Khác biệt giữa các bản “Bullet for My Valentine”

Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
n
chú thích, replaced: {{cite web → {{chú thích web (33)
n (chú thích, replaced: {{cite web → {{chú thích web (33))
 
[[Album]] đầu tay ''[[The Poison]]'' của Bullet for My Valentine đã được phát hành vào ngày [[3 tháng 10]] năm [[2005]] ở [[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|Anh]] và vào [[Ngày Valentine]] ở [[Mỹ]] năm [[2006]] để giới thiệu cho cái tên "Bullet for My Valentine", [[album]] này được dành tặng cho người bạn của họ là Simon Roy Denning. [[Album]] này đã tiến vào bảng xếp hạng ''Billboard 200'' tại vị trí thứ 128, và ở vị trí thứ 1 tại bảng xếp hạng ''Top Heatseeker'', và đã bán được 375.000 bản sao ở [[Mỹ]] đến thời điểm [[6 tháng 2]] năm [[2008]]. Nhóm đã xuất hiện tại ''Download Festival'', ''Kerrang!'' XXV, và tại 1 chuyến lưu diễn với ''Lacuna Coil'' và ''Rob Zombie'', nhưng nhóm đã bị đuổi khỏi chuyến lưu diễn vì lời bình luận của Matthew Tuck tại diễn đàn của nhóm. [[Album]] thứ 2 của Bullet for My Valentine tên ''[[Scream Aim Fire]]'' đã tiến vào vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng Billboard 200, với tuần bán đầu tiên được 53.000 bản sao.<ref name="Keys Notches Fourth Week At No. 1"/>
 
 
== Tiểu sử ==
 
"Jeff Killed John" là tên nhóm nhạc gốc của Bullet For My Valentine và được thành lập vào năm [[1998]] bởi Matthew Tuck ([[ghi-ta|guitar]] và [[hát]]), Michael "Padge" Paget ([[ghi-ta|guitar]]), Nick Crandle ([[Ghi-ta#Guitar bass|guitar bass]]), and Michael "Moose" Thomas ([[trống]]), trong khi học nhạc tại ''Trường Đại học Bridgend''. Chơi lại những bài hát của [[Nirvana (ban nhạc)|Nirvana]] và [[Metallica]], ban nhạc đã phát hành một đĩa nhạc gồm 2 bài vào năm [[2002]] và được sản xuất bởi Greg Haver, tên là ''You/Play With Me''. Nó nhận được lợi nhuận qua chương trình Pynci scheme cho những [[nhạc sĩ]] xứ [[Wales]] và được chơi trên đài BBC Radio 1.<ref name="Bullet For My Valentine biography">{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine biography
|publisher=bbc.co.uk
=== Ký hợp đồng thu âm ===
 
Khoảng từ 6 đến 10 tháng, Bullet for My Valentine biểu diễn tại các buổi hoà nhạc để tìm kiếm sự quan tâm của các hãng thu âm. Tại 1 show ở [[London]], hãng ''Roadrunner Records'' đã thấy thích họ và đưa ra hợp đồng cho nhóm. Hợp đồng bị huỷ nên ban nhạc ký hợp đồng khác với hãng ''Sony BMG'', và một hợp đồng đăng ký với Visible Noise ở [[Anh]]. Sự lựa chọn hãng Sony như lời trưởng ban nhạc Matt Tuck nói rằng "Chúng tôi thấy sẽ có nhiều cơ hội được mở ra cho chúng tôi với bản hợp đồng với Sony".<ref>{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine Interview
|publisher=Roomthirteen.com
|accessdate=2007-10-30}}</ref>
 
Vào [[15 tháng 11]] năm [[2004]] ở [[Anh]] và vào [[30 tháng 11]] năm [[2004]] ở [[Mỹ]] nhóm nhạc đã phát hành một [[EP]] cùng tên với ban nhạc là [[Bullet for My Valentine (EP)]]. Được sản xuất bởi ''Colin Richardson'' và được hoà âm bởi Andy Sneap, bản [[EP]] bao gồm 5 bài hát và đánh dấu sản phẩm chính thức đầu tiên của họ.<ref name="Bullet For My Valentine">{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine
|publisher=bbc.co.uk
|url=http://www.bbc.co.uk/wales/music/sites/bulletformyvalentine/pages/bullet_for_my_valentine.shtml
|accessdate=2007-10-30}}</ref> Một [[EP]] thứ 2, tên ''[[Hand of Blood]]'' được phát hành vào [[22 tháng 8]] năm [[2005]] bởi hãng ''Trustkill Records'', và chỉ có ở [[Mỹ]]. Bản [[EP]] này bao gồm 5 bài hát cũ từ [[EP]] trước đó và thêm 1 bài hát mới là "[[4 Words (To Choke Upon)]]". Daniel Lukes, người cộng tác của tờ ''Decibel Magazine'' đã bình luận rằng "nhóm nhạc nên cảm thấy xấu hổ cho bản EP này."<ref name="Screamocore takes a dump where it eats">{{citechú thích web
|title=Screamocore takes a dump where it eats
|author=Lukes, Daniel what?
|publisher=Decibel Magazine
|url=http://www.decibelmagazine.com/reviews/sep2005/bullet_for_my_valentine.aspx
|accessdate=2007-11-09}}</ref> Trong khi đó biên tập viên Josh Joyce của ''Zeromag.com'' khen rằng "nhóm nhạc đã thể hiện được những kỹ thuật tốt mà không làm khán giả khó hiểu".<ref name="Bullet For My Valentine - Hand of Blood EP">{{citechú thích web
|title=Bullet For My Valentine - Hand of Blood EP
|author=Joyce, Josh
=== ''The Poison'' ===
 
[[Album]] đầu tay của Bullet for My Valentine, ''[[The Poison]]'', được phát hành ở [[Anh]] vào ngày [[3 tháng 10]] năm [[2005]] và vào [[14 tháng 2]] năm [[2006]] ở [[Mỹ]]. [[Album]] đã tiến vào bảng xếp hạng Billboard 200 ở vị trí thứ 128,<ref name="Chart Listing For The Week Of Mar 04 2006:">{{citechú thích web
|title=Chart Listing for the week of Mar 04 2006:
|publisher=Billboard.com
|date=[[2006-03-04]]
|url=http://www.billboard.com/bbcom/esearch/chart_display.jsp?cfi=305&cfgn=Albums&cfn=The+Billboard+200&ci=3064550&cdi=8553281&cid=03%2F04%2F2006
|accessdate=2007-11-02}}</ref> và nhận được vị trí cao nhất số 2 tại bảng xếp hạng Top Heatseekers, và ở vị trí thứ 11 tại bảng xếp hạng Những Album Riêng hay nhất.<ref name="Bullet for My Valentine - Albums">{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine - Albums
|publisher=Billboard.com
|url=http://www.billboard.com/bbcom/retrieve_chart_history.do?model.chartFormatGroupName=Albums&model.vnuArtistId=690285&model.vnuAlbumId=914137
|accessdate=2007-11-02}}</ref> Cho đến ngày [[6 tháng 2]] năm [[2008]], [[album]] đã bán được 375.000 bản sao ở [[Mỹ]].<ref name="Do You Want To Be In Bullet for My Valentine's New Video?">{{citechú thích web
|title=New Bullet for My Valentine Single A 'Benchmark' For Band
|publisher=Blabbermouth.net
|date=[[2008-01-15]]
|url=http://www.roadrunnerrecords.com/blabbermouth.net/news.aspx?mode=Article&newsitemID=88179
|accessdate=2008-01-15}}</ref><ref name="BULLET FOR MY VALENTINE Frontman Says New Album Is 'A Lot More Uptempo, A Lot More Aggressive">{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine frontman says new album is 'a lot more uptempo, a lot more aggressive
|author=
|accessdate=2007-11-01}}</ref>
 
Nhiều ý kiến chuyên nghiệp đã được đưa ra. Biên tập viên Dom Passantino của ''Stylus Magazine'' nói rằng "đóng góp của nhóm đối với nền âm nhạc thế giới không nhiều, nhưng theo sát với dòng nhạc của mình hơn [[Lostprophets]]", cho 1 điểm C.<ref name="Bullet For My Valentine Stylus Magazine">{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine Stylus Magazine
|author=Passantino, Dom
|accessdate=2007-11-06}}</ref> Bình luận viên Scott Alisoglu của ''Blabbermouth.net'' nói rằng Bullet for My Valentine "khá tốt và ít nhất nửa số bài hát khá hơn trung bình", mặc dù "album có thể đoán trước, nhưng vẫn có những đoạn hay".<ref name="The Poison"/>
 
4 đĩa đơn được phát hành từ ''The Poison'' bao gồm "[[4 Words (To Choke Upon)]]", đĩa đơn đầu tiên của nhóm, sau đó là "[[Suffocating Under Words of Sorrow (What Can I Do)]]". "[[All These Things I Hate (Revolve Around Me)]]" vươn lên đỉnh bảng xếp hạng của ''Hot Mainstream Rock Tracks'' và ở vị trí thứ 13 tại bảng xếp hạng ''Modern Rock Tracks''. "[[Tears Don't Fall]]" vươn lên đỉnh bảng xếp hạng ở vị trí 24 tại bảng xếp hạng ''Hot Mainstream Rock Tracks'' và ở vị trí 32 tại ''Modern Rock Tracks''.<ref name="Bullet for My Valentine - Singles">{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine - Singles
|publisher=Billboard.com
|accessdate=2007-11-07}}</ref>
 
Bullet for My Valentine biểu diễn tại ''Download Festival'' ở Donington Park trong vòng 3 năm, lần đầu tiên xuất hiện vào năm 2004.<ref name="Download Festival 2004">{{citechú thích web
|title=Download Festival 2004 line-up
|publisher=Downloadfestival.co.uk
|url=http://2004.downloadfestival.co.uk/programme/
|accessdate=2007-11-07}}</ref> Vào năm sau với sự nổi tiếng được nâng cao, Bullet for My Valentine biểu diễn tại những Sân khấu lớn hơn,<ref name="Download Festival 2005">{{citechú thích web
|title=Download Festival 2005 line-up
|publisher=Downloadfestival.co.uk
|url=http://2005.downloadfestival.co.uk/lineup/index.asp
|accessdate=2007-11-07}}</ref> và vào năm 2006 nhóm được lên tới gần phần biểu diễn chính, vào [[chủ nhật]] sau [[Guns N' Roses]] và [[Funeral for a Friend]].<ref name="Download Festival 2006">{{citechú thích web
|title=Download Festival 2006 line-up
|publisher=Downloadfestival.co.uk
|url=http://2006.downloadfestival.co.uk/lineup/index.asp
|accessdate=2007-11-07}}</ref> Một vài chuyến lưu diễn khác gồm tour cho [[Metallica]] and [[Guns N' Roses]],<ref name="Bullet for My Valentine - Matt Tuck, Vocals/Guitars">{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine - Matt Tuck, Vocals/Guitars
|publisher=smnews.com
|date=[[2006-04-01]]
|url=http://www.smnnews.com/2006/04/01/bullet-for-my-valentine-matt-tuck-vocalsguitars/
|accessdate=2007-11-07}}</ref> chuyến lưu diễn Vans Warped, ''Kerrang!'', và Earthday Birthday vào [[28 tháng 4]] năm [[2007]]. Phần biểu diễn của họ tại Brixton Academy ở [[London]] được quay lại cho [[DVD]] đầu tiên của nhóm, ''[[The Poison: Live at Brixton]]''.<ref name="">{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine interview - Moose
|author=Arto
Bullet for My Valentine bị đuổi khỏi chuyến lưu diễn với [[Rob Zombie]] sau 17 show diễn. Tuck viết một lời nhắn trên diễn đàn chính thức của nhóm, nói rằng họ không được đối xử đúng cách vì các fan hâm mộ phiền nàn về giá của [[áo]] và chất lượng [[âm thanh]].<ref name="Sirius">Cuộc phỏng vấn của Sirius Satellite Radio's Hard Attack với Matt Tuck và Michael Thomas. [[7 thág 6]] năm [[2006]]</ref>
 
Vào [[tháng 6]] năm [[2007]], Matt Tuck bị mắc chứng bệnh viêm thanh quản khiến một số lượng các show diễn bị hoãn cho đến [[tháng 1]]. Một ca phẫu thuật cắt A-mi-đan đã được sắp xếp cho Matt vào giữa [[tháng 7]]. Theo lời chỉ dẫn của [[bác sĩ]], ban nhạc buộc phải huỷ một vài show diễn. Mặc dù không thể nói được, Matt viết rằng sớm sau khi các [[bác sĩ]] hoàn thành chữa trị, họ sẽ bắt đầu chuẩn bị cho [[album]] mới.<ref name="Bullet update">{{citechú thích web
|title=Bullet update
|author=Chris
=== ''Scream Aim Fire'' ===
 
[[Album]] thứ 2 của Bullet for My Valentine được thu âm tại phòng thu Sonic Ranch Studios và được sản xuất bởi ''Colin Richardson''.<ref name="Bullet For My Valentine In The Thick Of New Album">{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine in the thick of new album
|author=Graff, Gary
|date=[[2007-04-12]]
|url=http://www.billboard.com/bbcom/news/article_display.jsp?vnu_content_id=1003571071
|accessdate=2007-11-31}}</ref> [[Album]] được phát hành vào [[28 tháng 1]] năm [[2008]] và vào [[29 tháng 1]] ở [[Mỹ]].<ref name="BULLET FOR MY VALENTINE Films 'Scream, Aim And Fire' Video">{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine: New Album Details Revealed
|author=
|publisher=Blabbermouth.net
|date=[[2007-11-14]]
|url=http://www.roadrunnerrecords.com/blabbermouth.net/news.aspx?mode=Article&newsitemID=84842}}</ref> Matt bình luận rằng; "Sự khác biệt lớn nhất có lẽ là nhịp điệu và sự công kích. Nó sẽ có nhịp điệu nhanh hơn và sẽ công kích hơn".<ref name="BULLET FOR MY VALENTINE Frontman Says New Album Is 'A Lot More Uptempo, A Lot More Aggressive'">{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine frontman says new album is 'More commerical than the last one, were all gonna cut our hair and wear more makeup'
|author=
|date=[[2007-10-15]]
|url=http://www.roadrunnerrecords.com/blabbermouth.net/news.aspx?mode=Article&newsitemID=82814
|accessdate=2007-10-30}}</ref> [[Album]] được tiến vào bảng xếp hạng ''Billboard'' 200 tại vị trí số 4 với 53.000 bản sao được bán đi vào tuần đầu tiên.<ref name="Keys Notches Fourth Week At No. 1">{{citechú thích web
|title=Keys Notches Fourth Week At No. 1
|author=Hasty, Katie
|accessdate=2008-02-07}}</ref> Nhóm cũng đã hoàn thành chuyến lưu diễn ''Taste of Chaos'' ở [[Bắc Mỹ]] và [[Châu Úc]] vào năm [[2008]] với các nhóm nhạc [[Atreyu]], [[Idiot Pilot]], [[Blessthefall]] và [[Avenged Sevenfold]]. Họ cũng biểu diễn tại ''Rock am Ring'' và ''Rock im Park'' và ''Download Festival 2008''. Họ được chính thức mờ đến lễ hội Reading & Leeds vào [[tháng 8]] năm nay. Đĩa đơn mới của họ, "Waking The Demon" đã được phát trên những đài phát sóng của [[Mỹ]].
 
Vào [[14 tháng 4]] năm [[2008]] nhóm phải huỷ chuyến lưu diễn [[Canada]] để bay về nhà vì con gái của nghệ sĩ chơi Guitar bass Jason 'Jay' James bị vào [[bệnh viện]] <ref name="BULLET FOR MY VALENTINE Cancels Seattle, Canada Dates - Apr. 14, 2008">{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine Cancels Seattle, Canada Dates - Apr. 14, 2008
|author=
|format=[[Ogg]]}}
{{sample box end}}
Bullet for My Valentine đã trích dẫn rằng [[âm nhạc]] của họ được ảnh hưởng từ các ban nhạc [[Metallica]], ''Annihilator'', ''Pantera'', ''Machine Head'', ''Iron Maiden'', ''Testament'', ''Slayer'', ''Stuck Mojo'', ''Judas Priest'' và ''Megadeth''.<ref name="Bullet For My Valentine InterviewUG">{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine Interview - Ultimate Guitar
|author=
|date=[[2005-10-20]]
|url=http://www.ultimate-guitar.com/news/interviews/bullet_for_my_valentine_interview.html
|accessdate=2007-11-01}}</ref> Các ban nhạc đã truyền cảm hứng cho "giọng hát, nhịp và giai điệu."<ref name="rage">{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine - Confident aiming at being the next classic metal band
|author=
|date=
|url=http://www.metalrage.com/articles/422
|accessdate=2007-11-01}}</ref> Nhận xét về ''[[The Poison]]'', Scott Alisoglu của ''Blabbermouth.net'' miêu tả [[âm nhạc]] của nhóm là "có thể đoán trước được" và [[album]] "được làm để trở thành bài hát đột phá cho ''MTV''" so sánh họ với ban nhạc người [[Thụy Điển]] ''In Flames''. Dù vậy, Alisoglu khen ngợi những bài hát như "Tears Don't Fall" trong việc kết hợp guitar đôi, nhịp đập khoẻ, nhịp điệu nhanh, và một đoạn guitar solo bốc lửa."<ref name="The Poison">{{citechú thích web
|title=The Poison
|author=Alisoglu, Scott
|url=http://www.roadrunnerrecords.com/blabbermouth.net/showreview.aspx?reviewID=604
}}
</ref> Các thành viên của nhóm cũng nói rằng họ sẽ không thay đổi hình ảnh hay âm nhạc của họ vì bất kỳ mục đích thương mại nào. Matt bình luận rằng, "Nếu [âm nhạc của chúng tôi] không mạnh mẽ, chúng tôi quan tâm đến việc chúng nghe như thế nào hơn là kiểu tóc của chúng tôi trông ra sao."<ref name="Bullet For My Valentine Interview">{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine Interview
|author=
|date=
|url=http://www.popworld.com/pages/bulletformyvalentine_rock1
|accessdate=2007-11-01}}</ref> Kirk Miller của báo ''Decibel magazine'' khen nhóm vì nỗ lực lớn trong cấu trúc đồng bộ của các bài hát.<ref name="Bullet For My Valentine - The Poison">{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine - The Poison
|author=Miller, Kirk
|url=http://www.decibelmagazine.com/reviews/mar2006/bulletformyvalentine.aspx
|accessdate=2007-11-01}}</ref>
 
 
== Các giải thưởng ==
! Năm !! Giải !! Lễ trao giải
|-
|rowspan=1| 2004 || 'Best Newcomer'<ref name="Welsh Music Awards 2004">{{citechú thích web
|title=Welsh Music Awards 2004
|publisher=bbc.co.uk
|rowspan=1| 2005 || 'Best British Newcomer' || Kerrang! Award 2005
|-
|rowspan=2| 2006 || 'Best UK single' for "Tears Don't Fall"<ref name="Bullet For My Valentine Win Kerrang! Award">{{citechú thích web
|title=Bullet for My Valentine win Kerrang! award
|author=
|accessdate=2007-10-31}}</ref> || Kerrang! Award 2006
|-
| 'Best British Band'<ref name="Bullet booed at Metal Awards">{{citechú thích web
|title=Bullet booed at Metal Awards
|author=Mendoza, Nadia
== Danh sách các đĩa nhạc ==
=== Các Album ===
* 2005: ''[[The Poison]]'' #128 U.S.
* 2008: ''[[Scream Aim Fire]]'' #4 U.S. #5 U.K. #4 AUS. #10 IRE.
* 2010: ''[[Fever]]''
!rowspan="2" align="left" valign="middle"|Tên album
|-
!align="center" valign="top" width="50"|<small>Bảng xếp hạng các đĩa đơn Anh<ref name="top40-charts.com - Tears">{{citechú thích web
|title=top40-charts - Tears Don't Fall
|publisher=top40-charts.com
|url=http://top40-charts.com/song.php?sid=17411&sort=chartid&string=Bullet
|accessdate=2007-11-08}}</ref><ref name="top40-charts.com - Hate">{{citechú thích web
|title=top40-charts - All These Things I Hate
|publisher=top40-charts.com
|url=http://top40-charts.com/song.php?sid=16086&sort=chartid&string=Bullet
|accessdate=2007-11-08}}</ref><ref name="top40-charts.com - Suffocate">{{citechú thích web
|title=top40-charts - Suffocating Under Words Of Sorrow
|publisher=top40-charts.com
{{reflist|2}}
{{Commonscat|Bullet For My Valentine}}
 
{{Liên kết bài chất lượng tốt|en}}
 
[[Thể loại:Danh sách các nhóm nhạc metalcore]]
[[Thể loại:Ban nhạc hard rock]]
[[Thể loại:Ban nhạc xếp theo tên]]
{{Liên kết bài chất lượng tốt|en}}
 
[[als:Bullet For My Valentine]]
986.568

lần sửa đổi

Trình đơn chuyển hướng