Boston Red Sox
| Boston Red Sox | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Thành lập năm 1901 | |||||
| Đặt tại Boston từ năm 1901 | |||||
| |||||
| Giải đấu | |||||
| |||||
| Đồng phục hiện nay | |||||
| Số áo kỷ niệm | |||||
| Màu áo | |||||
| |||||
| Tên gọi | |||||
| Tên gọi khác | |||||
| |||||
| Sân vận động | |||||
| |||||
| Danh hiệu lớn | |||||
| World Series (9) | |||||
| Vô địch AL (13) | |||||
| Bảng miền Đông (8) | |||||
| Suất wild card (7) | |||||
| Ban điều hành | |||||
| Chủ sở hữu | Fenway Sports Group (John Henry (Principal Owner), Tom Werner (Chairman), Sam Kennedy (CEO)) | ||||
| Huấn luyện viên | John Farrell | ||||
| Chủ tịch điều hành bóng chày | Dave Dombrowski | ||||
Boston Red Sox là đội bóng chày chuyên nghiệp Mỹ được thành lập tại Boston, Massachusetts. Boston Red Sox tham gia giải Major League Baseball (MLB) là thành viên của American League (AL) khu vực miền Đông. Boston Red Sox đã giành được 9 World Series trong 13 lần tham dự. Được thành lập năm 1901, sân nhà của Boston Red Sox là sân Fenway Park từ năm 1912. Biệt danh "Red Sox" được chọn bởi chủ sở hữu đội bóng, John I. Taylor, năm 1908, dựa trên tên của đội bóng chày cùng thành phố "Boston Red Stockings".
Boston Red Sox đánh bại Pittsburgh Pirates và là đội bóng chày đầu tiên vô địch World Series vào năm 1903 và sau đó giành thêm 4 chức vô địch trong giai đoạn từ năm 1903 đến 1918. Tuy nhiên, sau đó đội bóng đã trải qua một trong những cơn khát danh hiệu vô địch lâu nhất lịch sử bóng chày trong 86 năm, và kết thúc khi đội bóng giành được chức vô địch World Series năm 2004. Sau đó đội bóng tiếp tục vô địch World Series năm 2007, 2013 và World Series 2018 Boston Red Sox trở thành đội bóng đầu tiên giành bốn danh hiệu World Series trong thế kỷ 21. Đội bóng kình địch của Boston Red Sox là New York Yankees, được cho là những cặp kình địch cạnh tranh khốc liệt nhất trong lich sử thể thao chuyên nghiệp Bắc Mỹ.[1][2]
Boston Red Sox được sở hữu bởi Fenway Sports Group, và cũng là chủ sở hữu câu lạc bộ bóng đá Liverpool F.C. tại Giải Ngoại hạng Anh. Boston Red Sox nằm vị trí thứ 18 trong bảng xếp hạng những câu lạc bộ thể thao có giá trị thương hiệu nhất thế giới, và đứng vị trí thứ 5 trong số các câu lạc bộ MLB.[3]
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]1901–1919: Thời kỳ hoàng kim
[sửa | sửa mã nguồn]
Năm 1901, giải hạng dưới Western League, do Ban Johnson dẫn đầu, tuyên bố mình ngang hàng với National League, bấy giờ là giải đấu hạng nhà nghề duy nhất.[4] Johnson đã đổi tên giải đấu thành American League trước mùa giải năm 1900. [5] Năm 1901, giải đấu đã thành lập một đội thành viên ở Boston tên là "Boston Americans" để cạnh tranh với đội National League ở đó.[6][7]

Chơi trên sân nhà đầu tiên tại Huntington Avenue Grounds,[8] Boston đã đứng thứ hai AL vào năm 1901 và thứ ba vào năm 1902.[9][10] . [11] Vào tháng 1 năm 1902, chủ sở hữu đầu tiên CW Somers đã bán tất cả trừ một cổ phần của đội cho Henry Killilea.[11]
Đội ban đầu được dẫn dắt bởi huấn luyện viên kiêm ngôi sao chốt ba Jimmy Collins, các hậu vệ Chick Stahl, Buck Freeman và Patsy Dougherty, cùng với huyền thoại giao bóng Cy Young, người đã giành được danh hiệu Tam vương miện vào năm 1901 với 33 trận thắng (41,8% trong số 79 trận thắng của đội), ERA 1,62 và 158 lần strikeout.[12][13][14][15]
Năm 1903, đội đã giành được chức vô địch AL đầu tiên[12] và Boston đã góp mặt tại loạt chung kết World Series hiện đại đầu tiên, đối đầu với Pittsburgh Pirates.[16] Dưới lời hát vang bài "Tessie" lời sửa đổi của câu lạc bộ người hâm mộ Royal Rooters và với đội ngũ giao bóng vượt trội, Americans đã thắng loạt trận chín ván thắng năm với tỷ số ván 5 - 3.[16][17]

Vào tháng 4 năm 1904, đội bóng được John I. Taylor người Boston mua lại.[18][19] Đội bóng năm 1904 đã cạnh tranh giành chức vô địch với đội New York Highlanders.[20] Là tiền thân của mối kình địch nổi tiếng sau này, cuộc đua vô địch này bao gồm việc Patsy Dougherty chuyển đến Highlanders để đổi lấy Bob Unglaub.[21] Để giành chức vô địch, Highlanders cần thắng cả hai trận trong trận đấu đôi cuối cùng của họ với Americans tại sân nhà của Highlanders, Hilltop Park.[22] Với Jack Chesbro đảm nhiệm giao bóng, và tỷ số hòa 2–2 với một người ở chốt ba ở đầu hiệp thứ chín, một quả bóng xoáy ra từ tay Chesbro và Lou Criger ghi điểm giành chiến thắng và chức vô địch thứ hai cho Americans. [23] Tuy nhiên, nhà vô địch NL New York Giants đã từ chối tranh tài ở bất kỳ loạt trận nào sau mùa giải, nhưng phản đối dữ dội của công chúng đã khiến hai giải phải thống nhất biến World Series thành vòng tranh chức vô địch thường niên từ năm 1905.[24][25][26]

Năm 1906, Boston thua 105 trận và đứng cuối bảng xếp hạng AL.[27] Vào tháng 12 năm 1907, Taylor đề xuất rằng đội Boston Americans đổi tên thành Boston Red Sox.[28]
Đến năm 1909, trung vệ Tris Speaker đã trở thành một nhân tố không thể thiếu ở hàng hậu vệ của Boston, [29] và đội kết thúc mùa giải ở vị trí thứ ba.[30] Năm 1912, Red Sox thắng 105 trận, kỷ lục của câu lạc bộ cho tới năm 2018, và giành chức vô địch.[31][32][33] Với hàng hậu vệ gồm Tris Speaker, Harry Hooper và Duffy Lewis, cùng với tay ném Smoky Joe Wood, Red Sox đã đánh bại New York Giants với tỷ số ván 4–3–1 tại World Series năm 1912, nổi tiếng với cú bắt hỏng của Fred Snodgrass.[34]
Từ năm 1913 đến năm 1916, đội Red Sox thuộc sở hữu của Joseph Lannin. Năm 1914, Lannin đã ký hợp đồng với tài năng giao bóng tên là Babe Ruth từ đội Baltimore Orioles của giải International League.[35][36][37] Năm 1915, đội đã thắng 101 trận, tiến vào World Series năm 1915, [38] và giành chức vô địch khi đánh bại Philadelphia Phillies với tỷ số ván 4 - 1.[39] Sau mùa giải 1915, Tris Speaker chuyển tới Cleveland Indians,[40] Red Sox tiếp tục giành chức vô địch World Series năm 1916, sau khi đánh bại Brooklyn Robins.[41]
Thương vụ Babe Ruth và hậu quả (1920–1938)
[sửa | sửa mã nguồn]Vào ngày 26 tháng 12 năm 1919, đội Red Sox đã bán Babe Ruth, người đã chơi sáu mùa giải tại đây, cho đối thủ New York Yankees,[42] và thương vụ được công bố vào ngày 6 tháng 1 năm 1920.[43] Năm 1919, Ruth đã phá sâu kỷ lục số home run ghi trong một mùa giải, với 29 cú.[44][45] Người ta cho rằng Frazee đã bán Ruth để tài trợ cho vở nhạc kịch Broadway tên No, No, Nanette.[46] Mặc dù No, No, Nanette không được công diễn trên Broadway cho đến năm 1925, cuốn sách của Leigh Montville, The Big Bam: The Life and Times of Babe Ruth,[46] cho biết No, No, Nanette ban đầu là một vở kịch sân khấu phi nhạc kịch có tên My Lady Friends, được công diễn trên Broadway vào tháng 12 năm 1919.[46] Theo cuốn sách, vở My Lady Friends được tài trợ bởi thương vụ bán Ruth cho Yankees.[46] Thương vụ được coi là khởi đầu của mối thâm thù giữa Yankees và Red Sox, được các nhà báo thể thao Mỹ coi là "cặp kình địch hay nhất".[47]
Việc mất nhiều ngôi sao hàng đầu đã khiến Red Sox suy thoái nghiêm trọng.[48] Trong những năm 1920 và đầu những năm 1930, Red Sox luôn nằm ở nhóm hai, không lần nào kết thúc mùa giải cách đội đứng đầu dưới 20 trận.[49][50] Đội càng thua nhiều hơn sau khi bị Frazee bán cho Bob Quinn vào năm 1923,[48][50] chạm đáy vào năm 1932 với thành tích 43 thắng - 111 bại, thành tích tệ nhất trong lịch sử CLB cho tới nay.[51] Năm 1931, Earl Webb lập kỷ lục về số lần hit đôi nhiều nhất trong một mùa giải với 67 cú.[52]
Năm 1933, đội chuyển quyền sở hữu sang Tom Yawkey.[53] Yawkey đã chiêu mộ các tay ném Wes Ferrell[54] và Lefty Grove,[55] chặn ngắn kiêm huấn luyện viên Joe Cronin,[53] và chốt một Jimmie Foxx.[56] Năm 1938, Foxx đánh được 50 cú home run, kỷ lục câu lạc bộ trong 68 năm.[57][58] Năm đó, Foxx cũng lập kỷ lục của câu lạc bộ với 175 điểm ghi được.[59]
1939–1960: Kỷ nguyên của Ted Williams
[sửa | sửa mã nguồn]
Năm 1939, đội Red Sox mua lại hợp đồng của hậu vệ Ted Williams từ đội San Diego Padres của giải Pacific Coast League, mở ra kỷ nguyên đôi khi được gọi là "Ted Sox". Williams có khả năng đánh bóng uy lực và hiệu suất cao, và được coi là một trong những tay đập vĩ đại nhất mọi thời đại. Khu vực ném khởi động bên phải sân Fenway được xây dựng một phần để hỗ trợ những cú bóng Williams đánh ra, hay còn được gọi là "Williamsburg". Trước khi được xây bổ sung, rào cánh phải cách chốt nhà hơn 400 foot (120 m). Ông đã có hai lần phục vụ trong Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ với tư cách phi công và tham gia nghĩa vụ quân sự trong cả Thế chiến II và Chiến tranh Triều Tiên, qua đó bỏ lỡ ít nhất năm mùa giải bóng chày. Cuốn sách Khoa học đánh bóng của ông được nhiều người học bóng chày đón đọc. Hiện ông là cầu thủ cuối cùng đạt tỷ lệ đánh bóng trên .400 trong một mùa giải, với tỷ lệ .406 năm 1941.[60] Williams cũng có mâu thuẫn gay gát với cánh báo chí trong suốt sự nghiệp, gọi họ là "anh hùng bàn phím", và mối quan hệ với người hâm mộ cũng không mấy tốt đẹp khi người ta thấy ông nhổ nước bọt về phía khán đài.
Với sự góp mặt của Williams, đội Red Sox đã vào tới World Series năm 1946 nhưng để thua đội St. Louis Cardinals trong 7 ván, một phần do chiến thuật "Williams Shift" – một chiến thuật phòng ngự trong đó cầu chặn ngắn di chuyển sang phía cánh phải để chặn bóng hiệu quả hơn trước Williams vốn thuận tay trái. Một số người cho rằng cái tôi của ông quá cao để chấp nhận đánh bóng ra trái sân. Phong độ của ông cũng có thể đã bị ảnh hưởng bởi một cú ném trúng khuỷu tay trong một trận đấu giao hữu vài ngày trước đó. Dù sao đi nữa, trong lần duy nhất góp mặt tại World Series, Williams chỉ có được 5 hit đơn trong 25 lượt đánh, trung bình .200.
Đội Cardinals giành chiến thắng chung cuộc tại năm 1946 khi Enos Slaughter về điểm quyết định từ chốt một trên một cú hit sang cánh trái. Cú ném của Leon Culberson đã bị trung chuyển bởi chặn ngắn Johnny Pesky, người đã chuyền bóng về phía chốt nhà chỉ chậm hơn một chút. Có người cho rằng Pesky đã do dự hoặc "giữ bóng" trước khi quay người ném chuyền, nhưng điều này vẫn còn gây tranh cãi.
Ngoài Williams và Pesky, đội Red Sox còn có một số ngôi sao khác trong những năm 1940, bao gồm chốt hai Bobby Doerr và trung vệ Dom DiMaggio (em trai của Joe DiMaggio).
Đội Red Sox sau đó đã để mất chức vô địch giải AL đáng tiếc vào năm 1948 và 1949. Năm 1948, Boston kết thúc mùa giải với số điểm bằng với Cleveland, và sau đó thất bại trước trong trận playoff duy nhất, dập tắt cơ hội diễn ra một kì World Series toàn Boston. Điều kỳ lạ là huấn luyện viên Joseph McCarthy đã chọn lão tướng Denny Galehouse ném xuất phát trận playoff thay vì tài năng trẻ Mel Parnell đang sẵn sàng ra sân. Năm 1949, Red Sox dẫn trước New York Yankees một trận, nhưng rồi thua cả hai lượt trận cuối cùng đối đầu nhau.
Những năm 1950 được xem là thời kỳ khó khăn đối với đội Red Sox. Sau khi Williams trở về từ chiến tranh Triều Tiên năm 1953, nhiều trụ cột từ cuối những năm 1940 đã giải nghệ hoặc đã rời đi. Sự tương phản rõ rệt trong đội hình khiến giới phê bình gọi đội hình xuất phát của Red Sox là "Ted Williams và bảy chú lùn". Jackie Robinson và Willie Mays lúc này cũng được tập thử sức tại đội chủ sân Fenway Park và được các tuyển trạch viên của đội đánh giá cao, tuy nhiên, chủ sở hữu Tom Yawkey không muốn có một cầu thủ gốc Phi nào trong đội của mình. Năm 1955, chốt ba Frank Malzone ra mắt và Ted Williams đạt tỷ lệ đánh bóng .388 ở tuổi 38 vào năm 1957, và đó là những điểm sáng duy nhất tại Boston thời điểm này. Williams giải nghệ vào cuối mùa giải 1960, nổi tiếng với cú home run trong lượt đánh cuối cùng của mình, được ghi lại trong truyện ngắn "Người hâm mộ Hub tiễn biệt Kid" của John Updike. Cuối cùng, Red Sox trở thành đội bóng cuối cùng tại MLB có cầu thủ người Mỹ gốc Phi trong đội hình khi họ đôn cầu thủ sân trong Pumpsie Green từ đội dự bị AAA lên đội một vào năm 1959.
Thập niên 1960: Yaz và Giấc mơ bất khả thi
[sửa | sửa mã nguồn]Thập niên 1960 cũng khởi đầu không mấy thuận lợi cho đội Red Sox, mặc dù năm 1961 chứng kiến sự ra mắt của hậu vệ trái Carl "Yaz" Yastrzemski, người thay thế Williams, và sau đó trở thành một trong những tay đánh bóng xuất sắc nhất của thập kỷ nhiều siêu sao giao bóng này.
Người hâm mộ Red Sox gọi mùa giải 1967 là "Giấc mơ bất khả thi", khẩu hiệu bắt nguồn từ bài hát nổi tiếng trong vở nhạc kịch "Man of La Mancha". Năm 1967 chứng kiến một trong những cuộc đua vô địch gay cấn nhất trong lịch sử bóng chày với bốn đội cạnh tranh quyết liệt cho đến gần lượt trận cuối cùng. BoSox đã kết thúc mùa giải 1966 ở vị trí thứ chín, nhưng họ đã bùng nổ với đội hình dẫn đầu bởi Yastrzemski khi giành chức vô địch để tiến vào World Series năm 1967. Yastrzemski đã giành được danh hiệu Tam vương miện của AL (trường hợp gần đây nhất đạt được thành tích này trước khi Miguel Cabrera làm được vào năm 2012), với tỷ lệ đánh bóng .326, 44 cú home run và 121 RBI. Ông được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu, chỉ cách số phiếu bầu tuyệt đối một phiếu khi một nhà báo thể thao của Minnesota xếp trung vệ César Tovar của Twins đứng đầu trong phiếu bầu của mình.[61] Nhưng Red Sox đã thua tại World Series trước St. Louis Cardinals trong bảy ván, trong đó tay ném Bob Gibson của Cardinals đã hoàn toàn khuất phục Red Sox khi giành chiến thắng ba trận.
Năm 1964, tân binh 18 tuổi người Boston là Tony Conigliaro đã ghi được 24 cú home run, trở thành cầu thủ trẻ nhất trong lịch sử MLB đạt cột mốc 100 cú home run, một kỷ lục vẫn tồn tại đến ngày nay. Tuy nhiên, "Tony C" đã bị một quả bóng nhanh do Jack Hamilton của đội California Angels tung ra trúng xương gò má vào ngày 18 tháng 8 năm 1967, và phải nghỉ thi đấu cả mùa giải tiếp theo vì chấn động đầu và mờ mắt. Mặc dù có một mùa giải thành công vào năm 1970, nhưng anh không bao giờ đạt được phong độ như trước nữa.
Thập niên 1970: Kỷ nguyên Mũ Đỏ
[sửa | sửa mã nguồn]Mặc dù đội Red Sox đã thi đấu tốt trong phần lớn những năm cuối 1960 và đầu 1970, họ chưa bao giờ kết thúc ở vị trí cao hơn nhì bảng đấu của mình. Lần họ tiến gần nhất đến chức vô địch bảng đấu là năm 1972 khi kém đội Detroit Tigers với cách biệt nửa trận. Mùa giải bị trì hoãn do cuộc đình công của các cầu thủ, và Red Sox đã thua nhiều trận hơn Tigers một trận do cuộc đình công, vốn không được đánh bù. Red Sox đến Detroit cho loạt trận cuối cùng của mùa giải với lợi thế dẫn trước nửa trận, nhưng đã thua hai trong ba trận và bị loại khỏi cuộc đua vô địch.
1975
[sửa | sửa mã nguồn]
Sau khi Luis Tiant đã thắng ván 1 và 4 của World Series, nhưng sau năm ván, Red Sox bị dẫn trước 2 thắng 3 thua. Ván 6 tại sân Fenway Park được coi là một trong những trận đấu hay nhất trong lịch sử vòng play-off. Bị dẫn trước 6-3 ở hiệp thứ tám, người đánh dự bị Bernie Carbo của Red Sox ghi một cú home run ba điểm vào khán đài trung lộ trước Rawly Eastwick của Reds để gỡ hòa. Ở đầu hiệp thứ 11, hậu vệ phải Dwight Evans đã có một pha bắt ngoạn mục cú bóng Joe Morgan đánh kẻ ra và loại thêm được Ken Griffey ở chốt một để giữ tỷ số hòa. Ở cuối hiệp 12, Carlton Fisk đánh một cú bóng bổng sâu về phía cột biên trái phía trên bức tường Green Monster. Với trái bóng hút vào màn đêm, Fisk vẫy tay điên cuồng về phía trong biên, như cầu xin quả bóng đừng đi ra ngoài biên. Quả bóng đi vào trong biên, và cả sân Fenway bùng nổ khi Fisk chạy quanh các chốt để giành ngay chiến thắng cho Red Sox với tỷ số 7–6. Red Sox sau đó để thua ván 7 quyết định 3-4, sau khi đã dẫn trước 3-0 từ sớm.
Cuộc đua vô địch AL năm 1978
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 1978, hai đội Red Sox và Yankees đã cạnh tranh gay gắt cho chức vô địch. Vào tháng 7, Yankees kém Red Sox cách biệt 14+1⁄2 trận, nhưng đến ngày 10 tháng 9, sau khi vùi dập Red Sox trong 4 trận liên tiếp (còn gọi là "Cuộc thảm sát Boston"), Yankees đã vươn lên dẫn đầu bảng xếp hạng miền.
Vào ngày 16 tháng 9, đội Yankees dẫn trước Red Sox 3+1⁄2 trận, nhưng Sox đang ở phong độ rất cao khi đã thắng 11 trong 13 trận tiếp theo khi bước vào ngày cuối cùng của mùa giải, khi Yankees chỉ cần một trận thắng nữa để giành chức vô địch miền, trong trường hợp thắng Cleveland hoặc Boston thua Toronto Blue Jays. Tuy nhiên, New York thua 9–2 và Boston thắng 5–0, khiến phải tổ chức một trận đấu play-off duy nhất được tổ chức tại Fenway Park vào thứ Hai ngày 2 tháng 10.
Khoảnh khắc đáng nhớ nhất từ trận đấu là cú home run ba điểm của Bucky Dent ở hiệp thứ 7 trước Mike Torrez qua bức tường Green Monster, giúp Yankees lần đầu tiên dẫn trước.[62] Huấn luyện viên Don Zimmer của Boston chán nản, và đã đặt một biệt danh cho Dent mà vẫn còn sống mãi trong lịch sử thể thao Boston cho đến ngày nay, qua ba từ cảm thán khi quả bóng bay qua bức tường canh: "Bucky Fucking Dent!". Reggie Jackson đã ghi một home run solo ở hiệp thứ 8, điểm số quyết định trong chiến thắng 5–4 của Yankees, ấn định khi Yastrzemski đánh bóng bổng ra phần sân ngoài biên bị Graig Nettles bắt gọn ra out, bỏ phí Rick Burleson mang điểm số gỡ hòa ở chốt ba. Mặc dù Dent trở thành khắc tinh của mình, nhưng Red Sox cũng trả đũa vào năm 1990 khi Yankees sa thải Dent khỏi cương vị huấn luyện viên trong một loạt trận tại Fenway Park.[63]
World Series năm 1986 và ván đấu thứ sáu
[sửa | sửa mã nguồn]Carl Yastrzemski giải nghệ sau mùa giải năm 1983, mùa giải mà đội Red Sox đứng thứ sáu trong số bảy đội ở khu vực Đông AL, thành tích tệ nhất kể từ năm 1966.
Tuy nhiên, dường như vận mệnh của đội có vẻ như đã thay đổi vào năm 1986. Hàng công uy lực với Jim Rice, Dwight Evans, Don Baylor và Wade Boggs. Roger Clemens dẫn đầu giàn giao bóng, đạt thành tích 24–4 với ERA 2.48 và có một trận đấu ghi 20 strikeout [64] để giành cả giải Cy Young và Cầu thủ xuất sắc nhất AL, qua đó trở thành tay ném xuất phát đầu tiên giành cả hai giải thưởng kể từ Vida Blue năm 1971.[65] Mặc dù phải nghỉ thi đấu một tháng rưỡi giữa mùa giải vì chấn thương, tay ném thuận tay trái Bruce Hurst vẫn đạt thành tích 13–8, strikeout 167 lần và ném bốn trận không để lọt điểm. Các nhà báo thể thao Boston mùa giải đó đã so sánh Clemens và Hurst với song sát Don Drysdale và Sandy Koufax của Los Angeles Dodgers những năm 1960.
Đội Red Sox đã giành chức vô địch Đông AL lần đầu tiên sau 11 mùa giải và gặp California Angels tại chung kết American League (ALCS). Hai đội hòa 1 ván đều tại Boston, nhưng Angels đã thắng hai ván sân nhà tiếp theo, dẫn trước 3-1 trong loạt trận. Angels lúc này đang trên đà giành chiến thắng chung cuộc, còn Red Sox bị dẫn trước 5-2 khi bước vào hiệp thứ chín của ván đấu thứ 5. Một cú home run hai điểm của Baylor đã rút ngắn khoảng cách xuống còn một điểm. Với hai out và một chân chạy trên chốt, và cách việc bị loại một out, Dave Henderson đã đánh home run trước Donnie Moore để đưa Boston dẫn trước 6-5. Mặc dù Angels đã gỡ hòa ở cuối hiệp thứ chín, Red Sox đã giành chiến thắng ở hiệp thứ mười một nhờ cú bóng bổng hy sinh của Henderson trước Moore. Sau đó, Red Sox đã giành chiến thắng cách biệt tại sân Fenway Park trong ván đấu thứ 6 và 7 để giành chức vô địch AL.
Gặp một New York Mets được đánh giá cao hơn nhiều tại World Series 1986, Boston đã thắng hai ván đầu tiên tại Sân vận động Shea trước khi thua hai ván tiếp theo tại Fenway, khiến tỷ số loạt trận hòa 2-2. Sau khi Bruce Hurst giành chiến thắng thứ hai tại ván 5, Red Sox trở lại sân Shea với hy vọng giành chức vô địch đầu tiên sau 68 năm. Tuy nhiên, Ván 6 đã trở thành một trong những thất bại thảm hại nhất trong lịch sử câu lạc bộ. Sau khi ném bảy hiệp xuất sắc, Clemens phải bị thay ra khi tỷ số đang dẫn trước 3-2. Nhiều năm sau, huấn luyện viên John McNamara nói rằng Clemens bị phồng rộp và yêu cầu được thay ra, nhưng Clemens đã phủ nhận chuyện trên.[66] Sau đó, Mets ghi một điểm trước tay ném dự bị và cựu cầu thủ Mets Calvin Schiraldi để gỡ hòa tỷ số 3-3. Trận đấu bước vào hiệp phụ, nơi Red Sox dẫn trước 5-3 ở đầu hiệp thứ 10 nhờ cú home run solo của Henderson, cú hit đôi của Boggs và cú hit đơn đẩy về một điểm của chốt hai Marty Barrett.
Sau khi ghi được hai out ở hiệp thứ 10, chương trình tường thuật của NBC xuất hiện một đồ họa ghi nhận Barrett là Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu và Bruce Hurst là Cầu thủ xuất sắc nhất World Series. Thậm chí, bảng tỷ số tại sân vận động Shea cũng hiện dòng thông báo chúc mừng Red Sox trở thành nhà vô địch World Series. Sau nhiều năm thất vọng tột cùng, người hâm mộ Red Sox trên toàn thế giới cuối cùng cũng được nếm trải vinh quang. Khi thế bóng là hai ball và một strike, bắt bóng của Mets, Gary Carter, đã đánh một hit đơn, kế theo đó là các hit đơn của Kevin Mitchell và Ray Knight. Trong lượt đánh của Mookie Wilson, một cú ném bị xổng của Bob Stanley tạo điều kiện cho Mets gỡ hòa 5-5. Wilson sau đó đánh một cú bóng lăn chậm về phía chốt một; quả bóng lọt qua giữa hai chân của Bill Buckner, cho phép Knight ghi điểm giành chiến thắng từ chốt hai.
Nhiều người quan sát đã đặt câu hỏi vì sao Buckner lại có mặt trong trận đấu vào thời điểm đó khi xét đến việc đầu gối anh không được tốt và đã phải để Dave Stapleton vào sân thủ thay ở những hiệp cuối các trận đấu trước đó. Có vẻ như McNamara đã muốn tưởng thưởng cho Buckner vì sự nghiệp lâu dài và lừng lẫy của anh bằng cách để anh hoàn thành trận đấu. Sau khi bị dẫn trước 3–0, Mets sau đó đã thắng Ván 7, hoàn tất màn sụp đổ thảm khốc và củng cố niềm tin rằng đội Red Sox thực sự bị "nguyền rủa".[67]
1988–1991: Phép màu Morgan
[sửa | sửa mã nguồn]Đội Red Sox trở lại vòng play-off vào mùa giải 1918. Khi đội đứng thứ tư ở giữa mùa giải 1988 vào thời điểm nghỉ giữa mùa All-Star, huấn luyện viên John McNamara bị sa thải và Joe Morgan, người Walpole và là huấn luyện viên lâu năm ở các đội hạng dưới, lên thay thế vào ngày 15 tháng 7. Ngay lập tức, đội đã thắng 12 trận liên tiếp và 19 trong số 20 trận đấu, để vươn lên giành ngôi vô địch miền Đông AL trong cái gọi là "Phép màu Morgan" . Nhưng phép màu đó chỉ kéo dài trong thời gian ngắn, khi đội bị Oakland Athletics đánh bại không gỡ tại ALCS, với Cầu thủ xuất sắc nhất của loạt trận là cựu tay ném Red Sox sau này được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Dennis Eckersley, người đã cứu cả bốn trận thắng cho Oakland. Hai năm sau, vào năm 1990, Red Sox một lần nữa giành chức vô địch miền đông và đối đầu với Athletics tại ALCS. Tuy nhiên, kết cục vẫn như cũ khi họ bị A's vùi dập không gỡ trong bốn ván.
Năm 1990, người hâm mộ Yankees bắt đầu hô vang "1918!" để chế nhạo Red Sox[68], vang lên mỗi lần Red Sox tới làm khách tại Sân vận động Yankee.[69] Trong một diễn biến khác, sân nhà của Boston, Fenway Park trở thành nơi chứng kiến khoảnh khắc khắc tinh Bucky Dent chạm đáy ngay tại nơi làm nên khoảnh khắc đỉnh cao của ông năm 1978.[63] Vào tháng 6, sau khi Red Sox thắng Yankees không gỡ trong loạt bốn trận tại sân Fenway, Yankees đã lập tức sa thải Dent khỏi vị trí huấn luyện viên trưởng. Trong khi người hâm mộ Red Sox cảm thấy hả hê vì Dent bị sa thải trên sân nhà của họ, Yankees lại chỉ đang dùng ông làm vật tế thần.[63] Dan Shaughnessy của tờ The Boston Globe đã chỉ trích gay gắt chủ Yankees George Steinbrenner vì đã sa thải Dent ngay tại sân nhà của đại kình địch.[70] Ông nói rằng "nếu Dent bị sa thải ở Seattle hoặc Milwaukee, thì đây chỉ là một sự kiện khác trong chuỗi sa thải vô tận của George. Nhưng nó đã xảy ra ở Boston và bản tin tối đã có điểm nhấn của nó." [70] "Việc sa thải chỉ đặc biệt vì ...đây là lần đầu tiên một huấn luyện viên của Yankee—người mà Red Sox luôn coi là ác quỷ—bị bay ghế trên khu nghĩa địa cổ của người da đỏ ở Back Bay."[70][71]
1992–2001: Lên xuống thất thường
[sửa | sửa mã nguồn]Tom Yawkey qua đời năm 1976, và vợ ông Jean R. Yawkey đã tiếp quản đội bóng cho đến khi bà qua đời năm 1992. Chữ viết tắt của họ được hiển thị trên hai vạch trên bức tường cánh trái bằng mã Morse.[72] Sau khi bà Jean qua đời, quyền kiểm soát đội bóng được chuyển giao cho Quỹ tín thác Yawkey do John Harrington đứng đầu. Quỹ tín thác đã bán đội bóng vào năm 2002, kết thúc 70 năm sở hữu của gia đình Yawkey.
Năm 1994, Lou Gorman rời ghế giám đốc điều hành nhường chỗ cho Dan Duquette, một người gốc Massachusetts từng làm việc cho Montreal Expos. Duquette đã hồi sinh hệ thống đào tạo cầu thủ trẻ của đội, và trong nhiệm kỳ của ông, hệ thống này đã sản sinh ra những cầu thủ như Nomar Garciaparra, Carl Pavano và David Eckstein.[73] Duquette cũng chi tiền cho các cầu thủ tự do, tiêu biểu ý là hợp đồng 8 năm, trị giá 160 triệu đô la dành cho Manny Ramírez sau mùa giải năm 2000.
Năm 1995, Red Sox đã vô địch miền Đông American League (AL East) hậu tái cấu trúc, hơn Yankees 7 trận thắng. Tuy nhiên, họ đã bị Cleveland Indians đánh bại 3 ván không gỡ ở vòng bán kết AL (ALDS). Chuỗi trận thua liên tiếp của họ ở vòng playoff thời điểm đó đã kéo dài tới 13 trận, bắt đầu từ World Series năm 1986.
Roger Clemens đã cân bằng kỷ lục MLB của mình với việc ghi 20 strikeout trước Detroit Tigers vào ngày 18 tháng 9 năm 1996, trong một trong những lần ra sân cuối cùng của anh trong màu áo Red Sox. Sau khi Clemens bước sang tuổi 30 và trải qua bốn mùa giải, 1993–96, mà theo tiêu chuẩn của anh ấy chỉ ở mức trung bình, Duquette cho rằng cầu thủ giao bóng này đang bước vào "sườn dốc của sự nghiệp".[74] Clemens sau đó tiếp tục thi đấu xuất sắc trong mười năm nữa và giành thêm bốn giải Cy Young.
Trong bối cảnh không thể tranh chức vô địch năm 1997, đội đã chuyển tay ném kết liễu Heathcliff Slocumb sang Seattle để đổi lấy cầu thủ bắt bóng triển vọng Jason Varitek và tay ném thuận tay phải Derek Lowe. Trước khi mùa giải 1998 bắt đầu, Red Sox đã đẩy đi các cầu thủ giao bóng Tony Armas Jr. và Carl Pavano cho Montreal Expos để đổi lấy tay ném Pedro Martínez. Martínez trở thành trụ cột của đội hình giao bóng và đã có nhiều mùa giải xuất sắc. Năm 1998, đội đã giành được suất Wild Card của AL nhưng lại để thua Indians ở vòng bán kết (ALDS).
Năm 1999, Duquette gọi sân vận động Fenway Park là "lỗi thời về mặt kinh tế" và cùng với ban lãnh đạo đội Red Sox, ông đã vận động xây dựng một sân vận động mới. Trên sân cỏ, đội Red Sox cuối cùng vượt qua Cleveland Indians tại bán kết American League (ALDS). Cleveland ban đầu dẫn trước với tỷ số ván 2-0, nhưng Boston đã thắng ngược ba ván tiếp theo nhờ màn trình diễn xuất sắc của các tay ném Derek Lowe, Pedro và em trai Ramón Martínez. Chiến thắng 23-7 của Red Sox trong ván đấu thứ 4 là trận đấu có tỷ số cao nhất trong lịch sử vòng playoff MLB. Tại ván đấu thứ 5, khi Indians đang dẫn trước 5-2 sau hai hiệp, một Pedro Martínez đang bị chấn thương vai đã vào sân ở hiệp thứ tư và ném sáu hiệp không để đối phương ghi điểm nào, trong khi hàng công của đội đã vùng lên giành chiến thắng 12-8 nhờ hai cú home run và đẩy về bảy điểm của cầu thủ hậu vệ Troy O'Leary. Tuy nhiên sau đó Red Sox đã để thua Yankees tại loạt trận chung kết American League (ALCS) với tỷ số ván 4-1.
2002–nay: Kỷ nguyên John Henry
[sửa | sửa mã nguồn]2002–2003
[sửa | sửa mã nguồn]
Năm 2002, đội Red Sox được quỹ ủy thác của gia đình Yawkey và chủ tịch Harrington bán cho New England Sports Ventures, một tập đoàn do ông bầu John Henry đứng đầu. Tom Werner giữ chức chủ tịch điều hành, Larry Lucchino giữ chức chủ tịch kiêm giám đốc điều hành, và Les Otten giữ chức phó chủ tịch. Dan Duquette bị sa thải khỏi vị trí giám đốc điều hành vào ngày 28 tháng 2, và cựu tổng giám đốc của Angels, Mike Port, tiếp quản vị trí này cho mùa giải 2002. Một tuần sau, huấn luyện viên trưởng Joe Kerrigan bị sa thải và thay thế bởi Grady Little.
Mặc dù gần như tất cả các động thái chuyển nhượng đầu mùa giải đều được thực hiện dưới thời Duquette, bao gồm việc ký hợp đồng với hậu vệ Johnny Damon từ đội Oakland Athletics, trong đó ban lãnh đạo mới đã bổ sung thêm những cái tên như hậu vệ Cliff Floyd và tay ném cứu thua Alan Embree. Nomar Garciaparra, Manny Ramírez và Floyd đều thi đấu tốt, trong khi Pedro Martínez vẫn giữ phong độ xuất sắc như thường lệ. Derek Lowe, người mới được chuyển sang vị trí ném bóng chính, đã thắng 20 trận – trở thành cầu thủ đầu tiên có 20 lần cứu thua và 20 trận thắng trong hai mùa giải liên tiếp.
Sau khi không thể lọt vào vòng play-off, vị trí điều hành của Port được thay thế bởi Theo Epstein. Epstein tốt nghiệp Đại học Yale, lớn lên ở Brookline, Massachusetts, và chỉ mới 28 tuổi khi được bổ nhiệm, qua đó trở thành tổng giám đốc trẻ nhất trong lịch sử MLB.
Đội hình Red Sox năm 2003 được biết đến với biệt danh "Cowboy Up", biệt danh bắt nguồn từ câu khích lệ của chốt một Kevin Millar với các đồng đội của mình, yêu cầu họ thể hiện quyết tâm cao hơn.[75] Tại bán kết American League (ALDS) năm 2003, Red Sox đã lội ngược dòng từ thế bị dẫn trước 0–2 trước Athletics để chiến thắng chung cuộc trong năm ván 3-2. Sau đó, đội một lần nữa đối đầu với Yankees tại loạt trận chung kết Liên đoàn Mỹ năm 2003. Trong ván đấu thứ 7, Boston dẫn trước 5–2 ở hiệp thứ tám, nhưng Pedro Martínez đã để thủng ba điểm, và để Yankees gỡ hòa. Red Sox không thể ghi điểm trước Mariano Rivera trong ba hiệp cuối và cuối cùng thua trận đấu với tỷ số 6–5 khi chốt ba Aaron Boone của Yankees đánh một cú home run solo trước Tim Wakefield. Một số người đổ lỗi cho huấn luyện viên Grady Little[76] cho thất bại vì đã không thay người ném bóng xuất phát Martínez ở hiệp thứ 8 sau khi một số người tin rằng anh ta bắt đầu có dấu hiệu mệt mỏi. Epstein tuyên bố rằng quyết định không gia hạn hợp đồng với Little được "đưa ra dựa trên đánh giá công việc tổng thể... không phụ thuộc vào bất kỳ quyết định đơn lẻ trong bất kỳ trận đấu nào ở vòng loại trực tiếp."[77] Boston sau đó đã bổ nhiệm cựu huấn luyện viên của Philadelphia Phillies, Terry Francona làm HLV trưởng đội trong mùa giải 2004.
"Những tên ngốc": Vô địch World Series năm 2004
[sửa | sửa mã nguồn]
Trong kỳ chuyển nhượng 2003–04, đội Red Sox đã chiêu mộ thêm một tay ném xuất sắc là Curt Schilling, và một tay ném kết liễu là Keith Foulke. Do khó khăn giữa mùa giải vì các ca chấn thương, ban lãnh đạo đã có những thay đổi lớn trong đội hình vào hạn chót chuyển nhượng giữa mùa ngày 31 tháng 7, với việc tham gia một thương vụ bốn bên. Trong đó, Red Sox đã đẩy ngôi chặn ngắn thường xuyên chấn thương Nomar Garciaparra và hậu vệ Matt Murton sang Chicago Cubs, và nhận chốt một Doug Mientkiewicz từ đội Minnesota Twins, và chặn ngắn Orlando Cabrera từ Montreal Expos. Trong một thương vụ khác, Red Sox đã chiêu mộ trung vệ Dave Roberts từ đội Los Angeles Dodgers. Sau các thương vụ trên, câu lạc bộ đã thắng 22 trong số 25 trận và giành quyền vào vòng play-off với tư cách là đội Wild Card của giải AL. Người hâm mộ đã trìu mến gọi lứa cầu thủ này (cũng như chính họ tự gọi mình) là "những tên ngốc", một thuật ngữ do Damon và Millar đặt ra trong giai đoạn tranh suất playoff để mô tả đội hình đa dạng cá tính và thái độ bất cần đời trước "lời nguyền" ám lên họ.
Boston khởi đầu vòng play-off bằng cách vùi dập không gỡ nhà vô địch bảng miền Tây AL Anaheim Angels ở vòng bán kết (ALDS). Trong đó, David Ortiz đã đánh cú home run hai điểm giành ngay chiến thắng ván ba và chung cuộc ở hiệp thứ 10, qua đó tiến vào tái đấu với Yankees tại Chung kết American League (ALCS). Red Sox khởi đầu loạt trận rất tệ, khi thua cả ba ván đầu tiên (bao gồm trận thua thảm hại 19-8 trên sân nhà ở ván 3). Ở ván thứ 4, Red Sox đứng trước nguy cơ bị loại khi bị dẫn trước 4-3 ở hiệp thứ chín khi huyền thoại ném kết liễu Mariano Rivera vào sân để kết thúc trận đấu cho Yankees. Sau khi Rivera để Millar có walk, Roberts vào sân chạy thay và nhanh chóng cướp được chốt hai. Sau đó, anh ghi điểm nhờ cú hit đơn RBI của Bill Mueller để đưa trận đấu vào hiệp phụ. Red Sox giành chiến thắng trận đấu sau đó với tỷ số 6-4 nhờ cú home run hai điểm của Ortiz ở hiệp thứ 12. Mặc dù cơ hội thắng chung cuộc của Sox vẫn rất thấp, nhưng Ortiz cũng đã thực hiện cú hit giành ngay chiến thắng ở hiệp thứ 14 của ván thứ 5. Cuộc lội ngược dòng tiếp tục với một Schilling lĩnh xướng trên bục ném tại ván thứ 6. Schilling đã giành chiến thắng cùng hình ảnh biểu tượng là chiếc tất lót dính máu, khi ba mũi khâu cố định gân ở mắt cá chân phải anh đã chảy máu suốt trận đấu. Nhờ đó, Boston trở thành đội đầu tiên trong lịch sử MLB buộc loạt trận tới ván 7 quyết định sau khi bị dẫn 3-0. Tại đây, Red Sox đã hoàn thành cuộc lội ngược dòng lịch sử với chiến thắng 10-3 trước Yankees. Ortiz mở tỷ số với cú home run hai điểm. Cùng với những điểm đánh về trực tiếp giành chiến thắng trong ván 4 và 5, anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất loạt trận ALCS. Qua đó, Red Sox đã cùng với Toronto Maple Leafs mùa 1941-42 và New York Islanders mùa 1974-75 trở thành các đội thể thao chuyên nghiệp duy nhất ở Bắc Mỹ từng giành chiến thắng chung cuộc một loạt trận bảy ván sau khi bị dẫn trước 3-0, trước khi Philadelphia Flyers mùa 2009-10 và Los Angeles Kings mùa 2013-14 lập được kỳ tích tương tự.
Boston Red Sox sau đó đã vùi dập đội St. Louis Cardinals không gỡ tại World Series năm 2004. Red Sox đã không để bị dẫn trước trong suốt loạt trận; Mark Bellhorn đã ghi cú home run quyết định chiến thắng trúng cột Pesky ở ván 1, và Schilling giành thêm một chiến thắng rớm máu ở ván 2, nối tiếp là những màn trình diễn xuất sắc tương tự của Martinez và Derek Lowe để giành chức vô địch đầu tiên của Red Sox sau 86 năm. Manny Ramírez được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất World Series (MVP). Một điểm nhấn kỳ lạ cuối cùng cho mùa giải vô địch của Boston là vào đêm diễn ra ván 4, hiện tượng nguyệt thực toàn phần đã nhuộm đỏ mặt trăng trên sân vận động Busch. Red Sox đã nhận được nhiều khen ngợi từ truyền thông thể thao và dư luận toàn quốc vì mùa giải này, như vào tháng 12, khi tạp chí Sports Illustrated vinh danh tập thể Boston Red Sox là Vận động viên xuất sắc nhất năm 2004.
2007: Vô địch World Series
[sửa | sửa mã nguồn]
Mùa giải 2005, ngôi vô địch AL East được quyết định vào cuối tuần cuối mùa giải, với Yankees làm khách tại Fenway Park với lợi thế dẫn trước một trận trên bảng xếp hạng. Red Sox thắng hai trong ba trận để kết thúc mùa giải đồng thành tích như Yankees, 95–67. Tuy nhiên, Yankees đã giành chức vô địch miền do hơn thành tích đối đầu, và Red Sox vào vòng play-off từ vòng wild card. Tại bán kết, Boston đã chính thức trở thành cựu vương khi để thua ba ván không gỡ trước Chicago White Sox, đội sau đó đã vô địch World Series 2005. Năm 2006, David Ortiz đã phá kỷ lục CLB của Jimmie Foxx số home run ghi được trong một mùa giải với 54 lần. Tuy nhiên, Boston đã không thể vào vòng play-off sau khi có thành tích 9–21 trong tháng 8 do tình trạng chấn thương trong đội hình.
Bước đi đầu tiên của Theo Epstein trong việc củng cố đội hình cho năm 2007 là theo đuổi một trong những thương vụ được mong đợi nhất trong lịch sử bóng chày. Vào ngày 14 tháng 11, MLB thông báo rằng Boston đã thắng quyền đàm phán hợp đồng với ngôi sao giao bóng của giải chuyên nghiệp Nhật Bản (NPB), Matsuzaka Daisuke. Boston đã đưa ra mức giá thầu 51,1 triệu đô la để đàm phán với Matsuzaka và ký hợp đồng 6 năm, trị giá 52 triệu đô la với anh sau khi được công bố thắng thầu.
Đến giữa tháng Tư, đội Red Sox đã vươn lên dẫn đầu miền Đông AL và giữ vững vị trí đó cho đến hết mùa giải. Bất chấp việc chốt hai tân binh Dustin Pedroia thi đấu không tốt ở đầu mùa với tỷ lệ đánh bóng dưới .200 trong tháng Tư, HLV Terry Francona đã không đẩy anh về dự bị và sự kiên nhẫn của ông đã được đền đáp khi Pedroia cuối cùng giành giải Tân binh xuất sắc nhất năm của AL nhờ màn trình diễn ấn tượng bao gồm 165 cú hit và tỷ lệ đánh bóng .317. Trên mặt trận giao bóng, Josh Beckett nổi lên như át chủ bài trong mùa giải đầu tiên đạt 20 trận thắng, trong khi các giao bóng xuất phát khác như Schilling, Matsuzaka, Wakefield và Julián Tavárez đều có phogn độ thất thường. Tay ném tiếp sức Okajima Hideki, một tân binh khác từ NPB, đạt chỉ số ERA 0.88 trong nửa đầu mùa giải và được chọn vào đội hình All-Star. Okajima kết thúc mùa giải với chỉ số ERA 2.22 và 5 lần cứu thắng, trở thành một trong những tay ném tiếp sức hàng đầu tại MLB. Tay ném vừa được đôn lên đội một Clay Buchholz đã tỏa sáng vào ngày 1 tháng 9 với một trận đấu no-hit ghi được trong lần ra sân chính thức thứ hai trong sự nghiệp. Đội Red Sox đã giành được chức vô địch miền Đông AL đầu tiên kể từ năm 1995.
Ở vòng ALDS, đội Red Sox đã vùi dập ba ván không gỡ trước Angels. Đối đầu với Cleveland Indians ở vòng ALCS, Red Sox đã thua ở các ván 2, 3 và 4 trước khi Beckett giành chiến thắng thứ hai trong loạt trận ở ván 5, đánh dấu khởi đầu cuộc lội ngược dòng. Red Sox đã giành chức vô địch American League thứ mười hai với ghi nhiều điểm hơn Indians với tỷ số 30–5 trong ba ván thắng cuối cùng. Trước đội Colorado Rockies tại World Series năm 2007, Red Sox đã không gặp quá nhiều khó khăn khi vùi dập Rockies trong bốn ván để đem về chức vô địch thứ hai trong vòng bốn năm. Trong đó, một Jon Lester mới hồi phục chấn thương đã không để đối phương ghi điểm trong 5+2⁄3 hiệp ném tại ván 4, và chốt ba Mike Lowell cùng với của tay đánh dự bị Bobby Kielty đã có những cú home run quan trọng ở cuối trận để giành chiến thắng chung cuộc. Lowell được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất World Series.
Các cá nhân nổi bật
[sửa | sửa mã nguồn]Giải thưởng
[sửa | sửa mã nguồn]Đối với các giải thưởng lớn của MLB, do Hiệp hội Nhà báo Bóng chày Hoa Kỳ (BBWAA) bình chọn, các cầu thủ của Red Sox đã giành được giải Cầu thủ xuất sắc nhất (MVP) 12 lần, với lần gần đây nhất là Mookie Betts vào năm 2018; giải Cy Young 7 lần, gần đây nhất thuộc về Rick Porcello vào năm 2016; giải Tân binh của năm 6 lần, gần đây nhất thuộc về Dustin Pedroia vào năm 2007; và giải Huấn luyện viên trưởng xuất sắc nhất 2 lần, với lần gần đây nhất là Jimy Williams vào năm 1999.
Số áo đã treo
[sửa | sửa mã nguồn]
|
Trước đây, Red Sox đã đưa ra ba yêu cầu chính thức để một cầu thủ được treo số áo trên trang web và trong cẩm nang truyền thông hàng năm của họ như sau:[78]
- Được bầu vào Đại sảnh Danh vọng Bóng chày Quốc gia.
- Thi đấu ít nhất 10 năm cho đội Red Sox.
- Kết thúc sự nghiệp của mình tại câu lạc bộ.
Những yêu cầu này đã được xem xét lại sau khi Carlton Fisk, người đã chơi nửa sau sự nghiệp của mình cho Chicago White Sox, được bầu vào Đại sảnh Danh vọng năm 2000. Để đáp ứng các tiêu chí, Tổng giám đốc lúc đó là Dan Duquette đã bổ nhiệm Fisk làm trợ lý đặc biệt trong một ngày, qua đó giúp Fisk đáp ứng điều kiện kết thúc sự nghiệp của mình với Red Sox.[79]
Năm 2008, đội Red Sox đã thiết lập "ngoại lệ" khi treo vĩnh viễn số áo 6 để vinh danh Johnny Pesky. Pesky không hề có 10 năm thi đấu chuyên nghiệp cũng như không được bầu vào Đại sảnh Danh vọng Bóng chày; tuy nhiên, ban lãnh đạo Red Sox đã tuyên bố "... những đóng góp về nhiều mặt của ông ấy cho câu lạc bộ — trong sân, ngoài sân, [và] trên cương vị huấn luyện...", bao gồm cả vai trò huấn luyện viên trưởng, tuyển trạch viên và huấn luyện viên đặc biệt làm cơ sở xứng đáng cho việc được treo số.[80] Pesky đã gắn bó 57 năm với CLB Red Sox từ một cầu thủ hạng dưới (1940–1941), cầu thủ đội một (1942, 1946–1952), HLV đội dự bị (1961–1962, 1990), HLV trưởng đội một (1963–1964, 1980), bình luận viên (1969–1974), huấn luyện viên đội một (1975–1984), và huấn luyện viên đặc biệt kiêm trợ lý giám đốc điều hành (1985–2012). Sau khi Pesky qua đời vào năm 2012, tất cả cầu thủ và ban huấn luyện mặc đồng phục của Red Sox đều mặc số 6 trong trận đấu vào ngày 21 tháng 8.[81]
Tại Đại sảnh Danh vọng Bóng chày Quốc gia
[sửa | sửa mã nguồn]
- Cầu thủ và huấn luyện viên được in đậm được tạc chân dung tại Đại sảnh với mũ mang phù hiệu của Red Sox.
- * Boston Red Sox được liệt là đội chính của các cá nhân này trên trang web Đại sảnh Danh vọng
Sảnh danh vọng Boston Red Sox
[sửa | sửa mã nguồn]
Từ năm 1995, đội bóng đã thành lập và vận hành sảnh danh vọng riêng để vinh danh thành tựu sự nghiệp của các cựu thành viên, cả trong và ngoài sân. Các thành viên của Red Sox được vinh danh vào Đại sảnh Danh vọng Bóng chày Quốc gia sẽ tự động được vinh danh vào sảnh danh vọng của đội. Những người được vinh danh khác được lựa chọn bởi một ủy ban tuyển chọn gồm 15 thành viên.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Shaughnessy 2005, tr. 21
- ↑ Frommer & Frommer 2004, tr. 78
- ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "UltimateRivalry" - ↑ "Moguls Issue A Statement". The Courier-Journal. Louisville, Kentucky. ngày 28 tháng 1 năm 1901. tr. 6. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Name Changed". The Buffalo Times. ngày 12 tháng 10 năm 1899. tr. 10. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Johnson Talks About His Plans". The Brooklyn Citizen. ngày 28 tháng 1 năm 1901. tr. 5. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Ponies Are Out; Buffalo Is In". Democrat and Chronicle. Rochester, New York. ngày 1 tháng 2 năm 1901. tr. 13. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Three Leagues Baseball Plans". The Journal. Meriden, Connecticut. ngày 11 tháng 2 năm 1901. tr. 4. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Tame Finish To An Exciting Game". Boston Post. ngày 27 tháng 9 năm 1901. tr. 3. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "American League Results". The Boston Globe. ngày 30 tháng 9 năm 1902. tr. 5. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- 1 2 "Killilea Owns Boston Club". Chicago Tribune. ngày 29 tháng 1 năm 1902. tr. 6. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- 1 2 "The Boston Americans Clinch Championship". Pittsburgh Weekly Gazette. ngày 18 tháng 9 năm 1903. tr. 9. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Cy Young Statistics". Baseball-Reference.com. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025.
- ↑ "Base Ball Notes". Evening star. Washington, District of Columbia. ngày 18 tháng 9 năm 1903. tr. 9. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Base Ball Aftermath". News Journal. Mansfield, Ohio. ngày 17 tháng 10 năm 1901. tr. 3. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- 1 2 "Boston Americans Are The Champions Of The World". The Boston Globe. ngày 14 tháng 10 năm 1903. tr. 1. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Champions of the World". The Boston Globe. ngày 14 tháng 10 năm 1903. tr. 5. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Today's Globe Contents". The Boston Globe. ngày 19 tháng 4 năm 1904. tr. 1. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Boston Americans Sold". The Burlington Free Press. ngày 19 tháng 4 năm 1904. tr. 3. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Today's Globe Contents". The Boston Globe. ngày 6 tháng 10 năm 1904. tr. 1. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Boston Trades With Griffith". Chicago Tribune. ngày 18 tháng 6 năm 1904. tr. 10. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Greatest Race of All". The Washington Post. ngày 10 tháng 10 năm 1904. tr. 8. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Bostons Again Champions Of National Game". The Inter Ocean. Chicago, Illinois. ngày 11 tháng 10 năm 1904. tr. 4. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Giants Won't Play". Elmira Star-Gazette. ngày 27 tháng 9 năm 1904. tr. 3. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "National League Practically Forced To Post Season Series". Herald and Review. Decatur, Illinois. ngày 18 tháng 12 năm 1904. tr. 8. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Big Leagues to Meet". The Washington Post. ngày 13 tháng 2 năm 1905. tr. 15. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Base Ball Season Closed". The Tennessean. Nashville, Tennessee. ngày 8 tháng 10 năm 1906. tr. 7. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "To Be Known As "Red Sox"". The Boston Globe. ngày 19 tháng 12 năm 1907. tr. 4. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Rigler Praises Speaker". The York Dispatch. ngày 18 tháng 11 năm 1909. tr. 5. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Americans Finish Up". The Boston Globe. ngày 4 tháng 10 năm 1909. tr. 5. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Pennants Are Won By Large Margins". The Tampa Tribune. ngày 7 tháng 10 năm 1912. tr. 4. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ Pence, Owen (ngày 25 tháng 9 năm 2018). "Sox set franchise wins record". The Boston Globe. tr. D5. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ Caldera, Pete (ngày 1 tháng 10 năm 2018). "Voit's power surge continues in Yankees' regular-season finale". The Record. Hackensack, New Jersey. tr. S7. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ Grillo, J. Ed (ngày 17 tháng 10 năm 1912). "Yesterday's Game Marked End of Most Poorly Played World's Series". Evening star. Washington, District of Columbia. tr. 18. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Ban Johnson Swings Big Deal For Boston Red Sox". Evening star. Washington, District of Columbia. ngày 1 tháng 12 năm 1913. tr. 15. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "New Owners Of Red Sox Talk With Johnson". Quad-City Times. Davenport, Iowa. ngày 30 tháng 11 năm 1916. tr. 10. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "3 More Orioles Sold". The Baltimore Sun. ngày 10 tháng 7 năm 1914. tr. 5. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "League Finals". The News Journal. Wilmington, Delaware. ngày 8 tháng 10 năm 1915. tr. 18. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ Ryder, Jack (ngày 14 tháng 10 năm 1915). "Red Sox Win World's Title". The Cincinnati Enquirer. tr. 1. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Star Outfielder Of Red Sox Sells For Record Price". Fort Worth Star-Telegram. United Press. ngày 9 tháng 4 năm 1916. tr. 15. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ Sanborn, I.E. (ngày 13 tháng 10 năm 1916). "Shore Leads Red Sox To World Title, 4-1". Chicago Tribune. tr. 11. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ O'Malley, Nick (ngày 26 tháng 12 năm 2019). "Babe Ruth was sold by Red Sox to Yankees 100 years ago this day". masslive (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2021.
- ↑ "Red Sox Sell Ruth For $100,000 Cash". The Boston Globe. ngày 6 tháng 1 năm 1920. tr. 1. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Year-by-Year League Leaders & Records for Home Runs". Baseball-Reference.com. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ↑ "Leading Events of the World of Sports in 1919". St. Louis Globe-Democrat. ngày 28 tháng 12 năm 1919. tr. 12. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- 1 2 3 4 Montville, Leigh (2006). The Big Bam: The Life and Times of Babe Ruth. Random House. tr. 161–64.
- ↑ Shaughnessy 2005, tr. 21.
- 1 2 "Red Sox Bring Over Million". Fall River Globe. ngày 12 tháng 7 năm 1923. tr. 16. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ Lamb, Al (ngày 15 tháng 10 năm 1931). "Spinning the Sports Top". Press and Sun-Bulletin. Binghamton, New York. tr. 28. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- 1 2 Ballou, Bill (ngày 5 tháng 3 năm 2021). "Worcester Red Sox roots run deep in minor league baseball history". Worcester Telegram (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2021.
- ↑ Shaughnessy, Dan (ngày 18 tháng 8 năm 2020). "Two out of three ain't bad (but Sox are)". The Boston Globe. tr. C4. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Simmons Wins Crown Second Year Straight". Stevens Point Journal. Associated Press. ngày 3 tháng 10 năm 1931. tr. 5. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- 1 2 "Yawkey, Collins Buy the Red Sox". The New York Times (bằng tiếng Anh). Associated Press. ngày 26 tháng 2 năm 1933. tr. S-1. ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2021.
- ↑ "Red Sox Buy Brown, A Pitcher And Catcher Ferrell From Browns". The Burlington Free Press. Associated Press. ngày 10 tháng 5 năm 1933. tr. 11. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ Weekes, William (ngày 13 tháng 12 năm 1933). "Mickey Selected Detroit Manager". The Tampa Times. Associated Press. tr. 9. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Jimmy Foxx, Slugging First Sacker Of Red Sox, To Get About $25,000 For Season". The Greenville News. Associated Press. ngày 9 tháng 1 năm 1936. tr. 11. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ O'Leary, James (ngày 2 tháng 10 năm 1938). "Jimmie Foxx reaches 50 homers at Fenway". The Boston Globe (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2021.
- ↑ Christensen, Joe (ngày 22 tháng 9 năm 2006). "Twins remain half-game back". Argus-Leader. Sioux Falls, South Dakota. tr. C1. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Foxx, Greenberg Drive In Most Runs In League". The Courier-Journal. Louisville, Kentucky. United Press. ngày 31 tháng 12 năm 1938. tr. 13. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025 – qua Newspapers.com.
- ↑ "Ted Williams Statistics". Baseball-Reference.com. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ↑ "Carl Yastrzemski Statistics". Baseball-Reference.com. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2008.
- ↑ Shaughnessy 1990
- 1 2 3 Cafardo, Nick (ngày 7 tháng 6 năm 1990). "Dent Dumped by Yankees". The Boston Globe. tr. 37. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2011.
- ↑ Baseball-Reference.com. "Roger Clemens Statistics — Baseball-Reference.com". Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2008.
- ↑ "Most Valuable Player MVP Awards & Cy Young Awards Winners –". Baseball-Reference.com. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ↑ "ESPN: Page 2: Is Clemens the Antichrist?". ESPN.
- ↑ Vecsey, George (ngày 28 tháng 10 năm 1986). "SPORTS OF THE TIMES; Babe Ruth Curse Strikes Again". The New York Times. tr. D33.
- ↑ Maske, Mark (ngày 25 tháng 9 năm 1990). "Pennant Chases in East Still Flying High, West All but Flagged". The Washington Post. tr. E3.
Yankees fans had taunted the Red Sox all weekend with chants of '1918, 1918!'—the last time Boston won the World Series—and the Red Sox are not allowed by long-suffering New Englanders to forget the pain they have wrought with years of excruciating near misses.
- ↑ Shaughnessy 2005
- 1 2 3 Shaughnessy, Dan (ngày 7 tháng 6 năm 1990). "His Back Was Against the Wall". The Boston Globe. tr. 37.
- ↑ Pennington, Bill (2019). Chumps to Champs: How the Worst Teams in Yankees History Led to the '90s Dynasty. Boston: Houghton Mifflin Harcourt. tr. 32. ISBN 9781328849854.
- ↑ "The Official Site of The Boston Red Sox: Ballpark: Fenway Facts". Boston Red Sox. MLB. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ↑ "David Eckstein Statistics —". Baseball-Reference.com. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ↑ "Clemens putting Cooperstown on hold". ESPN.com. ngày 4 tháng 8 năm 2005.
- ↑ Kahn, Joseph P. (ngày 24 tháng 9 năm 2003). "Rallying Cry Spurs Sox To Finish Ride". The Boston Globe. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2003.
- ↑ Edes, Gordon (ngày 23 tháng 10 năm 2003). "Boston Globe, Little unsure he wants job". The Boston Globe.
- ↑ Lindbergh, Ben (ngày 16 tháng 10 năm 2018). "Revisiting the Grady Little Game, 15 Years Later". The Ringer.
- ↑ 2014 Boston Red Sox Media Guide (PDF). 2014. tr. 416. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.
- ↑ Grossman, Leigh (2001). The Red Sox Fan Handbook. Swordsmith Books. tr. 208. ISBN 1-931013-03-9.
- ↑ Vega, Michael (ngày 24 tháng 9 năm 2008). "Pesky makes honor roll". The Boston Globe.[liên kết hỏng]
- ↑ "Red Sox honor Oregon native Johnny Pesky with No. 6 uniforms". oregonlive (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2026.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Website chính thức (Di động)
- Boston Red Sox Lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2007 tại Wayback Machine at MLB.com
- Season-by-Season Records
- Boston Red Sox Video Lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2008 tại Wayback Machine at ESPN Video Archive
- 2004 World Series win Lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2014 tại Wayback Machine in the Newseum archive of front page images from 2004-10-28.