Arta, Djibouti

Arta
Arta1970.jpg
Arta trên bản đồ Djibouti
Arta
Arta
Vị trí ở Djibouti
Tọa độ: 11°31′B 42°47′Đ / 11,517°B 42,783°Đ / 11.517; 42.783
Quốc giaFlag of Djibouti.svg Djibouti
RegionVùng Arta
Độ cao740 m (2,430 ft)
Dân số
 • Tổng cộng6.025

Arta (tiếng Ả Rập: عرته‎, tiếng Somali: Carta) là một thị xã ở đông nam Djibouti, thủ phủ của vùng Arta. Đây là đô thị lớn thứ sáu tại đất nước với 11.043 người. Arta nằm trên dãy núi cùng tên và nổi tiếng với khí hậu ôn hòa. Nó nằm cách thủ đô Djibouti khoảng 41 km (25 dặm) về phía tây.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khu định cư Arta đã tồn tại vài thế kỷ. Trong suốt thời Trung Cổ, nó được cai trị bởi các vương quốc Hồi giáo IfatAdal. Arta sau đó trở thành một phần của chính quyền bảo hộ Somaliland thuộc Pháp vào nửa đầu thế kỷ 20. Vào tháng 12 năm 1942 khi Anh xâm lược Somaliland thuộc Pháp, khoảng 700 quân Anh và quân Pháp Tự do đã chiếm thị xã. Dưới thời Pháp thuộc vào năm 1946, một khu nhà ở và trạm nghỉ mới được xây dựng.[1] Khí hậu của Arta khiến đây trở thành nơi trú ẩn chính của các công chức Pháp ở Djibouti. Vùng Arta là nơi sinh sống của nhóm dân tộc Issa, những người đã làm nên "Tuyên ngôn Arta", trong đó họ tuyên bố thống nhất dưới sự bảo hộ của Pháp. Họ lập luận chống lại ảnh hưởng của các quốc gia láng giềng độc lập lớn hơn như EthiopiaSomalia cũng như chống lại mối liên hệ với một trong những quốc gia này.

Từ ngày 2 tháng 5 năm 2000,[2] các cuộc đàm phán hoà bình giữa các phe khác nhau của nội chiến Somali đã được tổ chức ở Arta, dẫn đến việc thành lập chính phủ quốc gia chuyển tiếp của Somalia.[3]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thị xã nằm ở độ cao 755 mét (2.477 feet) so với mực nước biển, trên dãy núi Arta. Nó được kết nối với các khu vực khác bằng Quốc lộ 4. Xe buýt công cộng thường mất khoảng nửa giờ đi từ Thành phố Djibouti đến Arta. Thị trấn nhỏ hơn Weʽa nằm ngay dưới chân núi, khoảng 3 km (1,9 dặm) về phía nam.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Thị xã có nhiều ánh nắng mặt trời, trung bình từ 8 đến 10 giờ/ngày quanh năm. Lượng nắng thấp nhất trong mùa mưa, với sương mù ven biển và nhiều mây hơn khi không khí ấm đi qua các ngọn núi.

Arta có khí hậu bán khô hạn (phân loại khí hậu Köppen BSh).[4]

Dữ liệu khí hậu của Arta
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình cao °C (°F) 25,9
(78.7)
26,2
(79.2)
26,9
(80.4)
28,1
(82.6)
29,3
(84.8)
33,4
(92.2)
36,2
(97.1)
35,7
(96.2)
31,7
(89.0)
27,6
(81.6)
26,7
(80.0)
26,3
(79.4)
29,50
Trung bình thấp, °C (°F) 15,1
(59.2)
16,9
(62.5)
18,2
(64.8)
19,8
(67.7)
21,4
(70.6)
23,7
(74.7)
25,6
(78.0)
25,1
(77.1)
23,3
(74.0)
20,1
(68.1)
17,6
(63.6)
15,3
(59.6)
20,18
Lượng mưa, mm (inch) 30
(1.18)
27
(1.06)
26
(1.02)
30
(1.18)
16
(0.63)
1
(0.04)
9
(0.35)
20
(0.79)
10
(0.39)
12
(0.47)
43
(1.69)
12
(0.47)
236
(9,29)
Nguồn #1: Climate-Data.org, trên độ cao 755m[5]
Nguồn #2: Levoyageur[6]

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2013, dân số của Arta được ước tính là 11.043 người. Cư dân thị xã thuộc nhiều nhóm dân tộc chủ yếu nói ngữ hệ Phi-Á, với bộ tộc Somali Issa chiếm đa số.

Thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Arta kết nghĩa với:

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thompson, Virginia; Adloff, Richard (1968). Djibouti and the Horn of Africa. Stanford University Press. tr. 46. ISBN 978-0-8047-0650-6.
  2. ^ Seddon, David (15 tháng 4 năm 2013). A Political and Economic Dictionary of Africa. Routledge. tr. 174. ISBN 978-1-135-35555-5.
  3. ^ Yearbook of the United Nations: 2000 Edition. United Nations Publications. 1 tháng 1 năm 2002. tr. 215. ISBN 978-92-1-100857-9.
  4. ^ “Arta, Arta Region, Djibouti”. www.mindat.org. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2022.
  5. ^ “Climate: Arta - Climate graph, Temperature graph, Climate table”. Climate-Data.org. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013.
  6. ^ “DJIBOUTI - ARTA: Climate, weather, temperatures”. Levoyageur. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2016.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phương tiện liên quan tới Arta, Djibouti tại Wikimedia Commons