Bệnh Phenylketone niệu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bệnh phênylkêtô niệu (PKU)
Thiếu Phenylalanine hydroxylase (PAH), bệnh Følling[1]
L-Phenylalanin - L-Phenylalanine.svg
Phenylalanine
Chuyên khoaDi truyền y học, Nhi khoa
Triệu chứngNếu không điều trị có thể dẫn đến khuyết tật về trí tuệ, động kinh, các vấn đề về hành vi và rối loạn tâm thần[1]
Khởi phát thông thườngLúc sinh[2]
Nguyên nhânDi truyền (gen lặn ở NST thường)[1]
Phương pháp chẩn đoánChương trình tầm soát trẻ sơ sinh ở nhiều quốc gia[3]
Điều trịĐiều trị bằng chế độ ăn ít thực phẩm chứa phenylalanine và chất bổ sung đặc biệt[2]
Tần suất~1/12.000[4]
Patient UKBệnh phênylkêtô niệu (PKU)

Bệnh Phênylkêtô niệu là bệnh rối loạn về chuyển hóa phênylalanin (Phe) thành tirôzin (Tyr) do thiếu enzym phênylalanin hyđrôxylaza, vì gen mã hoá enzym này bị mất chức năng bởi một đột biến lặn. Thuật ngữ này dịch từ tiếng Anh: Phenylketonuria chỉ rối loạn trao đổi chất do di truyền ở người, thường viết tắt là PKU.[5] [6] [7]

•     Bình thường, phe (phêninalanin) nếu có trong thức ăn, sẽ được một enzim chuyển hoá thành tirôzin. Enzym này là phênylalanin hyđrôxylaza (phenylalanine hydroxylase). Tirôzin (tyr) là tiền chất quan trọng để sản xuất serotonin, các catecholoamine (chất dẫn truyền thần kinh), hormon tuyến giáp, melanin cùng nhiều hợp chất quan trọng khác.[3]

•     Khi gen mã hoá enzim này (gọi là gen PAH) đột biến thì nó bị mất chức năng: không sản sinh ra enzim phênylalanin hyđrôxylaza được đủ, do đó người bị đột biến này ở trạng thái đồng hợp lặn vừa bị thiếu tyr (tirôzin) lại vừa bị phêninalanin ứ đọng, một phần phêninalanin lên não đầu độc các nơron trung ương, gây thiểu năng trí tuệ, có khi mất trí (hình 2).[7] [1]

PKU (bệnh phêninkêtô niệu) di truyền theo quy luật Mendel, có thể đề phòng và điều trị được qua điều chỉnh chế độ ăn uống của trẻ nhỏ. Nếu không biết sớm, trẻ thường bị khuyết tật về trí tuệ, động kinh, các vấn đề về hành vi và rối loạn tâm thần. Biểu hiện sớm có thể thấy ở trẻ ba tháng tuổi với các triệu chứng: đầu nhỏ, dễ kích động, dị tật di chuyển, điện não đồ bất thường.[1] Trẻ sinh ra từ những bà mẹ bị PKU không điều trị có thể bị bệnh tim, đầu nhỏ và nhẹ cân.

Người bệnh mang cặp gen PAH đột biến lặn, trong đó một alen của bố truyền, còn alen kia có nguồn gốc từ mẹ. Bố hay mẹ chỉ mang 1 alen đột biến lặn thì vẫn hoàn toàn bình thường. Nhưng cặp vợ chồng đều là thể dị hợp thể như thế có xác suất sinh ra con bị PKU là 25%.

Có hai dạng PKU thường gặp trong lâm sàng: PKU cổ điển và PKU biến thể. Nhiều quốc gia có chương trình sàng lọc cho trẻ sơ sinh.

Điều trị bằng chế độ ăn ít thực phẩm chứa phenylalanine và chất bổ sung đặc biệt[2]. Trẻ nên sử dụng một công thức đặc biệt.[2] Chế độ ăn nên bắt đầu càng sớm càng tốt sau khi sinh và sẽ kéo dài suốt đời.[2] Những người được chẩn đoán sớm và duy trì chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt có thể có sức khoẻ bình thường và tuổi thọ bình thường. Hiệu quả được theo dõi thông qua xét nghiệm máu định kỳ.[8] Thuốc sapropterin dihydrochloride có thể hữu ích trong một số.

Trẻ sơ sinh bị PKU thường xuất hiện với tần số trung bình là khoảng 1/12.000 bé sơ sinh.[4] Nam và nữ giới bị ảnh hưởng ngang nhau.[9] Bệnh được phát hiện năm 1934 bởi Ivar Asbjørn Følling với tầm quan trọng của chế độ ăn kiêng được xác định năm 1953.[10] Liệu pháp gen, trong khi hứa hẹn, đòi hỏi nhiều nghiên cứu hơn nữa vào năm 2014.[11]

Hình 2: Gen mã hoá enzym phênylalanin hyđrôxylaza mất chức năng, làm phênylalanin ứ đọng, đầu độc não.


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c “phenylketonuria”. Genetics Home Reference. Ngày 8 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016. 
  2. ^ a ă â b c “What are common treatments for phenylketonuria (PKU)?”. NICHD. Ngày 23 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016. 
  3. ^ a ă Al Hafid, N; Christodoulou, J (tháng 10 năm 2015). “Phenylketonuria: a review of current and future treatments.”. Translational pediatrics 4 (4): 304–17. PMC 4728993. PMID 26835392. doi:10.3978/j.issn.2224-4336.2015.10.07. 
  4. ^ a ă Bernstein, Laurie E.; Rohr, Fran; Helm, Joanna R. (2015). Nutrition Management of Inherited Metabolic Diseases: Lessons from Metabolic University (bằng tiếng Anh). Springer. tr. 91. ISBN 9783319146218. 
  5. ^ “Phenylketonuria”. 
  6. ^ Campbell và cộng sự: "Sinh học" - NXB Giáo dục, 2010.
  7. ^ a ă SGK "Sinh học 12" - NXB Giáo dục, 2017.
  8. ^ “National Institutes of Health Consensus Development Conference Statement Phenylketonuria: Screening and Management”. NICHD. October 16–18, 2000. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016. 
  9. ^ Marcdante, Karen; Kliegman, Robert M. (2014). Nelson Essentials of Pediatrics (bằng tiếng Anh) (ấn bản 7). Elsevier Health Sciences. tr. 150. ISBN 9780323226981. 
  10. ^ Kalter, Harold (2010). Teratology in the Twentieth Century Plus Ten (bằng tiếng Anh). Springer Science & Business Media. tr. 89–92. ISBN 9789048188208. 
  11. ^ Camp, KM; Parisi, MA (tháng 6 năm 2014). “Phenylketonuria Scientific Review Conference: state of the science and future research needs.”. Molecular genetics and metabolism 112 (2): 87–122. PMID 24667081. doi:10.1016/j.ymgme.2014.02.013.