Anya Taylor-Joy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Anya Taylor-Joy
Anya Taylor-Joy by Patrick Lovell, January 2019.jpg
Taylor-Joy năm 2019
SinhAnya Josephine Marie Taylor-Joy[1]
16 tháng 4, 1996 (26 tuổi)
Miami, Florida, Hoa Kỳ
Tư cách công dân
Nghề nghiệp
  • Diễn viên
  • người mẫu
Năm hoạt động2013–nay

Anya Josephine Marie Taylor-Joy (sinh ngày 16 tháng 4 năm 1996) là một nữ diễn viên và người mẫu. Cô là người nhận được một số giải thưởng, bao gồm Giải Quả cầu vàng, Giải của Hiệp hội Diễn viên Màn ảnh và Giải Truyền hình do Nhà phê bình lựa chọn, ngoài các đề cử cho Giải thưởng Điện ảnh Viện Hàn lâm Anh và Giải Primetime Emmy. Năm 2021, cô được đưa vào danh sách Time 100 Next của tạp chí Time.

Sinh ra ở Miami và lớn lên ở Buenos AiresLondon, Taylor-Joy rời trường năm 16 tuổi và bắt đầu theo đuổi sự nghiệp diễn xuất. Sau những vai diễn nhỏ trên truyền hình, cô bắt đầu điện ảnh với vai chính Thomasin trong bộ phim kinh dị The Witch (2015), mang về cho cô một giải thưởng Gotham và một giải thưởng Đế chế. Cô tiếp tục đóng vai chính trong bộ phim kinh dị Split và bộ phim hài đen Thoroughbreds (cả hai năm 2017); cùng năm đó, cô được đề cử Giải thưởng Ngôi sao đang lên của BAFTA và đoạt giải Trophée Chopard từ Liên hoan phim Cannes. Cô cũng xuất hiện trong miniseries phim truyền hình The Miniaturist (2017), loạt phim thứ năm và thứ sáu của Peaky Blinders (2019–2022) và The Dark Crystal: Age of Resistance (2019), và phim siêu anh hùng Glass (2019), tái hiện vai diễn của cô từ Split. Taylor-Joy sẽ lồng tiếng cho Công chúa Peach trong bộ phim Mario sắp tới (2023) và thể hiện nhân vật chính trong Furiosa (2024).

Taylor-Joy nhận được lời khen ngợi khi thể hiện hai nhân vật chính Emma Woodhouse trong bộ phim chuyển thể Emma của Jane Austen và Beth Harmon trong miniseries Netflix The Queen's Gambit (cả hai năm 2020); về sau, cô đã giành được Giải thưởng Truyền hình do các nhà phê bình lựa chọn cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong Phim điện ảnh / Phim truyền hình, Quả cầu vàng cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất - Phim truyền hình hoặc Phim nhỏ, Giải thưởng của Hiệp hội Diễn viên Màn ảnh cho Diễn xuất xuất sắc của Nữ diễn viên chính trong Phim truyền hình hoặc Phim nhỏ Phim và đã nhận được một đề cử cho Giải Primetime Emmy cho Nữ diễn viên chính xuất sắc trong một bộ phim hoặc bộ phim có giới hạn hoặc tuyển tập.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Taylor-Joy sinh ra ở Miami, Florida, là người con út trong sáu người con. Mẹ cô làm việc trong nhiếp ảnh và thiết kế nội thất và là người Anh-Tây Ban Nha. Cha cô, một cựu chủ ngân hàng quốc tế, là người Scotland-Argentina. Taylor-Joy chuyển đến Argentina khi cô còn nhỏ và chỉ nói tiếng Tây Ban Nha trước khi chuyển đến London năm 6 tuổi. Cô đã theo học trường dự bị Hill House ở Kensington trước khi theo học ngôi trường độc lập Queen's Gate. Trước đó cô là một cựu vũ công ballet.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2016, Taylor-Joy đóng vai chính trong bộ phim khoa học viễn tưởng kinh dị, Morgan, đạo diễn bởi Luke Scott. Bộ phim được phát hành vào ngày 2 tháng 9 năm 2016. Cũng trong năm đó, cô đóng vai chính trong bộ phim Barry của Vikram Gandhi. Sau đó, cô trở lại và vào vai chính trong bộ phim kinh dị tâm lý Split vào năm 2017, được viết và đạo diễn bởi M. Night Shyamalan. Trong phim cô thủ vai Casey Cooke, bị bắt cóc bởi một người đàn ông bí ẩn với tính cách riêng biệt. Năm 2019, cô sẽ tái hiện vai diễn của mình với vai Casey Cooke trong phim Glass.

Taylor-Joy cũng gắn liền với ngôi sao ở Nosferatu, một bản làm lại của bộ phim cùng tên, được đạo diễn bởi Eggers trong sự hợp tác thứ hai của cô với anh ta. Cô cũng sẽ đóng vai chính trong The Sea Change.

Taylor-Joy là nữ diễn viên chính trong video âm nhạc cho bản phối lại bài hát Red Lips của GTA Skrillex. Cô đã được đề cử cho Giải thưởng BAFTA Rising Star Award năm 2017.

Các tác phẩm đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích

Denotes films that have not yet been released Biểu thị bộ phim chưa phát hành
Năm Tiêu đề Vai Ghi chú
2015 The Witch Thomasin
2016 Morgan Morgan
Barry Charlotte Baughman
Tách biệt Casey Cooke
2017 Marrowbone Allie
Thoroughbreds Lily Reynolds
2018 Crossmaglen Ana Phim ngắn
2019 Bộ ba quái nhân Casey Cooke
Love, Antosha Chính cô Phim tài liệu
Playmobil: The Movie Marla Brenner Người đóng và lồng tiếng
Radioactive Irene Curie
2020 Emma Emma Woodhouse
Here Are the Young Men Jen
The New Mutants Illyana Rasputin / Magik
2021 Last Night in Soho Sandie
2022 The Northman Olga
The Menu Margot
Amsterdam Libby Voze
2023 The Super Mario Bros. Movie Has not yet been released Princess Peach (lồng tiếng) Hậu kỳ
2024 Furiosa Has not yet been released Furiosa Hậu kỳ

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Vai Ghi chú Tham khảo
2014 Endeavour Philippa Collins-Davidson 1 tập
2015 Viking Quest Mani Phim truyền hình [4]
Atlantis Cassandra Vai định kỳ, 6 tập [5]
2017 The Miniaturist Petronella "Nella" Brandt Sê-ri nhỏ, 3 tập [6]
2019–2022 Bóng ma Anh Quốc Gina Gray Vai chính, 11 tập [7]
2019 The Dark Crystal: Age of Resistance Brea (lồng tiếng) Vai chính, 10 tập [8]
2020 Gambit Hậu Beth Harmon Sê-ri nhỏ, 7 tập [9]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Giải thưởng Hạng mục Kết quả Refs
2016 The Witch: A New-England Folktale Gotham Independent Film Awards Breakthrough Actor Đoạt giải
Washington D.C. Area Film Critics Association Best Youth Performance Đề cử
San Diego Film Critics Society Breakthrough Artist Đề cử
Austin Film Critics Association Breakthrough Artist Award Đề cử
Phoenix Film Critics Society Best Youth Performance Đề cử
Fright Meter Awards Best Actress in a Leading Role Đoạt giải
Golden Shmoes Breakthrough Performance of the Year Vị trí thứ 2
BloodGuts UK Horror Awards Breakthrough Artist Award Đề cử
2017 Empire Best Female Newcomer Đoạt giải
Academy of Science Fiction, Fantasy and Horror Films Best Performance by a Younger Actor Đề cử
Fangoria Chainsaw Awards Fangoria Chainsaw Award for Best Actress Đoạt giải
Online Film & Television Association Best Breakthrough Performance - Female Đề cử
Seattle Film Critics Awards Best Youth Performance Đoạt giải
Chính mình British Academy of Film and Television Arts BAFTA Rising Star Award Đề cử
London Critics Circle Young British/Irish Performer of the Year Đề cử
Central Ohio Film Critics Association Breakthrough Film Artist Đề cử
Cannes Film Festival Trophée Chopard Đoạt giải
2018 Split BloodGuts UK Horror Awards Best Supporting Actress Đề cử
Thoroughbreds International Online Cinema Awards Best Actress Đề cử
2019 Chính mình London Film Critics' Circle Young British/Irish Performer of the Year Đề cử

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ayuso, Rocio. “Anya Taylor-Joy Is Waiting for the Right Project in Spanish”. goldenglobes.com. Hollywood Foreign Press Association. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
  2. ^ Fishwick, Samuel (ngày 19 tháng 1 năm 2017). “Anya Taylor-Joy: meet the actress on the cusp of Hollywood superstardom”. The Evening Standard Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2020.
  3. ^ Brady, Tara (ngày 19 tháng 1 năm 2017). “Anya Taylor-Joy: 'This guy stuck his head out the window and said, If you stop you won't regret it'. The Irish Time. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2020.
  4. ^ “Viking Quest – review - cast and crew, movie star rating and where...”. Radio Times. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2021.
  5. ^ Bundel, Ani (25 tháng 11 năm 2020). “11 Shows & Movies Starring Anya Taylor-Joy To Watch After 'The Queen's Gambit'. Elite Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2021.
  6. ^ Gilbert, Matthew (5 tháng 1 năm 2021). “Another Anya Taylor-Joy performance to enjoy in 'The Miniaturist'. The Boston Globe. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2021.
  7. ^ Romano, Nick (30 tháng 7 năm 2019). “Peaky Blinders season 5 trailer rolls out Sam Claflin, Anya Taylor-Joy”. Entertainment Weekly. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2021.
  8. ^ Renfro, Kim (3 tháng 9 năm 2019). “Here's what the cast of 'The Dark Crystal: Age of Resistance' looks like in real life”. Insider Inc. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2021.
  9. ^ Miller, Sarah (1 tháng 12 năm 2020). “The Fatal Flaw of "The Queen's Gambit". The New Yorker. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2021.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]