Cô dâu chiến tranh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Cô dâu chiến tranh là một thuật ngữ dùng để chỉ những phụ nữ nước ngoài cưới các quân nhân trong thời kỳ chiến tranh khi các quân nhân này đóng quân và chiếm giữ các nước khác. Khái niệm này chủ yếu dùng trong Thế chiến IThế chiến II.

Một trong những hiện tượng cô dâu chiến tranh lớn nhất và được mô tả kỹ càng nhất là việc các quân nhân Mỹ kết hôn với các cô dâu Đức ("Fräuleins") sau Thế chiến II. Năm 1949, hơn 20.000 cô dâu chiến tranh người Đức đã di cư đến Hoa Kỳ.[1] Hơn nữa, người ta ước tính rằng có "... 15.000 phụ nữ Úc đã kết hôn với các lính Mỹ đóng quân tại Úc trong Thế chiến II và chuyển đến Mỹ để ở với chồng".[2] Quân lính phe Đồng Minh cũng lập gia đình với nhiều phụ nữ ở các nước mà họ đóng quân vào cuối cuộc chiến, bao gồm Pháp, Ý,[3] Luxembourg, PhilippinesNhật Bản. Các cuộc hôn nhân tương tự cũng diễn ra ở Triều TiênViệt Nam, riêng tại Việt Nam các cô gái Việt kết hôn với binh lính Pháp, Mỹ và các nước khác cử quân đến tham chiến ở đây (Hàn Quốc, Úc). Có đến 100.000 cô dâu chiến tranh đã tới Mỹ từ Vương quốc Anh, 150.000 đến 200.000 đến từ lục địa châu Âu, 15.500 từ Úc và 1500 từ New Zealand, trong khoảng thời gian giữa những năm 1942 và 1952.[4]

Năm 2008 Bảo tàng Royal British Columbia tại Victoria, B.C., Canada, đã có triển lãm tranh lớn của nghệ sĩ Bev Tosh người Calgary.[5] Cuộc triển lãm kể lại những kinh nghiệm của cô dâu chiến tranh ở Canada và New Zealand thông qua hội họa.

Số lượng lớn người Scotland nhập cư vào Mỹ với tư cách cô dâu chiến tranh đã được vinh danh trong phim truyền hình Lobey Dosser của Bud Neill với nhân vật cô dâu G.I. Bride (cùng với đứa con tên Ned), Bức tượng hai nhân vật này đã được dựng lên ở nhà ga Partick năm 2011.[6]

Chiến tranh Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

6423 phụ nữ Hàn Quốc kết hôn với nhân viên quân sự của Hoa Kỳ như cô dâu chiến tranh trong và ngay sau chiến tranh Triều Tiên.[7]

Chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

8.040 phụ nữ Việt Nam đến Hoa Kỳ với tư cách cô dâu chiến tranh giữa các năm 1964 và 1975 trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam.[8]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The Atlantic Times:: Archive”. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  2. ^ Mitchell, Peter (ngày 26 tháng 4 năm 2007). “Aussie brides reunite”. The Daily Telegraph (Australia). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2008. 
  3. ^ Francesco Conversano; Nené Grignaffini. “Italiani: spose di guerra. Storie d`amore e di emigrazione della seconda guerra mondiale”. RAI Storia (bằng tiếng Italy). 
  4. ^ http://www.americainwwii.com/stories/warbrides.htm
  5. ^ “Royal BC Museum”. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2008. 
  6. ^ “Home at last! - Corporate Information - Strathclyde Partnership for Transport”. SPT. Ngày 1 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2016. 
  7. ^ Eui-Young Yu and Earl H. Phillips, Korean women in transition: at home and abroad, Center for Korean-American and Korean Studies, California State University, Los Angeles, 1987, p185.
  8. ^ Linda Trinh Võ and Marian Sciachitano, Asian American women: the Frontiers reader, University of Nebraska Press, 2004, p144.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Madama Butterfly, vở opera năm 1904 của Giacomo Puccini

Sách tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lonnie D. Story. The Meeting of Anni Adams: The Butterfly of Luxembourg. ISBN 1932124268. 
  • Carol Fallows. Love & War: stories of war brides from the Great War to Vietnam. ISBN 1863252673. 
  • Keiko Tamura. “Michi's memories: the story of a Japanese war bride”. ISBN 1740760018. 
  • GI Brides - sách phi hư cấu kể về các cô dâu chiến tranh người Anh thời Thế chiến II

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • War Brides, - phim câm năm 1916 của Herbert Brenon với diễn viên Alla Nazimova
  • I Was a Male War Bride, Screwball comedy film với diễn viên Cary Grant đóng vai ông chồng chiến tranh.
  • Japanese War Bride - 1952 Film của King Vidor với các diễn viên Shirley Yamaguchi và Don Taylor.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]