crisis, 1943–1957. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1972.
- Zumoff, Jacob A. The Communist International and US Communism, 1919–1929. [2014] Chicago: Haymarket Books, 2015.
Lưu trữ
[sửa | sửa mã nguồn]- "Communist Party of the United States of America Records", Tamiment Library and Robert F. Wagner Archives, New York University Special Collections
- Communist Party of the United States of America Records, 1956–1960. At the Labor Archives of Washington, University of Washington Libraries Special Collections.
- Communist Party of the United States of America, Washington State District Records, 1919–2003. At the Labor Archives of Washington, University of Washington Libraries Special Collections.
- Marion S. Kinney Papers, 1930–1983. At the Labor Archives of Washington, University of Washington Libraries Special Collections.
- Radical Pamphlet Collection, Rare Book and Special Collections Division, Library of Congress, Washington, D.C., contains 3,645 pamphlets, newspapers, periodicals, broadsides, posters, cartoons, sheet music, and prints, with the bulk of the material pertaining to the Communist Party of the United States of America between 1930 and 1949.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]
Tư liệu liên quan tới Communist Party USA tại Wikimedia Commons- Young Communist League USA – youth group
- People's World – weekly newspaper
- Communism in Washington State History and Memory Project
- Manifesto and program. Constitution. Report to the Communist International – first pamphlet of the Communist Party of America
- Communist Party USA History and Geography-maps
- Manifesto to the Workers of America (1922). Milwaukee: Labor Press Syndicate.
- Tamiment Library Poster and Broadside Collection – United States: Communist Party (US): undated
- FBI files on the CPUSA on the Internet Archive