Audrey Tautou

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Audrey Tautou
Audrey Tautou Cannes 2012 (cropped).jpg
Audrey Tautou tại Liên hoan phim Cannes 2012
Tên khai sinh Audrey Justine Tautou
Sinh 9 tháng 8, 1976 (42 tuổi)
Beaumont, Puy-de-Dôme, Pháp
Nghề nghiệp Diễn viên, người mẫu
Hoạt động 1996 – nay

Audrey Justine Tautou (phát âm tiếng Pháp: [odʁɛ ʒystin totu]  (Speaker Icon.svg nghe); sinh ngày 9 tháng 8 năm 1976[1] là nữ diễn viên điện ảnh và người mẫu người Pháp.[2] Ký hợp đồng với một đại diện quản lý vào năm 17 tuổi, cô có vai diễn đầu tay vào năm 18 tuổi trong một bộ phim truyền hình và góp mặt trong một bộ phim điện ảnh đầu tiên vào năm sau, Venus Beauty Institute (1999), mà cô nhận được lời khen ngợi và giành được Giải César cho nữ diễn viên triển vọng. Các vai diễn tiếp theo của cô trong thập niên 1990 bao gồm Le LibertinHappenstance (2000).

Tautou giành được sự công nhận quốc tế cho vai chính trong bộ phim Amélie vào năm 2001, đạt được sự ca ngợi về mặt phê bình và là một thành công lớn về doanh thu phòng vé. Amélie giành giải Phim hay nhất tại Giải thưởng Điện ảnh châu Âu, bốn Giải César (bao gồm Phim hay nhấtĐạo diễn xuất sắc nhất), hai giải BAFTA (bao gồm Kịch bản gốc xuất sắc nhất) và được đề cử năm Giải Oscar.

Kể từ đó, Tautou đã xuất hiện trong các bộ phim thuộc nhiều thể loại khác nhau, trong đó có những bộ phim kinh dị Dirty Pretty ThingsMật mã Da Vinci, và lãng mạn với Priceless (2006). Cô đã nhận được nhiều lời khen ngợi đối với nhiều vai diễn của cô bao gồm bộ phim chính kịch Cuộc đính hôn lâu dài (2004) và bộ phim tiểu sử Coco avant Chanel (2009). Cô đã được đề cử ba lần cho giải César và hai lần cho giải BAFTA cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Cô trở thành một trong số ít các diễn viên người Pháp trong lịch sử được mời tham gia Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh (AMPAS) vào tháng 6 năm 2004.[3]

Tautou đã làm người mẫu cho Chanel, Montblanc, L'Oréal và nhiều công ty khác. Cô là một người ủng hộ tích cực của nhiều tổ chức từ thiện.

Những năm đầu đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tautou sinh tại Puy-de-Dôme, Auvergne, Pháp và lớn lên ở Montluçon gần Allier, Auvergne. Cha của cô, Bernard Tautou, là một nhà giải phẫu nha khoa, còn người mẹ Eveline là một giáo viên.[4] Tautou tỏ ra ưa thích diễn xuất từ khi còn nhỏ và sau khi tốt nghiệp bằng tú tài, cô theo học diễn xuất ở Cours Florent.[5]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1998, Tautou tham gia cuộc thi tìm kiếm ngôi sao do kênh truyền hình Canal+ tài trợ gọi là "Jeunes Premiers" (Các người trẻ ra mắt) và đoạt giải nữ diễn viên trẻ xuất sắc nhất ở Liên hoan diễn viên trẻ Béziers lần thứ 9. Cô được Tonie Marshall chú ý và cho đóng một vai trong phim Vénus beauté (institut) năm 1999. Phim này đã đoạt giải César. Năm 2000, cô đoạt Giải Suzanne Bianchetti.

Năm 2001 Tautou nổi tiếng thế giới khi diễn vai chính trong phim Le Fabuleux Destin d'Amélie Poulain (Amélie). Tháng 6 năm 2004 cô được mời tham gia Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh (AMPAS).[6] Cô trở thành hội viên của viện này từ ngày 1.9.2006.

Năm 2005, Tautou sang Hollywood đóng phim Mật mã Da Vinci, đối diện với Tom Hanks, một phim chuyển thể từ tiểu thuyết bán chạy nhất của Dan Brown do Ron Howard đạo diễn và phát hành tháng 5 năm 2006. Sau đó cô diễn xuất chung với Gad Elmaleh trong phim Hors de prix (Priceless) của Pierre Salvadori, phát hành ngày 13.12. 2006. Phim này được so sánh với phim Breakfast at Tiffany's.

Năm 2007 Tautou diễn chung với Guillaume Canet trong phim Ensemble, c'est tout (2007) của Claude Berri, một phim chuyển thể từ tiểu thuyết của Anna Gavalda. Năm 2008 cô đóng vai chính trong phim tiểu sử của nhà thiết kế thời trang Coco Chanel. Phim này bắt đầu quay ở Paris từ tháng 9 năm 2008, dưới tên Coco avant Chanel, do Anne Fontaine đạo diễn.[7][8][9] và được phát hành ở Pháp ngày 22.4.2009. Kịch bản của phim mới[10] một phần dựa trên quyển "L’Irrégulière" của Charles-Roux. Ngoài việc xúc tiến phim tiểu sử mới Coco Chanel trong tháng 5/2008, Tautou cũng được bổ nhiệm làm người mẫu quảng cáo sắp tới cho Chanel No. 5, thay thế Nicole Kidman. Cô cũng đóng phim quảng cáo của Jean-Pierre Jeunet, phát hành năm 2009.[11][12][13]

Sở thích[sửa | sửa mã nguồn]

Cô thích các tác giả Victor Hugo, Oscar Wilde, Paul Auster, Timothy Zahn và các thi sĩ Charles Baudelaire, Tristan Tzara. Cô rất thích khỉ. Sau buổi chiếu ra mắt phim Amélie (trong đó cô được rất nhiều nhà báo săn tìm và báo chí đưa tin), cô du hành sang các rừng nhiệt đới ở Indonesia để giúp lập khu bảo tồn loài khỉ.

Cô chụp hình các phóng viên phỏng vấn cô và lưu trong một scrapbook.

Tautou nói rằng cô vẫn thích sống và làm việc ở Pháp hơn là sang Hoa Kỳ. Cô đã nói với Stevie Wong của báo The Straits Times:

Bài hát "Tauttou" của ban nhạc Brand New trong album nhạc Déjà Entendu được đặt theo tên cô.

Danh mục phim[sửa | sửa mã nguồn]

Film
Năm Phim Vai diễn Ghi chú
1999 Venus Beauty Institute Marie Giải César cho nữ diễn viên triển vọng
Giải Lumière cho nữ diễn viên trẻ triển vọng nhất
Triste à Mourir Caro
2000 Marry Me Marie-Ange
The Little Grifters Anne-Sophie
The Libertine Julie d'Holbach
Happenstance Irène
2001 Amélie Amélie Poulain Giải của Hiệp hội phê bình phim Chicago cho diễn viên triển vọng nhất
Giải Lumière cho nữ diễn viên xuất sắc nhất
Giải Sant Jordi cho nữ diễn viên nước ngoài xuất sắc nhất
Đề cử - Giải BAFTA cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử - Giải César cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử - Giải Phim châu Âu cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử - Giải Phim châu Âu Giải của khán giả cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử - Giải của Hội phê bình phim Online cho diễn xuất đột phá
Đề cử - Giải của Hội phê bình phim Phoenix cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử - Giải của Hội phê bình phim Phoenix cho diễn viên mới xuất sắc nhất
Đề cử - Giải Empire cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử - Giải Vệ tinh cho nữ diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất
God Is Great and I'm Not Michèle
2002 He Loves Me, He Loves Me Not Angélique
Dirty Pretty Things Senay Gelik Đề cử - Giải Phim châu Âu Giải của khán giả cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Pot Luck Martine
2003 Lost Seamen Lalla
Not on the Lips Huguette Verberie
Happy End Martine
2004 A Very Long Engagement Mathilde Đề cử - Giải César cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất< br>Đề cử - Giải Phim châu Âu cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Giải Phim châu Âu Giải của khán giả cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
2005 The Russian Dolls Martine
2006 The Da Vinci Code Sophie Neveu
Priceless Irène NRJ Cíne Award for Best Kiss
2007 Hunting and Gathering Camille
2009 Coco Before Chanel Coco Chanel Đề cử - Giải BAFTA cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử - Giải César cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguồn năm sinh
    • “Audrey Tautou”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2008. sinh 9 tháng 8 năm 1976/78, Beaumont, Auvergne, Pháp 
    • “TAUTOU Audrey”. Les Gens du Cinema. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2013. Lieu: BEAUMONT (63-France); Naissance: 9 août 1976; Reférence: Extrait de naissance n° 6672/1976 [dịch: Địa điểm: BEAUMONT (63-Pháp); Sinh: 9 tháng 8 năm 1976; Nguồn: Giấy khai sinh số 6672/1976] 
    • Willsher, Kim (14 tháng 4 năm 2013). “Audrey Tautou: how the French learned to love the star of Amélie”. The Observer. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2013. Cô sinh tháng 8 năm 1976. Cha của cô là một bác sĩ nha khoa, mẹ cô là giáo viên. Cô lớn lên tại Montluçon, một thị trấn ở miền trung nước Pháp. 
    • “A propos de quelques ÉLÈVES CÉLÈBRES...” [About some famous students...]. Collège Jules Ferry Montlucon. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2004. née en 1976, élève de 1987 à 1991 [dịch: sinh năm 1976, là một sinh viên từ năm 1987 tới năm 1991] 
    • Kangasniemi, Sanna (25 tháng 10 năm 2013). “Ainaisesti ujo pariisitar”. Helsingin Sanomat (bằng tiếng Finnish) (Friday supplement Nyt) (Helsinki). tr. 10–11. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2013. Sitten hän vastaa. Syntymävuosi on 1976. ’Mutta pitäisin parempana, jos kirjoittaisitte 1978. Voisitteko kirjoittaa 1978? Kerron teille totuuden ja pyydän teitä valehtelemaan.’ [Sau đó cô đáp lời. Năm sinh của cô là 1976. ‘Nhưng tôi thích bạn ghi là 1978 hơn. Bạn có thể ghi là 1978 không? Tôi nói sự thật với bạn, và yêu cầu bạn nói dối.’] 
  2. ^ “Audrey Tautou, sabia discreción Juan Ignacio Francia” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Lavanguardia.com. 7 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2013. 
  3. ^ Academy Invites 127 to Membership Lưu trữ 11 June 2007 tại Wayback Machine.
  4. ^ Biographie, Fan de Andrey Tautou, truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2009 
  5. ^ Les florentins qui font la réputation de nore école, Cours Florent, truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2009 
  6. ^ Academy Invites 127 to Membership
  7. ^ “Warner Bros. backs Chanel biopic”. Digital Spy. Truy cập 5 tháng 3 năm 2015. 
  8. ^ “Audrey Tautou”. Truy cập 5 tháng 3 năm 2015. 
  9. ^ “Coco Before Chanel (2009)”. 23 tháng 7 năm 2009. Truy cập 5 tháng 3 năm 2015. 
  10. ^ Audrey Tautou: The New Coco Chanel
  11. ^ New role for Audrey Tautou, Daily Telegraph, Ngày 11 tháng 5 năm 2008, truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008 
  12. ^ Snead, Elizabeth (ngày 5 tháng 5 năm 2008), Is it a bird or a plane? Sarah Jessica Parker won't save the Costume Gala?, Los Angeles Times, truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008 
  13. ^ Audrey Tautou new face of Chanel, China Daily, Ngày 16 tháng 5 năm 2008, truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008 
  14. ^ The Star Online eCentral: From Amelie to Sophie

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]