Agaricus xanthodermus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Agaricus xanthodermus,[1] là một loài nấm quả thể thuộc chi Agaricus, khi bị cắt, xuất hiện màu vàng ở gốc thân nấm. Ăn vào sẽ gây ngộ độc, gây khó chịu đường tiêu hóa, nhưng một số người vẫn ăn nấm mà không biểu hiện những triệu chứng rõ ràng.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1876, trong một bức thư được công bố trong bản tin của Hiệp hội thực vật Pháp, Léon Gaston Genevier đã đinh nghĩa loài này chính thức dưới tên Agaricus xanthodermus.[2][3] Genevier mô tả nấm Agaricus là thức ăn ở khu vực Nantes, và cố gắng làm phân biệt chúng. Ông đề xuất tái phân loại khá chi tiết thành 5 loài. Cho đến thời điểm đó, những cây nấm có tính chất thân hóa màu vàng này vẫn được coi là biến thể các loài nấm ăn được: A. arvensis, A. edulisA. silvicola.[4]

Về từ nguyên, xanthodermus có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại, nghĩa là "màu vàng" và "da". Đây là danh pháp chính thức, nhưng danh pháp Agaricus xanthoderma cũng có các hình thức.[5][6][7] Hậu tố -derma (nghĩa là "da") là một danh từ giống trung không hợp giống với Agaricus, do vậy hình thức này đúng quy tắc danh pháp thực vật.[8]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

2011-10-13 Agaricus xanthodermus Genev 181971.jpg

Đường kĩnh mũ nấm thường là 6–10 cm (2,4–3,9 in), có thể đạt 15 cm (5,9 in). Mũ có dạng lồi lên trên. Nấm có màu trắng, với tông màu nâu nhạt về phía trung tâm. Mũ nấm khô và mịn, có vảy khi nấm già. Các bản dưới mũ nấm chuyển từ màu hồng nhạt sang màu sô-cô-la. Bào tử có màu nâu. Các bào tử nấm có kích thước 6 đến 7 × 3 đến 4 [./https://en.wikipedia.org/wiki/Micrometre µm].

Agaricus xanthodermus có mùi đặc trưng khó chịu, do hợp chất phenolic giống mùi mực bút máy. Mùi tích tụ nhiều ở gốc nấm.

Phân bố và sinh cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Loại nấm này rất phổ biến và phân bố rộng rãi ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Tây Á bao gồm miền đông Tiểu Á,[9] Iran,[10] Bắc Phi,[6]miền nam châu Phi.[11] Nó đã được phát hiệu tại Úc. Nó được tìm thấy trong rừng, bãi cỏ, vườn, hàng rào vào mùa thu. Đây là loại nấm saprobic.

Độc tính[sửa | sửa mã nguồn]

Một số người ăn nấm nhưng không có dấu hiệu ngộ độc.[1][4][12] Loài nấm này gây ra các vấn đề nghiêm trọng về dạ dày, gây khó tiêu và làm xuất hiện các triệu chứng đổ mồ hôi, đỏ bừng và đau bụng dữ dội.[1][5][12]

Khi nấu ăn, mùi xực lên rất hắc, có thể ngăn cản mọi người có ý định ăn nấm.[12]

Loài liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

A. xanthodermus thuộc một nhóm các loài liên quan ("Xanthodermatei") cũng có thân màu vàng sáng và có mùi của phenolic. Nhóm bao gồm A. Praeclaresquamosus (trước đây là A. placomyces) có vảy xám đen, A. moelleriA. pilatianus.[6]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Roger Phillips. “Agaricus xanthodermus”. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2012. 
  2. ^ Nowadays there is also a French Mycological Society Lưu trữ 2012-09-28 tại Wayback Machine, but in 1876 fungi were considered under botany.
  3. ^ See the entry in Index Fungorum.
  4. ^ a ă Genevier L. G. (1876). “Étude sur les champignons consommés à Nantes sous le nom de champignon rose ou de couche (Agaricus campestris L.)”. Bulletin de la Société Botanique de France (bằng tiếng Pháp) 23: 28–35.  The paper is available on-line here. On page 32 it is stated that some people can eat A. xanthodermus with impunity.
  5. ^ a ă "Marcel Bon (1987). The Mushrooms and Toadstools of Britain and North-Western Europe. Hodder & Stoughton. tr. 278. ISBN 0-340-39935-X. "
  6. ^ a ă â Courtecuisse, R. & Duhem, B. (1994). Guide des champignons de France et d'Europe. Delachaux et Niestlé. tr. 258. ISBN 2-603-00953-2.  Also available in English.
  7. ^ See Meinhard Moser (1983). Keys to Agarics and Boleti. 15a Eccleston Square, London: Roger Phillips. tr. 238. ISBN 0-9508486-0-3.  Đã bỏ qua tham số không rõ |translator= (trợ giúp)
  8. ^ Binomial names may take the form "noun + adjective", "noun + nominative noun" or "noun + genitive noun" as explained in this section of the Binomial nomenclature article. There is agreement in gender only in the "noun + adjective" case (as in Agaricus xanthodermus, which means something like "yellow-skinned Agaricus"), but Agaricus xanthoderma is the second type (like "Agaricus yellow-skin") and there the endings do not agree. Another similar example is Agaricus silvicola (which means "Agaricus, inhabitant of the woods").
  9. ^ Demirel K, Uzun Y, Kaya A (2004). “Some Poisonous Fungi of East Anatolia” (PDF). Turk J Bot 28: 215–19. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2008. 
  10. ^ Asef Shayan, M.R. (2010). قارچهای سمی ایران (Qarch-ha-ye Sammi-ye Iran) [Poisonous mushrooms of Iran] (bằng tiếng Persian). Iran shenasi. tr. 214. ISBN 978-964-2725-29-8. 
  11. ^ Van der Westhuizen, GCA and Eicker, A (1994) Mushrooms of Southern Africa, Field Guide. Struik Publishers, Cape Town.
  12. ^ a ă â Peter Jordan (2000). The Mushroom Guide and Identifier: The Ultimate Guide to Identifying, Picking and Using Mushrooms. London: Hermes House. tr. 100. ISBN 1-84038-574-X. 
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “urlFungorum synonymy: Agaricus xanthodermus” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
  • Collins Gem Guide: Mushrooms and Toadstools, Stefan Buckzacki (1982).
  • Phương tiện liên quan tới Agaricus xanthodermus tại Wikimedia Commons
  • Dữ liệu liên quan tới Agaricus xanthodermus tại Wikispecies