BNS Nirmul

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
BNS Nirmul.jpg
Lịch sử
Bangladesh
Tên gọi BNS Nirmul
Đặt hàng 2009
Xưởng đóng tàu Nhà máy đóng tàu Vũ Hán
Hạ thủy 27 tháng 9 năm 2012
Trưng dụng Tháng 2, 2013
Nhập biên chế 29 tháng 8 năm 2013
Cảng nhà Chittagong
Số tàu Pennant number: P 813
Tình trạng Đang hoạt động
Đặc điểm khái quát
Lớp tàu Durjoy-class large patrol craft
Trọng tải choán nước 648 tonnes
Chiều dài 64,2 m (211 ft) (overall)
Sườn ngang 9 m (30 ft)
Mớn nước 4 m (13 ft)
Động cơ đẩy 2 shafts, 2 diesels
Tốc độ 28 hải lý trên giờ (52 km/h)
Tầm xa 2.500 nmi (4.600 km; 2.900 mi)
Tầm hoạt động 15 ngày
Thủy thủ đoàn tối đa 60 thủy thủ đoàn
Hệ thống cảm biến và xử lý
  • Type 360 Radar (SR60) Surface Search, E/F band
  • MR-123-02/76 Fire Control Radar for 76.2mm gun
  • Type 352 Radar (Square Tie) surface search and SSM fire control, I-band
  • Type 347G Radar (Rice Bowl) for 20mm cannon, I-band
  • ESS-3 bow mounted sonar
Vũ khí

BNS Nirmul là một tàu chiến lớp "Durjoy" thuộc biên chế Hải quân Bangladesh. Đây là con tàu thứ hai thuộc lớp tàu chiến này. Chiếc tàu này phục vụ Hải quân Bangladesh từ năm 2013.

Phục vụ[sửa | sửa mã nguồn]

BNS Nirmul được đóng tại Nhà máy đóng tàu Vũ Hán, Trung Quốc vào ngày 27 tháng 9 năm 2012. Nó đã tới Bangladesh vào tháng 2 năm 2013. Vào ngày 29 tháng 8 năm 2013, nó đã được ủy thác cho Hải quân Bangladesh với tên BNS Nirmul.[1]

Vào ngày 12 tháng 5 năm 2014, tàu rời đi Liban tham gia Lực lượng Tạm thời của Liên Hợp Quốc ở Lebanon (UNIFIL).[2] Nó thay thế cho tàu BNS Madhumati bắt đầu từ 14 tháng 6 năm 2014.[3]

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

BNS Nirmul có chiều dài 64,2 mét (211 ft), rộng 9 mét (30 ft) và mớn nước 4 mét (13 ft) và tải trọng 648 tấn. Con tàu có Bulbous bow cho thấy nó rất ổn định ở các nước biển nặng. Nó có tốc độ và phạm vi để hỗ trợ nhiệm vụ lâu dài. Các LPC được cung cấp bởi ba Pielstick diesels lái xe ba ốc vít cho một tốc độ hàng đầu 28 hải lý trên giờ (52 km/h; 32 mph). Phạm vi hoạt động của con tàu là 2.500 hải lý (4.600 km; 2.900 mi) và 15 ngày. Con tàu này có thể thực hiện các nhiệm vụ tấn công ở các phạm vi về 2.500 hải lý (4.600 km; 2.900 mi) cũng như thực hiện các hoạt động hạn hẹp Chiến tranh chống tàu ngầm.

Thiết bị điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Cảm biến chính của con tàu là một Type 360 (SR60) Tìm kiếm bề mặt, radar băng tần E / F. Nó mang radar kiểm soát hỏa lực "MR-123-02 / 76" của Nga cho nòng 76,2mm H/PJ-26 và 2 I-band Type 347G Radar (Rice Bowl) cho pháo 20mm. Để kiểm soát hỏa hoạn C-704 tên lửa, tàu này sử dụng Type 352 (Square Tie) I-band radar có thể được sử dụng như radar tìm kiếm trên mặt đất. Con tàu có sonar vòm cung ESS-3 với phạm vi hiệu quả về 8.000 mét (26.000 ft) để phát hiện dưới nước. Một hệ thống quản lý chiến đấu JRCSS (CMS) với ít nhất 3 máy đa chức năng cũng được trang bị trên tàu.

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

LPC được trang bị một máy 76,2mm H/PJ-26 súng hải quân và bốn C-704) tên lửa đất đối đất (SSM) gắn phía sau. Ngoài ra, nó có hai Oerlikon 20 mm cannon có thể được sử dụng trong vai trò chống máy bay. Để sử dụng trong Anti-submarine warfare (ASW) nó có hai máy phóng tên lửa ASDS 6 ống EDS-25A 250mm và mồi giả.

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệm vụ chính của họ là bảo vệ cả đội tàu đánh cá, các mỏ dầu và khí đốt và các Khu kinh tế khác. Ngoài ra, họ cũng có thể phục vụ trong vai trò chống tàu cũng như thực hiện các hoạt động chống tàu ngầm hạn chế (ASW).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “PM arrives in Ctg”. Independentbd.com. ngày 29 tháng 8 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2015. Đã định rõ hơn một tham số trong |archiveurl=|archive-url= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |archivedate=|archive-date= (trợ giúp)
  2. ^ http://thedailynewnation.com/news/12319/two-war-ships-ali-haider-and-nirmul-of-bangladesh-navy-left-chittagong--for-lebanon-in-un-peace-mission-yesterday.html
  3. ^ http://www.thedailystar.net/bangladesh-navy-contributes-two-more-battleships-28542